B̀NH PHƯỚC:
Tỉnh cuối
Trường Sơn, yếu huyệt biên cương phía Nam
chống đở “mái nhà Tây
Nguyên”, vùng nhóm cây công nghệ lâu năm nhiệt đới thị trường xuất
khẩu quốc tế rộng lớn, phát triễn bảo
vệ Sài G̣n phía Tây, như Bà
Rịa-Vũng Tàu phía biển Đông.
GS Tôn Thất Tŕnh
B́nh Phước là một tỉnh miền
núi của vùng Đông Nam Phần (Nam Bộ), đông giáp Lâm
Đồng và Đồng Nai, Tây giáp Tây Ninh và Campuchia (240 km giáp ranh Campuchia, trong tổng
số biên giới Việt Miên
là 1270 km
- 790 dặm Anh ), Nam giáp B́nh Dương, Bắc giáp
Đắc Lắc và Cam puchia. Diện tích 6855,99 km2 là
tỉnh lớn nhất miền Đông Nam Bộ.
Tháng 2 năm 2003, chánh phủ thành lập các huyện Chơn
Thành, Bù Đông. Như vậy hiện nay B́nh Phước có
7 huyện: Lộc Ninh, B́nh Long
(An Lộc), Đồng Phú, Bù Đông, Chơn Thành, Phước
Long (Thác Mơ), Bù Đăng
(Đức Phong) và thị xă Đồng Xoài, tỉnh
lỵ B́nh Phước. Dân số
năm 2007 khoảng 815 000
là tỉnh tỉ trọng dân số thấp
nhất miền Đông Nam
Bộ . Đa số tộc
dân Kinh ( thuộc họ Nam Á
nhóm tộc dân Việt Mường), qua ba đợt di dân
lớn ; đợt thứ nhất từ thời các
chúa Nguyễn với dân Huế - Thừa Thiên, Quảng
Nam, Quảng Ngăi…; đợt thứ hai với dân mộ phu
mở mang các đồn điền - công ty cao su Pháp,
từ các các tỉnh Thái B́nh -Nam Định…,
đợt thứ ba với dân lên làm dinh điền
thời Đê Nhất Cộng Ḥa
miền Nam . Các tộc dân thiểu số chiếm
chừng 17 % (gần 140 000 người). Đông nhất là
tộc dân Stiêng (họ Nam Á nhưng thuộc nhóm Môn- Khmer
chừng 40 000 người, các tộc dân Mạ, Cho Ro( Châu Ro), M’Nông cũng thuộc nhóm Môn -
Khmer (cả ba tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng , B́nh
Phước chừng 46 000
người), các tộc dân Chăm, Chu Ru, Raglai họ Nam Đảo, thứ
đến là Hoa (Việt gốc Tàu, thuộc họ Hán -
Tạng, nhóm Hoa - Hán), Khmer (Miên),
Tày, Nùng, Dao ….
Chút ít
lịch sử
Đất
tiểu quốc Che Mạ, nước độn giữa
Vương Quốc Quảng Nam (xứ Đàng Trong) và
đất Thủy Chân Lạp (đồng bằng sông
Cửu Long , sông Vàm Cỏ?)
Từ thế kỷ thứ 17, đă có
nhiều người Việt đến hai xứ
Đồng Nai (Biên Ḥa) và Mỗi Xuy (Bà Rịa) vỡ
đất làm ruộng. Theo B. Bourotte nhà sử học Pháp (Essai
d’ histoire des populations montagnardes
du Sud Indochinois), ở khoảng
giữa nước Chiêm Thành và nước Chân Lạp có
một tiểu quốc
gọi là nước Che
Mạ (Thượng hay Mọi theo tên gọi trước đây)
tại vùng Biên Ḥa - Mỗi Xuy, tương tự các
tiểu quốc phía Bắc , tộc dân Jarai thống trị ở phía Tây tỉnh Phú Yên, vùng núi Bà Nam là Thủy Xá (Đôn Vương) phía Đông và Hỏa Xá (Nga
Vương) phía Tây. Người Che Mạ di cư
từ đồng bằng hạ lưu sông Đồng Nai
và sông Cửu Long , dưới quyền nước Phù Nam,
nhưng không chịu thần
phục chế độ Phù Nam nên
tới sinh sống ở vùng hoang vu, rừng rậm,
thung lũng lầy lội, động cát, ngọn
đồi lẽ tẽ trung lưu
và hạ lưu sông Đồng Nai. Nước Che Mạ có
nhiều nhánh, Chu Ru hay Trau ở phía tây B́nh Thuận, Mạ,
Cop, Che Srê, Che Tô, Koho, Lạt).
Sau khi Chân Lạp (Kambuja, tiền thân Kampuchia, nguyên là
một tộc dân Bắc Phù Nam ở Sambor) thay Phù Nam, tiểu
quốc Che Mạ thần thuộc Chân Lạp, nhưng
vẫn tự chủ. Thế
lực nước Che Mạ
lan rộng sang Tây Nam đến lưu vực sông Là Ngà,
phía Bắc lên đến cao
nguyên Di Linh và cao nguyên Lang Bian
(Đà Lạt).
