LẶNG LẼ GHE HÀNG…
Lưu Quốc Thắng
Ngày nào đó, về đồng quê vùng Nam bộ, bỗng
dưng nghe tiếng hụ của c̣i tàu, hoặc tiếng
kèn bóp te.. te một hơi dài, liền ngay sau
đó là tiếng gọi “hơ, hơ, ơ, ớ…ớ…”
của một nông dân nào đang chum hai bàn tay vô miệng để
ráng sức phát loa giữa mênh mông sông nước th́ cần
hiểu đó là tín hiệu của bà con gọi ghe hàng.
Chiếc ghe bầu có mui, gắn máy
đuôi tôm chở hầm bà lằng đồ đạc,
treo lủng lẳng khắp nơi, từ kim chỉ,
nồi niêu, xoong chảo, đến ngũ vị
hương, đường, muối, tiêu, nước
mắm, tương hạt, keo chao, kẹo bánh, thịt heo,
bắp cải, rau thơm, hành, tỏi, có cả tập
vở, bút viết, pin đèn, bịch trà, bịch cà phê xay sẵn,
rồi thùng bia chai Sài G̣n, bia Cần Thơ xanh, can
rượu đế, đá lạnh, có cả những
sản phẩm văn hóa như dây đờn ḱm, dây
đờn tân nhạc, sách in những bản vọng
cổ, hoặc bản tân cổ giao duyên, kể cả
đặt hàng từ hôm trước…đúng nghĩa là
một tiệm tạp hóa nhỏ di động trên sông
nước.
Thường là trên chiếc ghe hàng
chỉ gồm người chồng ngồi phía sau
điều khiển cần máy đuôi tôm, người
vợ lanh lẹ và đon đả đúng nghĩa “nói
bằng tay” giao hàng và tính tiền với khách,
đứa con nít chừng 7-8 tuổi người đen
nhẻm, dày dạn với sông nước tiếp giúp
mẹ lấy đồ đạc cho khách. Cả
người mua và người bán khá thân thiện với
nhau như lâu rồi không gặp. Hôm nào rảnh rỗi,
chủ ghe lên bờ mời chủ nhà điếu thuốc,
chủ nhà nấu nước sôi, pha cà phê cùng nhau thư
giăn. Có ǵ đấy hợp lư theo chiếc ghe hàng suốt
theo chiều dài kênh rạch vùng sông nước Cửu Long.
Anh Năm Lực dựng cḥi canh tôm
ở đầu kênh xáng núi Mo So, ấp Ba Ḥn, xă B́nh An,
huyện Kiên Lương(Kiên Giang) cứ mỗi khi hết
đồ ăn, thức uống lại ngong ngóng ghe hàng.
Từ chỗ anh ở sâu trong nội đồng, nếu
ra tới chợ Ba Ḥn gần nhất kể cả
đường kênh và đường bộ cũng
phải hơn chục cây số, đường đi
ngoằn ngoèo, chạy vỏ máy hay xe honda th́ mỗi lần
đi chợ như vậy cũng mất cả buổi,
vừa mất thời gian, vừa thấm mệt, lại
không ai canh chừng vuông tôm-con vật dưới
nước không chừng, chỉ khi nào sổ tôm thu
hoạch, tính tiền xong mới biết lời hay lỗ.
Thời gian đầu lúc anh mới
tới, xóm nuôi tôm thưa thớt, vài ba ngày mới có
một chuyến ghe hàng bán tạp hóa, từ lúc phong
trào nuôi tôm xôm tụ hẳn lên, sáng sớm và quá trưa
đều có ghe hàng lui tới, ghe hàng cặp đầu
trước kênh nhà, mua ǵ cũng có, gửi mua ǵ cũng
được, giá cả ngang bằng chợ, thậm chí
chất lượng được đối chứng,
lỡ hàng mua mà có điều ǵ th́ chủ ghe hàng coi như
hết buôn bán ở kênh này, tiện lợi biết mấy,
đi chợ xa làm chi cho mất công.
