NGHỀ
ĐƯƠN ĐỆM Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI
Lê Công Lý
I. CÂY
BÀNG VỚI NGHỀ ĐƯƠN ĐỆM Ở
ĐỒNG THÁP MƯỜI
Đồng Tháp Mười là một
tiểu vùng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích khoảng
700 ngàn ha, được giới hạn đại khái
bởi sông Tiền, sông Vàm Cỏ Đông và biên giới
Việt Nam – Campuchia, bao gồm một phần diện tích
các tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp. Nhìn chung
địa hình Đồng Tháp Mười là một lòng
chảo, rải rác có các giồng đất cao ráo dọc
theo Quốc lộ 1 và sông Tiền. Chính địa hình
trũng ấy tạo môi trường sinh thái thuận
lợi cho các loại cây hoang dại, mà chủ yếu là
tràm và năn lác vốn thích
hợp với vùng đất nhiêm phèn nặng như
Đồng Tháp Mười.
Năn lác là tên gọi chung của một
nhóm cây cùng họ như: năn, lác, đưng, bàng… Trong
số đó thì cây bàng có đóng góp nhiều nhất cho
đời sống con người.
Có thể nói, cây bàng là một trong những
loài cây chủ đạo ở Đồng Tháp Mười
thuở còn hoang vu. Chính vì thế mà trong các tài liệu cũ
của người Pháp, Đồng Tháp Mười
được gọi là “Plaine des Joncs”, tức “
Đồng cỏ lác” mà Nguyễn
Đình Đầu cho rằng để đúng
thực với địa lý đương thời thì nên
dịch là “Đồng Cỏ Bàng”([1]).
Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cũng
ghi nhận rằng thuở hoang sơ, từ ngọn
Rạch Chanh (thị xã Tân An – tỉnh Long An) đến gò
Tháp Mười có rất nhiều loại cây “không tâm
bồ, tục danh cỏ bàng mọc lan tràn”.
Theo Phạm Hoàng Hộ thì cây bàng có tên khoa
học là Lepironia articulata và được miêu tả
như sau: “Căn hành (thân dưới) cứng nằm
trong bùn, to 8-10 mm;
thân đứng cao khoảng 1m, có ngấn ngang, đáy có 3-4
bẹ, bao cao 15-20 cm.
Gié hoa ở chót thân, cao 1,5 -
2 cm, rộng đến
1cm. Bế quả (trái) cao 3 – 4 mm.Vòi nhuỵ chẻ
hai. Thông thường mọc ở vùng trũng phèn như
ở Đồng Tháp, Hà Tiên. Ra bông quanh năm”([2]).
Định
nghĩa khoa học thì phức tạp, nhưng thực
tế cây bàng rất dễ nhận
diện: đó là loại cây thân cỏ, rễ chùm,
giống như năn nhưng thân to cao và chắc hơn,
ruột rỗng, có hoa khép kín ngọn khoảng cách
đỉnh vài cm.
Cây
bàng có thể làm rất nhiều việc, từ chất
đốt đến làm lạt (để buộc) hay
lợp nhà (vì thế có địa danh Nhà Bàng). Củ bàng có
thể ăn thay cơm những khi đói kém:
Hỏi
ai còn nhớ Bảy Ngàn
Củ co ăn với củ bàng thế cơm.
(Ca dao)
Tuy nhiên, cây bàng chủ yếu dùng để
đươn([3])
đệm. “Đươn đệm” là từ dùng
để chỉ nghề đươn nói chung có sử
dụng nguyên liệu bàng. Nhờ nguồn nguyên liệu
phong phú nên đươn đệm sớm trở thành
nghề phổ biến ở Đồng Tháp Mười và
các khu vực lân cận như Tây Ninh, An Giang, Gia Định
(tức Sài Gòn sau này)([4]).
Nhưng nghề đươn đệm
có từ bao giờ thì không ai
biết, cũng không hề có tổ nghề như
những nghề khác. “Cùng nghề đươn thúng,
túng nghề đươn me ([5])”
(Tục ngữ). Đươn đệm quả là
cái nghề bạc bẽo của những con người
bần cùng. Mà dân nghèo thì đầu óc rất thực
tế, ít khi chú ý đến lý thuyết, đến
lịch sử xa xôi. Sống ở vùng “nê địa”
khắc nghiệt, họ chỉ còn biết đối phó
với bao trở ngại trước mắt, không còn thì
giờ để nghĩ đến những chuyện sâu
xa khác.