Năm 1708,
đời chúa Minh Nguyễn
Phước Chu đă sai Câu Kê dinh Quảng Nam là Ḥa
Đức (không rỏ họ) đem quân đi đánh Ác Man
Bà - Rịa, người Che Mạ,
cướp bóc dân biên thùy Việt Nam. Thật tế, năm
1620, chúa Sải Nguyễn Phúc Nguyên
đă gă con gái, công
nương Ngọc Vạn, cho vua Chân Lạp Chey Chetta
II, đóng đô ở U
Đông (Oudong) gần Nam Vang - Phnom Penh ngày nay, v́ Chân Lạp
đang muốn chống lại lân bang nguy hiểm là Tiêm
(Xiêm) La (Thái Lan). Công nương Ngọc Vạn, ḥang
hậu Chân Lạp năm
1623 là người lập công
đầu Nam tiến vào vùng đất
Chân Lạp bảo hộ lỏng lẽo, mở rộng
đất đai từ biên giới Chiêm Thành , B́nh Thuận
( Phan Thiết) đến mũi Cà Mau - Côn Sơn,
Trường Sa biển Đông , Phú Quốc, Thổ Chu
biển Tây. Năm 1623, nhờ
bà Ngọc Vạn, chúa
Nguyễn đă được vua Chey Chetta cho lập
cơ sở thu thuế và đóng đồn ở Prey
Kor (Rừng Cây G̣n) và cho di dân
người Việt
đến khai thác đất
đai ở Đồng Nai, Mỗi
Xuy , trên đất Che Mạ,
Chân Lạp bảo hộ trên danh nghĩa thay thế Phù Nam. Tên Sài G̣n h́nh như là phiên âm tên Miên
Prey Kor ra tiếng Việt là Rừng Củi G̣n (Sài là
Củi) vào thời vua Gia Long (?). Năm 1658, sau khi So và Ang Tan con
phụ chánh Préah Outey, em vua Chân Lạp Ang Non I
bị Nặc ông Chân giết
chết đọat ngôi vua, theo lời khuyên của bà
Ngọc Vạn, cầu cứu
triều đ́nh Thuận Hóa, chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn
sai Phó tướng dinh Trấn Biên (lúc đó là dinh Phú Yên) Nguyễn Phước Yến,
đem 3000 quân, đánh chiếm thành Hưng Phước (Mỗi Xuy - Bà Rịa), bắt
được Nặc Ông Chân đóng cũi đem về
nạp chúa ở Quảng B́nh, nơi chúa Nghĩa đang
đóng quân Đàng Trong, xem xét việc quân đánh nhau
với chúa Trịnh. Công lao bà
Ngoc Vạn c̣n to lớn hơn công lao công chúa Huyền Trân
nhiều (xem tài liệu của Tôn thất Thiện: Các
chúa Nguyễn Xứ Đàng Trong và Việt Nam ngày nay, Ḍng
Việt số 14/2003), nhưng dân Huế và dân Sài G̣n, miền Nam (tuy rất
nhiều người Nam nhớ ơn công lao các chúa
Nguyễn và công nương Ngọc Vạn) lại không
lập đền thờ, ca tụng công nương, ḥang hậu, thái
hậu Ngọc Vạn! Chỉ biết tôn thờ
nhớ ơn công chúa Huyền Trân!
Một
huyện dinh Trấn Biên vào cuối thế kỷ thứ
17.
Năm 1679, Chúa
Nghĩa biên thư cho vua Chân
Lạp yêu cầu cấp đất đai Đông Phố cho binh tướng Long Môn (một huyện phủ
Quảng Châu tỉnh Quảng Đông) Dương Ngạn
Địch và binh tướng Cao Lôi Liêm
(Cao châu, Lôi châu và Liêm châu là ba phủ cũng thuộc tỉnh Quảng
Đông) Trần Thượng Xuyên. Binh tướng Trần
Thượng Xuyên tập trung
ở Đại phố châu (Cù lao Phố), giữa sông Nông Năi
(Đồng Nai), phía nam tỉnh lỵ Biên Ḥa. Cù lao Phố
trở thành một trung tâm
điểm buôn bán phồn
thịnh với người
Âu Châu, Nhật, Mă Lai , Tàu … của xứ Nam Kỳ, cho
đến ngày Tây Sơn vào
chiếm, giết dân Hoa, phá tan tành Cù Lao Phố, v́ cho là người Hoa vùng này đă ủng hộ chúa
Nguyễn Phước, giết mất pḥ mă của vua Thái
Đức - Nguyễn Nhạc nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm
1698, chúa Minh sai Thống Xuất Nguyễn Hửu Kính vào kinh lược, chia đất
Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai (người
Tàu gọi là Nông Nại), đặt
huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (tỉnh
Đồng Nai - Biên Ḥa ngày nay), lấy xứ Sài Côn đặt huyện Tân B́nh,
lập dinh Phiên Trấn (Gia Định).
Hai
tỉnh cũ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa nhập lại thành tỉnh B́nh
Phước.
Năm 1778, ở Sài Côn, các tướng tôn Nguyễn
Phước Ánh, mới 17 tuổi, làm Đại Nguyên Súy - Nhiếp
Quốc Chính. Đại Nguyên Súy tổ chức lại
việc cai trị đất Gia Định. Năm 1779,
chia vạch địa
giới 3 dinh: Trấn Biên (tỉnh Biên Ḥa - Đồng Nai
ngày nay), Phiên Trấn (tỉnh Gia Định và Định Tường - Mỹ Tho), Long
Hồ (hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long). Dinh Trấn Biên
chỉ có một huyện là Phước
Long gồm 4 tổng là Tân
Chính, B́nh An , Long Thành và
Phước An.Thời các vua
Minh Mạng và Tự Đức, xứ Nam Kỳ mới
có 6 tỉnh, thay v́ 5 trấn (tỉnh) thời vua Gia
Long, trong đó có tỉnh Biên Ḥa. Khi Pháp chiếm lục tỉnh Nam Kỳ các năm 1857- 59, thọat tiên Pháp đặt cai
trị ở 4 vùng là Sài G̣n,
Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc - Bassac. B́nh Phước
thuộc vùng Sài G̣n. Sau năm 1898, Pháp chia đất Nam
Kỳ thành 21 tỉnh. B́nh Phước thuộc tỉnh Biên
Ḥa và Thủ Dầu Một. Thời Đệ Nhất
Cộng Ḥa, 1956-57, lập thêm
các tỉnh là Phước Long, B́nh Long, Phước Thành, Long
Khánh và B́nh Dương (nguyên là tỉnh Thủ Dầu
Một, một trong 21 tỉnh Nam Kỳ thời Pháp
thuộc). Các năm 1997-2003 , hai
tỉnh cũ là Phước Long và B́nh Long nhập lại
thành tỉnh B́nh Phước ngày nay, sau khi đổi tên thành tỉnh Sông Bé và tỉnh Biên Ḥa
nhập với tỉnh Long
Khánh thành tỉnh Đồng Nai.