Nếu như đánh giá giao thông
thủy là một lợi thế của vùng sông nước
Cửu Long th́ ghe hàng là một điểm nhấn quan
trọng về giao thương phục vụ sinh hoạt
của bà con vùng sâu, vùng xa. Cho đến hôm nay, khi
đạt được những thành tích nhất
định về giao thông nông thôn, bê tông hóa
đường liên xă, liên ấp, hầu hết hộ dân
nào cũng có xe gắn máy, hoặc xuồng, ghe, nhưng
hệ thống thương nghiệp vẫn chỉ
đóng chốt ở trung tâm thị trấn, hoặc nhóm
chợ chồm hổm trên nhứng ngă rẽ trục
lộ, vàm xáng thổi, do địa bàn rộng, sông
rạch chia cắt nên chợ cách xa nhà hơn chục cây
số là b́nh thường…trong lúc bà con nông dân sáng sớm ra
đồng sâu, chiều về muộn.
Nhà càng ở sâu trong tuyến kênh ngang
th́ càng lâu đi chợ. Vào mùa lũ th́ cả vùng tứ giác
Long Xuyên mênh mông trong nước cành hạn chế việc
đi lại. Trong lúc đó nhu cầu tiêu dùng, mua sắm
những vật dụng thiết yếu cho gia đ́nh, cho
con em là không thể chờ đợi. Việc mua
sắm những hàng hóa giá trị lớn như ti vi, cát-sét,
xe gắn máy, động cơ thủy của bà con
thường chỉ rộ lên vào thời điểm thu
hoạch lúa, bán lúa, có đồng ra đồng vô. Chính v́
vậy mà các ghe hàng bán tạp hoá mới len lỏi khắp
kênh rạch, lấy công sức, giá cả hàng hoá, chữ tín
làm lời và trở thành một dịch vụ
thường ngày, phục vụ cho vùng sông nước,
miệt vườn Cửu Long.
Toàn bộ gia cư của vợ
chồng anh Bảy Mạnh đặt lên chiếc ghe hàng,
cùng với bé trai 5 tuổi, c̣n có thêm con mực luôn sủa
“gâu.. gâu” mỗi khi nghe tiếng gọi của khách. Quê
ở ấp Ba Biển, xă đông Hưng, huyện An Biên,
cách đây hơn mười năm kiếm sống ven
biển bằng nghề cào bờ, xiệp mé, từ
chủ trương bảo vệ nguồn lợi thủy
sản ven bờ th́ nghề này bị cấm. Sau khi
cưới vợ, được ba mẹ chia cho ít
vốn làm ăn, anh sửa lại ghe, đóng thêm mui,
đặt tấm ván mỏng trên lườn ghe thành
giường nằm, phía cuối ghe là nơi đi vệ
sinh, khỏang chiều dài 5 mét trong ghe treo đầy hàng
hóa, cứ vậy mà xuôi theo ḍng nước, thấy vậy
mà đồng vô đồng ra, lúc nào văn khách th́ ghe neo
đậu gần bờ, bé trai dẫn con mực lên
bờ, người vợ đem ḷ than ra đầu mũi
lúi húi nấu ăn.
Đứa con út chừng 2 tuổi th́
gửi ông bà ngoại, c̣n vợ chồng và con trai
đầu ḷng 5 tuổi th́ theo ghe đi bán hàng, địa
bàn làm ăn thân quen là các kênh ngang vùng tứ giác Long Xuyên.
Không một kênh trục, kênh ngang nào của huyện Ḥn
Đất và huyện Kiên Lương mà ghe anh chưa
tới, bấy kỳ chợ thị trấn nào cũng có
mối hàng quen thuộc, cốt sao giá rẻ, chất
lượng đảm bảo để bán cho các khách hàng
quen, cốt để làm ăn lâu dài, mỗi ngày ghe của
anh cũng bán được cho 40-50 khách hàng quen.
Với bao nhiêu năm Anh Bảy
Mạnh trông chừng năm tới câu con trai đủ
tuổi tới trường, lại phải gửi ông bà
ngọai, ba mẹ đă cực nhọc suốt ngày trên sông
nước, mong sao cho con học hành thành tài, cần chữ
nghĩa hơn là bồ lúa trước mặt.
Ghe hàng của anh Bảy Mạnh
đúng nghĩa là kinh tế gia đ́nh, lặng lẽ
phục vụ nhu cầu mua sắm của bà con vùng sông
nước, kênh rạch. Sôi động hơn, đó là
dạng ghe bán buôn, chuyên đến tận ruộng lúa,
rẫy rau màu, vuông tôm, ao cá mua theo kiểu thu gom, tiền
trao, cháo múc, để rồi đem hàng bán cho chủ
vựa, hoặc tập trung hàng ra chợ nổi bán sỉ.