Thế nhưng, dựa vào một số
tư liệu cũ ta cũng có thể nhận ra cái
lịch sử lâu đời của nghề đươn
đệm.
Vương Hồng Sển có ghi: “Đất
phèn… không trồng lúa được, để cho cây bàng
cây đưng mọc…, bàng loại như lác nhưng thô
xấu hơn, củ ăn thế cơm được,
lá dùng đươn đệm, đươn bao gọi
là đệm bàng, bao bàng, giúp cho đàn bà con trẻ vào mùa
nghỉ việc ruộng bắt qua đươn đát
đắp đổi hột cơm”([6]).
Và người dân Đồng Tháp
Mười đến giờ vẫn còn truyền miệng
câu ca dao:
Bàu Gõ trên cỏ dưới bưng
Nhổ bàng đươn đệm em
đừng đi đâu.
Căn cứ vào các cứ liệu nói trên, có
thể ức đoán rằng nghề đươn
đệm có từ rất sớm, ít nhất là từ khi
lưu dân người Việt đặt chân đến
Đồng Tháp Mười (khoảng cuối thế
kỉ XVII), khi mà Đồng Tháp Mười còn hoang vu
mờ mịt.
Một số người dựa vào các
từ như “cà-ròn”, “nóp” (vốn là từ gốc Khmer dùng
để chỉ các sản phẩm của nghề
đươn đệm) để khẳng định
rằng người Việt đã kế thừa nghề
này từ người Khmer vốn là cư dân bản
địa. Nếu quả thật như vậy thì
nghề đươn đệm còn có lịch sử sâu xa
hơn nhiều.
Nghề đươn đệm phân
bố rải rác khắp Đồng Tháp Mười,
nhưng tập trung nhất là khu vực thuôc hai huyện
Tân Phước (Tiền Giang) và Thủ Thừa (Long An) ngày
nay. Bởi lẽ địa hình vùng này vốn ngập
nước quanh năm([7]),
rất phù hợp cho cây bàng phát triển. Theo cuốn État
civil indigène (Bộ đời người bổn
quốc), hiểu là sổ khai sinh, trong các năm 1909 và 1911,
chỉ tính riêng làng Tân Hội Tây, tổng Hưng Nhơn
thuộc trung tâm hành chánh Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay
thuộc xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh
Tiền Giang) thì hầu hết dân số của làng này
đều làm nghề đươn đệm/nhổ
bàng:
-Năm 1909 có 30 bản khai sinh, trong đó
100% người mẹ đều làm nghề
đươn đệm; 3/30 người cha làm nghề
nhổ bàng.
-Năm 1911 có 32 bản khai sinh, trong đó
100% người mẹ làm nghề đươn
đệm.
Mãi đến cuối thập niên 80 của
thế kỉ XX, khi kế hoạch khai thác tiềm năng
Đồng Tháp Mười của Nhà nước
được xúc tiến, thì nhờ kinh rạch
được khai thông mà vùng này mới bớt ngập úng,
cũng từ đó lượng bàng mọc ở đây
cũng ít dần. Hiện nay tại ấp Phú Xuân (xã Phú
Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) còn
địa danh Xóm Đệm. Bên cạnh là xã Hưng
Thạnh (cùng huyện) còn có tên cũ Kiến Vàng với câu
ca dao quen thuộc:
Lòng thương con gái Kiến Vàng
Đầu đội neo bàng, tay xách mo
cơm.
Do đó có thể xem đây là một trong
những trung tâm của nghề đươn đệm
ở Đồng Tháp Mười.
Nghề đươn đệm ở
Đồng Tháp Mười tạo ra rất nhiều
loại sản phẩm thiết thân với cuộc sống thường
nhật của người dân. Các sản phẩm bao
gồm: đệm bàng, bao bàng, bị bàng, cặp bàng, nón
bàng, bao nhãn, võng bàng, áo bàng, buồm ghe, nóp,v.v.