Địa
h́nh
Địa h́nh B́nh Phước là cao nguyên đồi núi ở phía Bắc và Đông
Bắc, nhưng thấp dần về phía Tây và Tây Nam. Cao
độ trung b́nh 50-150m. Trong huyện Phước Long , có núi Bà Rá nhô lên cao 736 m. Thời thế chiến thứ II, vùng núi
Bà Rà là nơi Pháp giam cầm những phần tử
quốc gia miền Nam, muốn ngă theo Nhật chống Pháp.Thời
Đệ Nhất Cọng Ḥa có dự tính lập thủ
phủ miền Nam ở vùng
quanh núi Bà Rá, thay cho Sài G̣n qúa
đông đúc, nóng nực. Năm 2004, chánh phủ tập trung xây dựng khu du
lịch Bà Rá -Thác Mơ, làm
18km đường quanh núi và
đầu tư làm cáp treo lên đỉnh núi. Ng̣ai núi
Bà Rá, các danh lam thắng cảnh thiên nhiên khác là hồ Suối Cam, hồ
Suối Lam, trảng cỏ Bàu Lạch. Sóc Xiêm
cách thành phố Sài G̣n 120
km là một thắng cảnh săn bắn ,
hồ nước xanh trong, và rừng thác
ở nơi cao, đồng thời cũng là nơi có thể quan sát văn hóa , phong tục tập quán
tộc dân Stiêng. Tuy nhiên, nay
B́nh Phước đă có 83 % người tộc dân Kinh, tưỏng
ngành du lịch B́nh Phước cũng nên chú trọng
hơn, ng̣ai các lễ hội thu hút du khách như lễ hội mưa
tộc dân Stiêng, tộc dân Mạ , lễ cúng cơm mới
tộc dân Khmer, lễ chọi trâu Mnong (?), những lễ
hội nông nghiệp mới tộc dân Kinh, như lễ hội
cao su, thu hoach hột điều, thu họach tiêu như Đắc
Lắc đă làm với lễ hội cà phê Ban Mê Thuột. Hay lễ hội
tỏi Gilroy gần thành phố San José, Bắc Ca Li - Hoa
Kỳ.
Thủy
văn và các đập thủy điện
Hai sông lớn chảy ngang qua B́nh
Phước, chia tỉnh ra làm
nhiều khu vưc. Sông
Đồng Nai là sông dài nhất chảy trong lảnh
thổ Việt Nam, tuy chỉ dài có
635 km.
Nếu chỉ kể chiều dài chảy trong nước nhà, Sông Hồng dài
thứ hai, 566km và sông Mă (Thanh Hóa)
410 km.
Nhưng lưu vực ṭan
bộ sông Đồng Nai chỉ rộng 42 666 km2, trong khi lưu vực toàn
bộ hệ thống sông Mê
Kông (Cửu Long) rộng đến 795 000 km2, dù
chiều dài trong nước cũng chỉ có 230 km. Lưu vực trong nước của sông Mê Kông
cũng lớn hơn (v́ kể
thêm Tây Nguyên) lưu
vực hệ thống sông Đồng Nai, 71 000 km2 so
với 37 394 km2 .
Sông Đồng Nai lưu lượng
485 m3
/giây, có nhiều phụ
lưu lớn là sông Là Ngà, sông Bé và sông Sài G̣n. Sông Bé là nhánh sông bên phải
của sông Đồng Nai, phát nguyên từ cao nguyên Mnong -
Mạ thuộc tỉnh Đắc Nông, chiều dài 360
km, phần lớn chảy ngang qua tỉnh
B́nh Phước (nên năm 1976 có tên là tỉnh Sông Bé), đổ
vào sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An.
Lưu vực sông Bé là 7 170km2, lưu lượng
trung b́nh là 264 m3
/giây ở Phước Ḥa.
B́nh Phước đă thiết lập xong
nhà máy thủy điện Thác Mơ ở huyện
Phước Long phía Bắc núi Bà Rá, công xuất thiết
kế là 150 000 kw, nhà máy Cần Đơn 72 000 kw ( đang
xây dựng ) và nhà máy Sóc (Srok)
Phú Miêng 51 000 kw. Thủy
điện Thác Mơ đă
được nối mạng đường dây điện cao thế 500 kv Bắc - Nam đi qua tỉnh nhà. Tuy
nhiên trong tương lai, muốn có thêm điện,
nước B́nh Phước phải cộng tác với Cam
Bốt phát triễn hệ thống chi nhánh sông Mê Kông.
Khí
hậu và sử dụng đất
đai
B́nh Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới
cận xích đạo gió mùa . Có 2 mùa rỏ rệt mùa
mưa và khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
và mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4. Vũ lượng trung b́nh là 2110mm. Ẩm độ ở rừng phía Băc tỉnh thường ít hơn ở phía
Nam. Nhiệt độ b́nh quân trong năm cao đều,
ổn định từ 25.8 o C - 26.2 o C.
Tổng diện tích tự nhiên, theo bộ
khoa học và công nghệ (3/12009), tỉnh B́nh Phước
là 688 200 ha
(?).Trong đó đất nông nghiệp
là 633766 ha,
chiếm 92.6 % gồm
đất sản xuất nông nghiệp 294 540 ha ,
đất lâm nghiệp 337 469 ha , đất nuôi trồng
thủy sản 1625 ha,
đất nông nghiệp khác 132 ha. Đất phi nông
nghiệp 53 252 ha, chiếm 7.