Nhắm chừng gần tới thời điểm thu
họach lọai cây trái, hoa màu ǵ là chủ ghe đi vỏ
vọt tới tận hộ nông dân thỏa thuận
thời điểm giao hàng, chắc ăn nhất là
ứng trước tiền cho hộ dân.
Đúng ngày, ghe hàng cặp sát bờ
đê để đưa hàng lên ghe, trễ mấy cũng
được, miễn là kịp họp chợ lúc mờ
sương, rồi lại tiếp tục đi mua gom
lần nữa. Các chủ ghe hàng hiểu rành rẽ hàng nào
thị trường đang cần, cái nào đă băo ḥa. Có ai
ngờ cây chanh lại hiệu quả bất ngờ,
trồng dễ, cây khỏe, thu họach lai rai suốt
năm, chanh ít bị hư hao khi vận chuyển, lúc nào
thị trường cũng cần, những năm
trước giá một kư chanh chỉ 5.000 đến 6.000
đồng, đột nhiên từ đầu năm 2009 giá
chanh bán tại vườn lên tới 30.000/kg. Nông dân
Phong Điền vui lên trông thấy. Chưa kể việc
các ghe chở nước biển mặn bán cho các vuông nuôi
tôm sú nước lợ, hoặc chở nước
ngọt bán cho các hộ dân ven các kênh nước mặn vào
mùa khô, hoặc chở đá lạnh để ướp,
chượp tôm, cá.
Trên thực tế, những ghe hàng này
góp phần tiêu thụ và giải phóng sản phẩm thu
họach của nông dân một cách nhanh nhất, cách thức
thanh tóan đơn giản nhất. Vấn đề
đặt ra là hệ thống thương nghiệp, các
công ty chế biến nông, lâm, hải sản chưa
đủ lực lượng, phương tiện và
tầm bao quát để có thể tự tổ
chức thu mua được mà phải mua qua trung gian các
ghe hàng.
Công ty th́ có thể nợ tiền mua
hàng của chủ ghe hàng, chứ chủ ghe hàng th́ không
thể nợ tiền mua hàng của nông dân. Bởi vậy
vấn đề đặt ra là công tác kiểm tra các
dụng cụ cân đong đo đếm được
các ghe hàng sử dụng và quản lư thu thuế, chứ
không nên kỳ thị với họ, tách biệt
điều tiếng “mua gian bán lận”. Kế nữa là
nông dân hết sức dị ứng, khi đem sản
phẩm của ḿnh bán trực tiếp cho công ty v́ thời
gian chờ đợi đến lượt, rồi phân
lọai chất lượng, bởi vậy ngon nhất
vẫn là bán tại ruộng, trả tiền tại
ruộng lúa.
Thời điểm lúa rớt giá
thảm hại trong năm 2008 mới điểm chỉ
trách nhiệm thuộc về các công ty lương thực
trên địa bàn, hay là của thương lái. Đánh giá
công bằng hơn nữa khi các công ty chế biến và
xuất khẩu gạo được hỗ trợ
vốn vay, cùng nhiều lợi ích về đầu tư
th́ lại gần như ngồi một chỗ cân đong
đo đếm với khung giá niêm yết trên bảng,
trong khi các ghe hàng tự xoay xở vốn lưu
động, lấy công sức vận chuyển làm lời
và phải chịu nhiều rủi ro về bảo quản
sản phẩm sau thu hoạch th́ bị điều
tiếng thị phi.
Một vấn đề đặt ra
là dân thương hồ không thể cứ trôi hết
thời gian theo sông nước. Rất nhiều
người trong số họ tâm sự thiệt
t́nh:-“Bởi không có ruộng, vườn, thất học,
không nghề nghiệp nên được ba mẹ chia
vốn vài ba chục triệu là đóng ghe bôn ba đi
kiếm sống trên sông nước. Cầm cự hết
cỡ cũng được chừng chục năm thôi,
chứ ăn ở trên ghe bí bối dữ lắm, chân tay
nhức mỏi, cùng các bệnh thường xuyên xảy ra
như nhức đầu, sổ mũi, thấp khớp,
trên 40 tuổi là xuống sức dữ lắm,
thương nhất là con nít, mù chữ và dốt nát hồi
nào không hay”.