Đệm bàng dùng để làm đệm
ngủ hoặc phơi nông sản hay giữ vai trò tấm
liếp che mưa chắn gió. Bao bàng dùng để
đựng nông sản, đặc biệt là đựng
muối rất bền. Bị bàng là giỏ xách nhỏ dùng
để đựng các vật nhỏ rất tiện.
Cặp bàng có thể gấp lại gọn gàng, vừa có
thể giúp học sinh đựng sách vở vừa có
thể đội lên đầu che nắng. Nón bàng có vành
rộng, lại nhẹ, nên đội rất mát, lại
bền. Bao nhãn có hình thức một túi nhỏ dùng
để bao bọc chùm trái nhãn tránh chim, dơi phá. Võng bàng
có độ trải rộng nên nằm rất thoáng mát. Áo
bàng có hình thức như “áo ba lỗ” ngày nay, mặc khá
bền mà lại mát. Buồm ghe làm bằng một tấm
đệm lớn căng lên cao và rộng để đón
gió đẩy ghe (thuyền) đi. Chiếc nóp là một
vật dụng hết sức đơn giản: dùng
tấm đệm lớn gấp đôi rồi khâu rìa hai
cạnh đầu lại, chỉ chừa một cạnh
để chui vào ngủ cho ấm và tránh muỗi
đốt.
Các sản phẩm trên có chung một
đặc điểm là đơn giản, dễ làm,
lại sẵn có nguyên liệu phong phú là cây bàng. Chúng có
thể dùng tại chỗ hoặc bán đi các vùng khác.
Tại xã Tân Túc (huyện Bình Chánh – TP HCM) hiện còn
địa danh Chợ Đệm là nơi thu mua đệm
tập trung khi xưa. Trong Gia Định thành thông chí,
Trịnh Hoài Đức có miêu tả khu vực Chợ
Đệm như sau: “Dọc theo sông, phố xá trù
mật, bán các thứ như xuồng gỗ than, dầu rái,
bao cà ròn và buồm…”([8])
Có thể nói không ngoa rằng, sản
phẩm của nghề đươn đệm xuất
hiện mọi lúc mọi nơi
trong cuộc sống của người dân
Đồng Tháp Mười. Ngay từ lúc mới lọt
lòng, đã là dân Đồng Tháp Mười, ai lại
chẳng được nằm trên chiếc “manh em” (manh
đệm nhỏ) xinh xắn; ai lại chẳng nằm
trên chiếc võng bàng ấm áp lời ru của mẹ.
Rồi lớn lên, trong lao động sản xuất nông
nghiệp, bàng đệm là người bạn đồng
hành trung thành và đắc lực của họ trong mọi
công việc. Cuối cùng, lúc từ giã cõi đời, manh
đệm lại quấn lấy thân thể họ như
để âu yếm, chở che. Cho nên ở Đồng Tháp
Mười đi đâu cũng dễ dàng bắt gặp
các sản phẩm bàng đệm, đến nỗi đã
hình thành câu nói dân gian đầy thú vị:
Chim đại BÀNG bay qua chợ ĐỆM
Ông lưu BỊ nói chuyện chiêm BAO.([9])
Có
điều, cùng với đà phát triển của công
nghệ mới, nghề đươn đệm đã
từng bước bị thu hẹp dần (cả về
phạm vi lẫn các chủng loại sản phẩm)
để nhường chỗ cho các sản phẩm
bằng các chất liệu mới như nhựa, sợi,…
Vì vậy, ở một số nơi, nghề
đươn đệm chỉ còn trong kí ức xa mờ,
thấp thoáng ẩn hiện qua ca dao.
II.
CÁC CÔNG ĐOẠN CỦA NGHỀ ĐƯƠN
ĐỆM
Nghề đươn đệm ở
Đồng Tháp Mười
gồm khá nhiều công đoạn để biến
loài cây hoang dại thành những thứ đồ dùng quen
thuộc, gần gũi với cuộc sống. Nhìn chung
gồm các công đoạn sau:
1 - Nhổ bàng
Bàng thường mọc ở những vùng
trũng phèn ngập nước. Khi đạt chiều cao
khoảng gần bằng đầu người là có
thể sử dụng. Đầu tiên người ta vơ
lấy một cụm nhỏ (khoảng vừa nắm tay),
nắm thật chặt lấy ngọn bàng rồi giật
mạnh một cách thật dứt khoát theo chiều nghiêng
khoảng 450 so với mặt đất. Thế là
bàng sẽ bị bật gốc lên([10]).