74 %, đất chưa sử dụng chiếm 1262 ha hay 0.18 %. B́nh
Phước có 7 nhóm đất chính, phân chia thành 13 lọai đất. Phần
lớn là đất đỏ (nâu đỏ) nhóm ferralsols ở Lộc Ninh, Phú Riềng;
đất đen trên đá
basan (basalt) nhóm Luvisols;
đất xám trên phù sa cổ sinh là lọai
đất nghèo hửu cơ, nghèo dinh dưởng… (ít so với Tây Ninh, B́nh Dương,
Đồng Nai) thuộc nhóm
Acrisols và đất phù sa ven các ḍng sông Đồng Nai
và sông Bé.
Cao su,
hột điều, cà phê, tiêu là ṇng cốt cây công nghiệp
lâu năm của B́nh Phuớc, nhưng tương lai có
thể thêm ca cao, cây ăn trái nhiệt đới hay đôi
chút cận (bán hay phụ) ôn đới (đồi núi phía Bắc, kế cận Đắc Nông, Lâm Đồng).
Cao su
thiên nhiên
B́nh Phước là một trong 3 tỉnh
đầu sổ Việt Nam về diện tích trồng cao
su. Năm 1976 , riêng
công ty B́nh Long đă có 15
000 ha cao su. Tháng 12/2008, theoTổng cục
địa chánh (cũ) báo cáo lên Bộ Tài nguyên và Môi trường, B́nh
Phước đă có 54
659 ha cao su thuộc 4 công ty của Tổng
Công ty Cao su Việt Nam - Geruco. Chưa
kể diện tích tiểu điền cao su, theo thống
kê năm 2008 cả
nước đă trên 253
000 ha, hơn 80 000 tiểu điền
chủ, đem lại
đời sống sung túc cho 500 000 người. Phân
nữa tổng số hơn 500 000 ha cao su ước lượng đă
trồng được ở Việt Nam, năm 2008. Phần
lớn caosu B́nh Phước, ước lượng năm
2008 chừng 120 000
ha, trồng trên
đất đỏ giàu, chất lượng dinh
dưỡng và hửu cơ
tương đối cao mà ước lượng ṭan
miền Đông Nam Bộ lên đến 547 000 ha. Tỉnh
B́nh Phước có đến 420 000 ha lọai
đất đỏ này. V́ thế mà năng xuất cao
su thiên nhiên B́nh Phước có thể cao hơn Tây Ninh,
phần lớn trồng trên
đất xám, ít màu mỡ hơn đất đỏ.
Sản lượng cao su B́nh Phước có thể
đứng hàng đầu Việt Nam, đă trên 93-99 000
tấn nếu chỉ kể
các công ty thuộc Geruco, trong tổng số 780 000 tấn ,Việt Nam ước
lượng sản xuất năm 2008, trị giá xuất
khẩu trên 1.5 tỉ đô la Mỹ. Năng xuất cao su
B́nh Phước c̣n có thể
cao hơn. Nếu trồng thêm
hay trồng lại những vườn cao su già cỗi các công ty quốc doanh, tháp với các
tinh ḍng cao năng mới RRIM chẳng hạn, nhóm cao
năng năng xuất 2000- 3000 kg/ ha mũ khô một
năm.
Geruco
cho biết là không c̣n đất cấp, hầu thực
hiện chương tŕnh 700 000 ha
cao su, dự tính cho
năm 2010 và 1 triệu ha cho năm 2015. Chương
tŕnh 1 triệu ha cao su cả công ty đồn điền lẫn tiểu điền cho miền NamViệt Nam , đă
được phát họa từ các năm 1958 - 63, nhưng
bị gián đọan v́ chiến tranh tương tàn Nam
Bắc ở miền Nam, khốc liệt ở tỉnh B́nh
Phước (An Lộc, Lộc Ninh, Phước B́nh,
Phước Long - Thác Mơ…). Năm 1984, chương tŕnh 1
triệu ha lại được Nga Sô khuyến cáo tiếp tục ở Việt Nam, cả Bắc lẫn Nam và trên Tây
Nguyên, nhưng cũng lại gián đọan vào thập niên
1990, khi Nga Sô sụp đổ. Chương tŕnh này c̣n thua
xa Thái Lan, nay là nước đứng hạng nhất
về cao su thiên nhiên, trên hẳn Mă lai Á và Inđônexia, đă
nhân cơ hội Việt Nam măi lo chiến tranh, tăng diện
tích cao su lên trên 2 triệu ha,
sản xuất 3 triệu
tấn mũ cao su đủ lọai, xuất khẩu 2. 7
triệu tấn, chế biến công nghệ trong
nước 300 000 tấn. Nhờ sự đầu
tư mạnh mẽ của tư bản Mă Lai, Singapore,
Thái Lan ở ngành trồng tĩa và của tư bản Đức, Vương quốc
Anh (U.K), Ư và Hoa Kỳ ở ngành công nghệ chế biến
cao su thiên nhiên.
Một trong những hướng phát
triễn cao su B́nh Phước, cũng như ṭan cơi Việt Nam, là tổ
chức phân công giữa các công ty quốc doanh thuộc Geruco
và chương tŕnh phát triễn tiểu điền cao su.
Tiểu điền lo về mặt trồng tĩa,
cạo mũ. C̣n Geruco lo hướng dẫn cải
thiện sản xuất,
đặc biệt là thí nghiệm các giống mới cao
năng, siêu năng , lập
vườn gỗ tháp cung cấp các giống tinh ḍng
này hay các ḍng cao su vừa cho
năng xuất cao vừa làm gỗ tốt khi già cỗi, và mọi
phương diện chuyên chở, chế biến mũ
cạo xuất khẩu. Như vậy sẽ tăng
năng xuất cao su tiểu điền, hiện nay c̣n
thấp kém, v́ tiểu điền chỉ phần lớn
trồng các giống sa cạ,
không tháp tinh ḍng cao năng. Tiểu điền có cơ
hội đa canh hay luân canh
với những cây công nghiệp lâu năm khác như cà phê ,
hột điều ( đào lộn hột ), tiêu, cây ăn
trái và ngay cả các cây lương thực nữa, giữa
các hàng cao su như bắp (ngô), khoai ḿ (sắn), đổ
(đậu), khoai lang, rau hoa. Hay nuôi gia súc giữa các hàng cao su trưởng thành đang
cạo mũ. Theo những khế ước phân chia
nhiệm vụ, đă thành công ở một vài nơi
kể cả các đồng bào tộc dân “Thượng“ Tây Nguyên như
Krong Buk, tỉnh Đắc Lắc chẳng hạn.