Những tiêu cực trong suy nghĩ
của họ, cùng với những rủi ro bất
chợt trong làm ăn đẫn tới rượu chè,
cờ bạc. Người đàn ông cầm lái, nhưng
người phụ nữ lại điều khiển
vận mệnh của cả ghe hàng, từ tính toán
thiệt hơn mua ǵ, mua ở đâu, bán cho ai, rồi dành
dụm, tích trữ tiền ngoài chuyện pḥng ngừa
bệnh tật th́ việc lớn hơn là mua đất
ruộng để trồng lúa, nuôi cá, cũng là để
an cư và tập trung cho con cái học hành.
Rất nhiều chủ ghe hàng trong quá
tŕnh bôn ba trên sông nước đă t́m nơi đất lành
chim đậu. Họ t́nh nguyện nhận khoán đất
vùng đệm rừng tràm U Minh Thượng, vùng
đất hoang tứ giác Long Xuyên trên hành lang thoát lũ ra
biển Tây để trồng rừng sản xuất,
trồng lúa, trồng mía, trồng khóm, nuôi cá, tận
dụng mặt đê để trồng rau màu, lấy
ngắn nuôi dài theo mô h́nh đa canh tổng hợp.
Một số hộ nhờ bán rau
màu, đu đủ, dưa leo, bầu, bí, khổ hoa,
ớt..trông trên bờ đê cũng kiếm thêm 50-60
triệu mỗi năm, coi như vốn tích lũy. Cách
đây vài năm, UBND Quận Ninh Kiều, thành phố
Cần Thơ đưa 29 hộ dân lênh đênh trên ghe,
thuyền ở rạch Khai Luông, phường Cái Khế,
Quận Ninh Kiều về sinh sống ở khu dân cư
Búng Xáng, phường Xuân Khánh, trên diện tích hơn 4.000m2
đất, có xây nhà cấp 4 bán trả góp với chế
độ hỗ trợ tối đa, thực hiện
ước mơ lâu nay của dân thương hồ.
Tôi đồng ư với nhận
định của nhiều cán bộ chủ chốt
tại các địa phương vùng sông nước Tây Nam
bộ: “Giao thông thủy là một thế mạnh và là nét
riêng của vùng Tây Nam bộ, chấp nhận nét đặc
thù của chợ nổi, cùng việc đầu tư
hệ thống thương nghiệp, chợ, kho chứa
ven sông, giao thông bộ tại vùng sâu, vùng xa chưa thể
đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá th́ việc
các ghe hàng bung ra tự phát là hợp lư, có đối
tượng phục vụ trên thuận tiện đôi bên.
Ngoài vấn đề kinh tế, nên chăng tính tới
chuyện quản lư các ghe hàng về mặt hành chính, nhân
khẩu để không bỏ sót người dân nào vào
mỗi kỳ bầu cử Quôc hội, Hội đồng
nhân dân, hoặc cho công tác xóa mù chữ, vận động
trẻ em đúng độ tuổi đến
trường(riêng ở vùng tứ giác Long Xuyên, Tây sông
Hậu và bán đảo Cà Mau, số trẻ em theo ba mẹ
đi buôn bán trên các ghe hàng không phải là nhỏ, cứ rày
đây mai đó không được đến
trường. Thanh niên t́nh nguyện ở huyện Ḥn
Đất thường vận động các ghe hàng
tận dụng thời gian buổi tối để
dạy chữ cho trẻ em). Bước tiếp theo là nên
tận dụng, hoặc có thể trưng dụng ghe hàng
vào công tác tuyên truyền, cổ động, phát tờ
bướm về pḥng ngừa các loại dịch bệnh
trên người, cây trồng và vật nuôi. Rồi việc
tận dụng ghe hàng vào công tác huy động lương
thực, cứu tế, cứu trợ cho các địa bàn
sâu trong kênh, rạch”
Thông cảm và thấu hiểu với
cuộc mưu sinh của những cá nhân trên ghe hàng
để nhờ đó giúp họ thấy được
quyền lợi và trách nhiệm của ḿnh đối
với cộng đồng, tận dụng những hành vi
tích cực, chung sức vào việc phát triển kinh tê-xă
hội vùng sâu, vùng xa.
05-06-2009