Chú ý, nếu khi giật mạnh mà nắm không chặt thì
bàng sẽ cứa vào tay chảy máu, vết cắt có khi
rất sâu và rất đau. Nhổ bàng xong người ta
sẽ bó bàng lại thành từng bó, mỗi bó to khoảng
bằng cột nhà, gọi là “neo bàng” (hay “néo”), hai hoặc
ba neo sẽ thành một “đôi bàng”.(“Đôi bàng” là
lượng bàng để đươn một tấm
đệm, do đó nếu bàng thấp thì phải ba neo
mới thành một “đôi”, còn bàng cao thì chỉ cần hai
neo). Một “chục bàng” gồm 12 hoặc 14 neo, tuỳ
nơi. Khi đã bó thành neo, người ta tiến hành
tề gốc bàng bằng cách dùng liềm cắt.
Bàng thường mọc nơi hoang vu nên
mỗi chuyến “đi bàng” phải kéo dài nhiều ngày,
phải chịu bao vất vả gian truân: muỗi mòng,
rắn rít, nắng mưa,…
Ngày nay bàng hoang không còn bao nhiêu nên
người ta phải chăm bón cho nó (tập trung nhất
là ở xã Mỹ Hạnh Bắc – huyện Đức Hoà –
tỉnh Long An). Và người ta cũng không
nhổ bàng nữa mà dùng liềm cắt sát gốc
để cho nó sẽ đẻ nhánh mọc lên như
cũ sau vài tháng. Thế nhưng từ “ nhổ bàng”
vẫn còn mãi cho đến ngày nay, đủ thấy
dấu ấn sâu đậm của một thời vẫn
còn ăn sâu vào tâm trí của thế hệ hôm nay.
2 - Tót bàng
Đây
là công đoạn phân loại bàng theo chiều cao.
Đầu tiên người ta dựng một cái cọc
đứng cao khoảng đầu người (hoặc
dựa vào cột nhà hay thân cây) rồi cột nhiều neo
bàng lại dựa vào cái cọc thành một bó lớn
khoảng bằng một vòng tay ôm. Sau đó người ta
sẽ nắm lấy những cọng bàng trên cùng của bó
lớn rút nhẹ lên và để nằm xuống
đất. Và cứ rút tiếp tục như thế
người ta sẽ được một dãy bàng từ
cao đến thấp dần. Xong, người ta bó dãy bàng
này lại thành từng neo như cũ. Các neo bàng này khác các
neo bàng trước kia ở chỗ các cọng bàng đã
được chọn lọc với chiều cao
tương đối đồng đều nhau.
3 - Phơi
bàng, giã bàng
Bàng mới nhổ về gọi là “bàng
tươi”. Muốn dự trữ lâu thì phải phơi
ngay, nếu không chúng sẽ ngả màu đen, xấu không
dùng được. Người ta phơi bàng bằng cách
trải từng neo ra như hình rẽ quạt, phơi
nắng khoảng vài tiếng đồng hồ thì trở
bề một lần. Phơi khoảng hai nắng là
được.
Bàng chưa giã gọi là “bàng cây”, bàng giã
rồi gọi là “bàng đâm”. Thông thường bàng cây khô
được giã lần một rồi lại đem
phơi nắng tiếp tục (khoảng một nắng).
Muốn cho cọng bàng mềm dễ đươn thì
phải giã lại lần hai.
Công cụ để giã bàng gồm “mục
bàng” và chày. Chày có hình dáng như chiếc chày đâm tiêu
nhưng to và cao khoảng bằng đầu người.
Mục bàng là một tấm gỗ dày khoảng trên 1dm,
rộng khoảng 3-4 dm, dài khoảng 2 m. Cả chày và
mục bàng đều làm bằng các loại danh mộc,
chắc, bền và nặng (thường là cây sao).