Hột
điều
Người Pháp, vào thập niên 1940- 50, đă
thí nghiệm ở gần núi Bà Rá, cây hột điều
- cashew nut, noix de cajou , nhưng không phát triễn
đại trà như cao su. Chỉ vài trăm gia đ́nh Việt
(Kinh ) trồng vài trăm ha hột điều ở Tây Ninh.
Năm 1999, B́nh Phước đă trồng được 64 830 ha hột
điều, trên tổng số ṭan cỏi Việt Nam là 185 000 ha .Nhưng
năm đó, mức sản
xuất nhân hột điều mới đạt 9567
tấn, trên tổng số 35 000 tấn cho Việt Nam. Năm
2005, B́nh Phước trồng được 115 000 ha hột
điều, sản xuất 139 000 tấn nhân diện tích 320 000 ha
và mức sản xuất 235 000 tấn cho ṭan cơi Việt Nam . Theo hiệp hội VINACAS,
Việt Nam đă trồng được năm 2008, 400 000 ha hột
điều và dự tính
trồng đến 500 000 ha năm 2010. Diện tích trồng
hột điều năm 2008 ở B́nh Phước là 170 000 ha. Năm 2007, Việt
Nam đă xuất khẩu 650
triệu đô la Mỹ nhân
hột điều. Năm 2008, xuất khẩu gần 170
000 tấn nhân hột điều, trị giá 940 triệu đô la
Mỹ, tuy rằng dự tính
cho năm 2008 chỉ vào
khỏang 680 triệu mà thôi. Năm 2009, Việt Nam ước
lượng sẽ xuất khẩu 190 000 tấn nhân,
trị gía khỏang 1.05 tỉ. Trái lại,Việt Nam đă
phải nhập cảng từ
các nước Phi Châu (Mozambique, Tanzania, đáng tiếc
là chưa mua được ở Guinée - Bissau, một
nước Tây Phi sản xuất nhiều nguyên liệu
hột điều tốt) Inđônêxia và Cam Bốt, khỏang chừng 150 000- 250 000 tấn hột nguyên liệu
mỗi năm, để đốt vỏ hột, trích nhân
ở các nhà máy nước nhà, thỏa măn khế
ước xuất khẩu đă kư kết. Hai nước
mua nhiều nhân hột điều Việt Nam là Hoa Kỳ
(41%), Trung Quốc (21 %); kế đến là Úc, Hà Lan, Anh,
Canada, Nga, Ư và Nhật. Việt Nam
cần cải thiện cơ chế tài chánh,
thương măi, b́nh ổn
thăng trầm giá quốc tế và quốc nội, khi giá
quốc tế hạ, giúp đở cấp vốn nhẹ lăi, thu mua , bớt thuế…. để
các nhà máy chế biến khỏi đóng cửa; tăng
cường hệ thống khuyến nông như phổ
biến các giống hay tháp tinh
ḍng cao năng đă tuyễn chọn trong nước hay thí nghiệm thành công những du nhập
mới từ Ấn Độ,
Brasil, đến tận làng xă . Cộng tác với Lào, Miên
tăng gia sản xuất hột điều tại hai
quốc gia này, chắc chắn sẽ cũng cố ngành
xuất khẩu này trong tương lai, khỏi nhập
cảng nguyên liệu thường
kém phẩm giá từ Phi Châu, những năm gần
đây.
Tiêu,
cà phê vối và ca cao
Tiêu là một sản phẩm quan trọng
của B́nh Phước. Các năm 1955- 60, chỉ có một
vườn tiêu ở gần Lộc Ninh trên đất
đỏ. Nhưng đến
năm 2005, B́nh Phước đă trồng được 13 500 ha giống
tuyễn chọn cải thiện và kỷ thuật trụ
xi măng chống giây tiêu thay
nọc gỗ cây chết hay cây sống xưa cũ.
Cả nước năm
đó chỉ trồng được 52 500 ha. B́nh Phước dẫn
đầu về diện tích trồng tiêu, hơn hẳn các vùng tiêu mới: Đắc
Lắc, Gia Lai, Đồng Nai hay cỗ truyền Bà Rịa-
Vũng Tàu, Phú Quốc, Quảng Trị (Vĩnh Linh…), Hà Tiên.
Năng xuất trên 2 tấn/ha
và xuất khẩu 110 000
tấn tiêu trắng (tiêu sọ) và tiêu đen, trị giá 152
triệu đô la. Nhưng năm
2007 - 2008 , các vườn tiêu bị bệnh và thời
tiết làm thất mùa, B́nh
Phước chỉ c̣n 12 330 ha.
Năm 2007, Việt Nam chỉ xuất khẩu 83 000 tấn
và năm 2008, 87 000 tấn thay v́
117 000 tấn, năm 2006. Tuy nhiên, vẫn c̣n duy tŕ hạng nhất xuất
khẩu tiêu thế giới, trên
hẳn Ấn Độ, Brasil và Inđônexia, đạt
được từ năm 2003 nhờ xuất
khẩu 82 000 tấn. Việt
Nam cần cố gắng phục hồi lại mức
khẩu xuất tiêu của
năm 2006, bằng cách tăng cường khảo cứu,
tuyễn chọn các giống kháng bệnh, cải tiến cách thu họach và
sấy tiêu … ở B́nh Phước , và ở các tỉnh Tây
Nguyên Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai.
Cà
phê vối - robusta B́nh Phước cũng bị thăng trầm,
điêu đứng như cà phê vối Đắc Nông , Lâm
Đồng , Đắc Lắc, những năm giá quốc
tế hạ, có khuynh hướng thặng dư cà phê
vối, lọai cà phê miền
nhiệt đới, giá bán rẽ
hơn cà phê chè Arabica bán
nhiệt đới là cà phê thích hợp vùng đồi núi cao hơn hay
ở các tỉnh miền Bắc xa xích đạo hơn,
nhưng khó trồng hơn và bị bệnh rỉ lá, sung
đục thân cành. Cà phê vối đă được du
nhập vào trồng thử
ở Việt Nam từ năm
1857, nghĩa là đă hơn 150 năm rồi. Trước
thập niên 1975, cà phê vối gần như duy nhất
chỉ phát triễn ở hai
đồn điền-công ty tư bản Pháp tỉnh Đắc Lắc (CHPI và CADA do ngân
hàng Đông Dương -Đông Pháp tài trợ), diện tích
chừng 5-6 000 ha, dùng nhân công tộc dân Thượng
địa phương, v́ Pháp giới hạn người
Kinh hay các tộc dân khác lên khai thác, mở mang Tây Nguyên. Măi vào cuối thập niên 1960,
đầu thập niên 1970, dân tiểu điền Viêt Nam
mới phát triễn cà phê vối ở gần Ban Mê
Thuột.với những kỷ thuật tưới
nước đăc thù cho cà phê, cứu mùa hoa nở
khỏi rụng hết, không đậu trái, khi nắng hạn. Năm 1975, tổng diện tích cà phê
cả hai miền Nam - Bắc
khỏang 20 000 ha, sản xuất 5 -7000 tấn nhân
hột xanh - green beans. Năng xuất trên đất
đai, bón phân hóa học và tưới nước mưa phùn có thể lên 3-4 tấn/
ha, có khi 5 tấn/ ha tại nhiều tiểu
điền giỏi chăm sóc, bón phân hóa học,
tưới tiêu. Tuy cũng
bị khó khăn v́ thặng dư sản xuất và thăng
trầm gíá cả nhiều năm qua, năm 2008, Việt Nam vẫn
trồng được 500 000 ha, sản xuất 700 000
tấn nhân. Diện tích cà phê ở các tỉnh miền
Đông Nam Bộ (Phần)
là 113 000 ha, phần lớn
ở đất đỏ
B́nh Phước (Nam Hà , Đăng Hà , huyện Bù
Đăng ? v. v…)
Hai năm gần đây, nông dân xứ Bờ biển Ngà
- Côte d’ Ivoire, Tây Phi Châu, đốn bỏ cà phê vối trồng cao su thiên nhiên, v́ hai năm nay giá cao su
thiên nhiên lên cao (tháng 8/2008 một tấn cao su giá trên 3000
đô la Mỹ , cao hơn giá tháng 8 /2007 gần 200 đô la !). B́nh Phước cũng
như các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đốn
bỏ hột điều năng xuất kém làm cũi và đổ xô trồng cao su thiên nhiên. E sẽ sa vào chu kỳ thăng trầm,
đốn bỏ đi
trồng lại cao su và hột điều . May thay ở B́nh Phước nay xuất hiện một
chương tŕnh phát triễn
cây ca cao , làm sô cô la.
Ca
cao đă được
trồng thử năm 1960 ở hai tỉnh Lâm Đồng
(Bảo Lộc) và Tiền Giang (Định Tường-Mỹ
Tho), ra trái tốt đẹp. Nhưng khi thu họach, không có người
thu mua lên men chế biến hột thương măi, khiến
nông dân chán năn đốn bỏ hết. Ca cao là cây nhiệt đới, trồng
tốt ở 200 Bắc
hay Nam trên dưới Xích đạo, tương
đối đ̣i hỏi chăm sóc c̣n nhiều hơn
cả cà phê vối, nhất là trên phương diện
vũ lượng (trung b́nh 1500- 2000mm mỗi năm),
nhiệt độ trung b́nh tối đa 30- 32 0 C, tối thiểu 18- 21o C và ẩm
độ ban ngày 70% và ban
đêm 100%. Đây là những con số trung b́nh đúng vào khí hậu tỉnh B́nh Phước đă
kể trên.
B́nh
Phước khởi sự trồng ca cao năm 1999. Năm 2005 chỉ trồng được
268 ha ở các huyện Bù
Đăng , Đồng Phú , Lộc Ninh, trong
tổng số 4000 ha ca cao ở Việt Nam, thua xa
Bến Tre (1500 ha), Đắc Lắc (1083 ha), và cả Bà
Rịa - Vũng Tàu (450 ha),
và Tiền Giang ( 300 ha) nữa . Năm 2008, riêng
huyện Bù Đăng đă trồng được 1200 ha. mức
sản xuất sẽ khỏang 1500 tấn. Năm 2010,Việt
Nam hy vọng trồng 20 000 ha ca cao. Con số cho B́nh
Phước có thể là 4- 5000 ha.
Năng xuất độc canh ca cao là 2 tấn / ha hột khô đă lên men
và tiểu điền đa canh ca cao là 1.2 tấn /ha.
Hột ca cao ở Bến Tre, trồng xen kẻ
dưới các hàng dừa rất
cao phẩm, chất béo
55- 56 %, theo công ty Cargill thu mua
cho biết. Công ty Datnam lo thu mua ca cao ở Đắc
Lắc và công ty Olam ltd. thu mua ở B́nh Phước.