Khi giã bàng, người ta đặt neo bàng
lên trên mục bàng rồi đứng lên nó, hai tay nắm
chặt chày nện đều xuống. Vì giã bàng là công
việc nặng nhọc nên thường được
tiến hành vào ban đêm (cho mát mẻ, đỡ nóng
bức; hơn nữa, ban ngày họ bận việc
đồng áng hoặc đươn đệm). Cứ
thế, giữa đêm khuya, tiếng giã bàng với âm thanh
“cùm cụp” nhịp nhàng vang vọng khắp xóm làng.
Ngày nay ít ai giã bàng bằng tay nữa vì
đã có máy ép bàng (như ép mía) nhanh gọn mà bàng lại
mềm đều. Nhưng các mục bàng và chày vẫn còn
tồn tại như chứng nhân của một thời
gian khó.
4 - Đươn
Sau khi bàng đã được giã (hoặc
ép) hai lần thì có thể tiến hành đươn.
Tuỳ theo từng loại sản phẩm mà có kiểu
đươn khác nhau. Đươn “long mốt” là
kiểu đươn xen kẽ đều đặn
một cọng bàng ngang – một cọng bàng dọc.
Đươn “long hai” là kiểu đươn xen kẽ
hai cọng bàng ngang – một cọng bàng dọc.
Đươn “long mốt” thì manh đệm dễ khít
nhưng chậm, còn đươn “long hai” thì manh
đệm không khít bằng nhưng nhanh hơn.
Giai đoạn đầu của công
đoạn đươn (khi ghép các cọng bàng ban
đầu lại với nhau) gọi là “gầy” (hay “gây”).
Manh đệm khi được gầy xong (còn đang dang
dở) gọi là “mê”. “Mê” là manh đệm chưa hoàn thành
nên cũng biểu tượng cho công việc còn đang
dang dở. (Thành ngữ “đăng đăng mê mê” dùng
để chỉ công việc bề bộn chưa xong).
Thông thường người lớn (có tay nghề,
đươn giỏi) gầy rồi bỏ mê cho trẻ
con đươn.
Mỗi khi đươn được
một quảng chừng vài dm, người đươn
bao giờ cũng ngừng lại để “nhắt”.
Nhắt là dùng các đầu ngón tay (phần móng) chèn cho các
cọng bàng đan xen khít khao lại với nhau. Gần
đây có kiểu đươn “manh thưa” thì khỏi
nhắt mà để cho các cọng bàng cách nhau khoảng
0,5cm.
Mỗi manh đệm đươn xong có
chiều dài khoảng 2m, rộng gần 1m, gọi là “vun”.
Để cho bìa vun đệm khỏi sút sổ,
người ta phải “bẻ bìa”, tức là thắt
đầu các cọng bàng lại với nhau theo dây
chuyền (gần giống như kiểu thắt tóc bím).
Nếu manh đệm chỉ dừng lại
ở một vun như vậy để dùng thì gọi là
“đệm chiếc” (nghĩa là manh đệm nhỏ). Còn
nếu muốn thành một tấm “đệm lớn” hẳn hoi (thông
thường là 3 vun) thì người ta phải tiến hành
ghim các cọng bàng mới vào một bên bìa của vun
đệm trước. Và cứ thế đươn
tiếp vun thứ hai rồi lại ghim vun thứ ba.
Cuối vun thứ ba, người ta lại phải bẻ
bìa cho khỏi sút sổ. Ghim ở đây được làm
bằng vỏ tre mảnh có chiều dài khoảng 2dm,
rộng khoảng 1cm, một đầu vót nhọn,
đầu kia được chẻ đôi theo mặt
cắt ngang để có thể kẹp cọng bàng vào khe
rồi lèn cho xuyên qua một phần (khoảng 4 cm) của
vun đệm trước.
Đối với một số sản
phẩm như võng hay giỏ xách, khi đươn xong
người ta còn phải đánh dây làm dây võng hoặc quai
giỏ. Cách đánh dây này cũng đơn giản như
kiểu thắt tóc bím, nhưng được xiết
chặt và khá chắc chắn, có thể chịu
được lực căng lớn.