Như vậy c̣n thua xa Côte D’ Ivoire, mức
sản xuất năm 2003 đă là 1 320 000 tấn ,
Inđônêxia 386 000 tấn, Mă lai Á 172 000 tấn. Năng
xuất ca cao Mă Lai Á rất cao 2- 3 tấn/ha, nhưng
lợi tức kinh tế thua kém hẳn cọ dừa -
oil palm, nên nông dân Mă lai Á không chịu trồng ca cao trong xứ và chỉ ưa trồng cọ
dừa. Việt Nam đă có thử cọ dừa ở Công
ty Đất đỏ B́nh
Long trước đây , nhưng ẩm độ và ánh
sáng không thích hợp làm cho cọ
dừa năng xuất kém
và dầu chứa quá nhiều acids.
Trong tương lai, B́nh Phước cần có một
chương tŕnh phát triễn ca cao mạnh dạn hơn,
tiến nhanh hơn như đă vượt cà phê vối
Côte D’Ivoire, nhất là theo thể thức tiểu
điền đa canh, năng xuất tuy có thể kém hơn ca cao quốc doanh
độc canh, nhưng thích hợp hơn cho nông dân cả Kinh lẫn tộc
dân thiểu số.
Thể thức đa canh tiểu
điền có thể giúp phát triễn xen kẽ, ngoài các lọai cây
(khoai ḿ -
sắn , khoai mỡ , khoai sọ
khoai lang, môn, b́nh tinh,
đậu (đổ) rằn đen-đỏ - trắng, đậu
ván, đậu ngự , đậu rồng …, và
nhất là các lọai chuối đất cao (chuối
sứ , chuối mật mốc , chuối cau trắng hay
cau Qủang , chuối Đồng Nai - chuối Ngự thật ra nguồn
gốc B́nh Phước, rừng Phước Long , núi Bà Rá) dễ trồng,
chịu hạn hơn các lọai chuối già cổ
điển , nay đă bán đầy các chợ Á Đông Ca li-Hoa Kỳ,
xuất cảng
được sang Trung Quốc mới đây và
tại sao không? ở Nhật Bản, Nam Hàn). Chuối
rất cần để che bớt ánh nắng cho cây ca cao c̣n nhỏ. Và những
hàng cây bơ - avocado, nhóm nhiệt đới Antille hay
nhóm lai Antille x Guatemala , Gua temala x Mexico đă thử
nghiệm thành công như giống vỏ tím Hass, vỏ xanh Fuerte … Hay xen kẻ hàng sầu riêng (mọc tốt
ở cao nguyên Di Linh kế cận ; Thái Lan từ lâu đă sản xuất trên 1.5 triệu
tấn và xuất khẩu 150 000 tấn sầu riêng một
năm), hàng mít lựa chọn lọai vừa ăn múi, nướng
hột làm hạch quả tương đương hạt
dẽ- marron, chestnut xứ lạnh, vừa làm gỗ tốt, hàng dẽ
bi - macadamia nut (phía bắc tỉnh B́nh Long), hàng chôm chôm ,
hàng mảng cầu xiêm hay mảng
cầu tây - cherimola v.v… cũng
che mát đươc cho
cây ca cao xen kẽ. Và tại
sao không, xen kẻ những hàng
hồng xiêm ( sa pô chê , Ma Mây),
ngay cả sung (vă) tây - ngọt- fig, figues , lọai
không cần ong đặc biệt để sinh trái v.v… Thập niên 1990, Thái Lan đă
xuất khẩu hơn 2 tỉ đô la Mỹ trái cây nhiệt đới, đáng
cho chúng ta suy nghĩ khảo
cứu, khuyến nông,
khuếch trương.
Một
cái nh́n mới về tài nguyên rừng (và đất lâm
nghiệp ), tiếp nối sáng kiến phát triễn nông
nghiệp đất cao (thay v́ phù sa đồng bằng châu
thổ đất thấp
cỗ truyền) cộng tác với Căm Bốt (và Lào)
tranh ảnh hưởng với Trung Quốc, Thái Lan?
Chúng ta đă biết cộng tác mở
rộng phát triễn cao su
với Lào ( và Cam Bốt)
dọc Trường
Sơn Tây ở các chi nhánh phụ lưu sông
Mê Kông, đến tận bờ sông chính biên giới Thái Lan.
Tháng 6/2006, Công ty Hai Nan Natural
Rubber Industry, công ty cao su thiên nhiên lớn nhất Trung
Quốc, qua trung gian của SuiGang Investment Development Co. (?)
được phép chánh phủ Cam Bốt cho khai thác 60 000 ha phát triễn cao su. Việt Nam cũng được phép khai thác
16000 ha
cao su ở tỉnh Mondukiri- Cam Bốt, giáp ranh ba tỉnh Đắc
Lắc, Đắc Nông và B́nh
Phước. 5 công ty công ty chị em miền Đông Nam
Phần của Tổng Công Ty Geruco đă được
chánh phủ Cam Bốt cấp phát
22 000 ha phát triễn cao su và đă
trồng được 4000 ha; riêng Công Ty Phú Riềng thuộc
huyện Phước Long trên 200 ha cao su, cuối
năm 2007. (Nhắc lại là:
Phú Riềng là căn cứ bộ chỉ huy quân sự Miền Nam thời nội
chiến , và trước đó vào năm 1933 là nơi thành
lập một tổ chi bộ Đông Nam đảng
Cộng Sản Đông Dương, có sự tham dự
của hai anh em tộc dân Stiêng là Điều Mol và Mol.
Lộc Ninh là nơi thiết lập chánh phủ Mặt trân
Giải Phóng miền Nam. H́nh
như Geruco và Cam Bốt đă thỏa thuận trong khuôn
khổ phát triễn thỏa ước Tam Giác Việt Miên
Lào (?), nghiên cứu phát
triễn 180 000 ha
cao su ở các chi nhánh sông Mê
Kông thuộc Cam Bốt.