III - NGHỀ ĐƯƠN
ĐỆM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Như trên đã nói, nghề đươn
đệm gắn liền với cuộc sống lao
động cực khổ của người dân bần
cùng. Do đó, dấu ấn của nghề đươn
đệm chính là dấu ấn của nỗi gian truân,
nhọc nhằn và bạc bẽo:
Trắng
da vì bởi mẹ cưng
Đen da vì bởi lội bưng nhổ
bàng.
(Ca
dao)
Hay:
Lấy chồng về Bàu Gõ ([11]),
nước mắt nhỏ hai hàng
Tay bưng mâm cơm để đó, giã tám
chín neo bàng mới ăn.
(Ca dao)
Câu hát vừa là nỗi oán than, lại
vừa có phần cam chịu của những mảnh
đời tối tăm, tội nghiệp.
Đươn đệm là nghề có thu
nhập rất thấp nên chủ yếu chỉ giải
quyết nhu cầu công ăn việc làm cho người dân
những lúc nông nhàn. Mỗi khi việc đồng áng đã
tạm yên ổn thì họ bắt đầu rủ nhau
đi nhổ bàng về để chuẩn bị
đươn đệm. Do đó, có thể nói
đươn đệm là cái nghề thứ hai sau
nghề làm ruộng của người dân Đồng Tháp
Mười:
Bông xanh mà lá cũng xanh
Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng.
(Ca dao)
Câu ca dao trên cho thấy sự gắn bó
của hai cái nghề cơ bản của Đồng Tháp
Mười như sự gắn bó bền chặt của
đôi trai gái yêu nhau.
Chính vì mối tình đơn sơ ấy mà
cô gái đươn đệm vốn quê mùa bỗng
trở nên có duyên lạ thường:
Lòng thương con gái Kiến Vàng
Đầu đội neo bàng, tay xách mo
cơm.
(Ca dao)
Hay:
Ngó lên trên chợ Thủ Thêm([12])
Thấy em đươn đệm
giắt ghim trên đầu
Ngó lên trên chợ Tổng Châu ([13])
Thấy em đươn đệm trên
đầu giắt ghim.
(Ca dao)
Và
tiếng giã bàng vốn đơn điệu lại
trở nên có sức vang vọng sâu xa và ấm áp như
một giai điệu thanh bình, giống như nhịp chày
giã gạo ở miền sơn cước:
Đêm đêm trong ánh trăng mờ
Gần xa rộn tiếng
nhặt thưa giã bàng.
(Nguyễn Bính – Trường ca
“Đồng Tháp Mười” )
Rồi
biết bao cặp trai gái quê mùa từ chỗ cùng nhau
đươn đệm, đã dệt luôn ước
vọng lứa đôi. Sự gắn bó bền chặt
giữa các cọng bàng trên một manh đệm luôn
nhắc nhở họ lòng thuỷ chung son sắt, dẫu
phải cách xa nhau biền biệt vì mưu sinh với bao
cám dỗ thường tình:
Đệm
sút vun bàng vẫn là bàng
Anh đi ghe ơ bạn ([14]),
chị ở nhà bịt cái răng vàng đợi ai?
(Ca dao)
Tất
cả những tâm tình ấy đã được
người dân Nam Bộ gửi gắm qua các điệu
lý thật tình tứ, trẻ trung. Trong cuốn Ba trăm
điệu lý Nam Bộ([15])
có đến bốn bài “Lý đươn đệm”
với các địa danh như: Tổng Châu, Thủ Thiêm,
Từ Bi, Tân Châu.
Tuy
nhiên, ấn tượng sâu sắc và độc đáo
nhất về các sản phẩm của nghề
đươn đệm vẫn là chiếc nóp. Chiếc
nóp chính là một sáng kiến độc đáo của dân
nghèo trong cuộc sống bần hàn. Trong thời buổi
khó khăn, giá mùng đắt đỏ, thì chiếc nóp chính
là người bạn thân thiết của dân nghèo: nó dễ
làm, khỏi tốn tiền, lại tiện dụng và
bền bĩ. Chiếc nóp nhỏ nhắn lại
đồng thời đóng nhiều vai trò: là đệm lót
để nằm, là chiếc mùng, là chiếc mền, là túp
lều. Nghĩa là bất cứ nơi nào trên mặt
đất, cứ trải nóp ra, chui vào ngủ là xong, tránh
được cả muỗi mòng lẫn rắn rít. Ngủ
xong chỉ cần gấp lại gọn gàng và nhẹ
như không.
Nhưng chiếc nóp chỉ thích hợp
với cuộc sống ở nơi đồng hoang,
rừng rú. Bởi lẽ ở trong nhà mà ngủ nóp thì
quả là một cực hình: rất nóng bức. Do đó,
chiếc nóp chính là biểu tượng của sự
bần cùng (“Nghèo cháy nóp”- thành ngữ) và cuộc
đời phong sương nơi rừng hoang sông lạnh:
Vai mang chiếc nóp rách
Tay xách cổ quai chèo
Thương con nhớ vợ, bởi
phận nghèo anh phải đi.
(Ca dao)
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng có viết
một tuỳ bút ngắn với cái tên bình dị: “Chiếc
nóp”. Bài tuỳ bút ghi lại dấu ấn một
thời chiếc nóp đã đóng vai trò lịch sử
của nó, như một biểu tượng của
Đồng Tháp Mười. “Nhắc đến chiếc
nóp như nhắc đến một người bạn tri
âm trong những ngày khói lửa … Người mỗi ngày
mỗi lớn, mỗi già. Chiếc nóp theo người mỗi
ngày một cũ. Chiếc nóp từ màu vàng óng sậm thành
ra màu đen, rồi chiếc nóp rách đi. Người kháng
chiến không bao giờ phụ bạc, anh chiến sĩ
dùng chiếc nóp rách vá lại mái nhà dột hoặc chằm
lại tấm vách hư”. Chính vì mối tình thuỷ chung
son sắt đó mà nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn đã
nâng chiếc nóp lên thành một biểu tượng của
lòng yêu nước chân chất mộc mạc và quyết tâm
chống giặc giữ nước trong những ngày
đầu của phong trào Nam Bộ kháng chiến: “Thuốc
súng kém, chân đi không mà giàu lòng vì nước. Nóp với
giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng”.
Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau, nghề
đươn đệm ở Đồng Tháp Mười
đã từng bước thoái trào, nhưng sản phẩm
của nó vẫn không thể thiếu vắng trong
đời sống của người dân. Có những
nơi đời sống kinh tế phát triển nên
người dân hầu như không đươn
đệm nữa, nhưng kí ức về nó thì vẫn còn
sống mãi thường trực trong tâm trí họ,
để rồi thỉnh thoảng lại bất chợt
quay về trong từng câu hát ru hay chuyện kể như
dấu ấn của một thời gian khó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1-Bảo Định Giang (cb), Ca dao dân ca Nam
Bộ, Nxb TPHCM, 1984.
2-État civil indigène, Cochinchine Francaise, 1909, 1911.
3-Lê Phú Khải, Đồng Tháp Mười
hôm nay, Nxb TP HCM, 2005.
4-Long Giang Tử, Người đi vào
Đồng Tháp, Nhà in Dân Việt, SG, 1974.
5-Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày ở
Đồng Tháp Mười, Trí Đăng xb, Sài Gòn, 1970.
6-Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam,
Q.III, Nxb Trẻ, 1999.
7-Phan Thị Yến Tuyết (cb), Xóm
nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ,
Nxb Trẻ, 2002.
8-Sơn Nam, Đất Gia Định
xưa, Nxb TPHCM, 1984.
9-Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu
Long – nét sinh hoạt xưa, Nxb TPHCM, 1985.
10-Thạch Phương – Lưu Quang Tuyến
cb, Địa chí Long An, Nxb Long An – Nxb KHXH, 1989.
11-Trần Bạch Đằng (cb), Địa
chí Đồng Tháp Mười, Nxb CTQG, HN, 1996.
12-Trịnh Hoài Đức, Gia Định
thành thông chí (Bản dịch của Lý Việt Dũng),
Nxb Đồng Nai, 2005.
13-Võ Trần Nhã (cb), Lịch sử
Đồng Tháp Mười, Nxb TPHCM, 1993.
14-Vương Hồng Sển, Tự vị
tiếng Việt miền Nam, NxbVăn hoá, HN, 1993.