Việt Nam có lợi thế hơn Trung Quốc để
phát triễn cao su vùng này, v́
đă có nhiều dân Miên gốc Việt miền Bắc (
được Pháp mộ phu
vào làm cao su ở đồn điền Pháp trên Cam Bốt từ năm 1921 đến năm
1945 ), biết rỏ các
giống cao su đất đỏ hay đất xám cao
năng hơn các giống cao
su Hải Nam chỉ giỏi chịu
lạnh , cạo mũ sớm hơn, phu Việt lành
nghề cạo mũ hơn
các tỉnh miền Bắc Việt Nam hay dân Hoa ở Quảng Tây ,
Quảng Đông, đă tham gia
quản lư khai thác cao su , chế biến thành sản
phẩm xuất khẩu. Theo L.
Tichit , kỷ sư canh nông Cam Bốt, năm1981, có
đến trên 200 000 người Bắc trên đất Miên.
Thể thức phát triễn
cao su tiểu điền, kư khế ước với GeRuco, xen kẻ đa canh với các cây ăn trái
hay hoa màu lương thực đă phát triễn ở B́nh Long,
Đắc Nông, Tây Ninh cũng thích hợp hơn thể
thức quốc doanh Trung Quốc hay đại công ty tư
Thái Lan dân cạo mũ, chăm sóc chỉ là phu thuê như thời đồn
điền xa xưa. Tổng
số đất đỏ Căm Bốt, Lào có thể trên
750 000 ha.
Tóm lại trong tương lai, Việt- Miên- Lào có hy vọng trồng 2- 3 triệu ha
cao su thiên nhiên, sản xuất trên 3 triệu tấn mũ
khô chế biến, đuổi kịp hay vượt mặt nước
sản xuất lớn nhất thế giới hiện nay là
Thái Lan . V́ hiện nay an ninh ở Việt - Miên Lào đă
ổn đinh phần nào, trong khi Thái Lan đang bị xung
đột giữa dân Hồi Giáo và Phật Giáo ở
vùng cao su miền Nam Thái Lan ,
biên giới Thái - Mă Lai Á .
Thực hiện trong nội địa
chương tŕnh Việt Nam
trồng 1 triệu ha cao su
năm 2015, cần
giải quyết mau lẹ
vấn đề sử dụng hợp lư quĩ vốn đất đai
hơn, v́ B́nh Phước phát triễn cùng lúc nhiều
lọai cây xuất khẩu lâu
năm khác nhau, cạnh tranh nhau .Geruco cho biết không c̣n
đất cấp trồng cao su nữa theo thể thức
quốc doanh đại trà, và trên đất đỏ ph́
nhiêu bị cà phê cạnh tranh ở nhiều tỉnh. Không
những đất nông nghiệp, mà luôn cả đất
lâm nghiệp, có khi cả
đất phát triễn thị trấn tỉnh, huyện, xă phường
nữa hay lấn chiếm, chuyễn nhượng sai
lầm cố ư hay vô t́nh bất hợp pháp đất
đai, vi phạm hành lang lộ giới, mặt bằng …,
đất trưng dụng
dành cho các khu cụm công
nghiệp sử dụng chậm trễ c̣n bỏ hoang hay đặc
biệt chiếm lấn
đất tốt của nông nghiệp bồi ḥan chưa
thỏa đáng .
Trước tiên, cần thêm nhiều sáng
kiến mới mẽ hơn về đất lâm nghiệp,
không thể mô phỏng các khuyến cáo lâm nghiệp các
nước tân tiến đă mở mang, ở một
nước chậm tiến
đang mở mang, dân số
gia tăng nhiều mỗi năm .Ở t́nh trạng thiếu
thốn đất đai cho nông dân sinh sống, khó ḷng duy
tŕ diện tích 351 000 ha đất lâm nghiệp, 51 %
tổng diện tích đất ṭan tỉnh, trong đó có
đến 47.12 % là đất có rừng . Vai tṛ rừng B́nh Phước bảo
vệ môi trường sinh thái, thực vật, động
vật như tê giác, ḅ
rừng, ḅ tót, min - gaur, trâu rừng, vượn, khỉ,
chim chóc… hiếm hay bị
đe dọa tuyệt chủng (công viên quốc gia Bù Gia Mập
và phần công viên Nam Cát Tiên thuộc B́nh Phước…), tác
dụng tham gia điều ḥa
ḍng chảy các con sông trong tỉnh nhà, đóng một
vai tṛ rất quan trọng. Nhưng không thể có ưu tiên
độc đáo trên bảo đảm đời sống
hàng ngày của dân gian, của nông dân thiếu hay không có
đất canh tác. Phải xét
lại quan niệm 17 “ lâm trường “tỉnh nhà, xếp hạng nhiều loai
cây đa niên của thế
nông lâm, hay xen kẻ đầy đủ hệ thống
chống xói ṃn, như thể
cây rừng tái tạo, giảm bớt bảo vệ
những ḷai cây gỗ qúí hiếm có thể trồng dễ dàng dọc đường
phố thị trấn hay có
thể bảo tồn thú -
động vật gần tuyệt chủng bằng phương
pháp tái tạo tinh ḍng - cloning hiện hửu, hầu giải
tỏa nhiều đất lâm nghiệp, rừng, công viên
bảo tồn …cho phát triễn
nông nghiệp cây lâu năm tỉnh nhà. Rút kinh nghiệm
nông dân Căm Bốt biểu t́nh chống đối công Ty
Trung Quốc Wuzhishan, năm 2004, chiếm đất
trồng tập thể 20 000 ha rừng bạch đàn -
eucalyptus , giá tị - teck , bạch dương - poplar, peuplier, giống tuyễn chọn hay giống
lai - hybrid poplar , tại vùng Đắc Dam, gần biên
giới hai tỉnh B́nh Phước và Đắc Nông .
Đẩy
mạnh khuynh hướng đô thị, thị trấn hóa
Tỉnh B́nh Phước cũng như
miền Đông Nam Phần (Nam Bộ) có tỉ lệ thị trấn,
đô thị hóa lớn
nhất Việt Nạm. Nay
đă có hơn 50 % dân chúng miền, tỉnh, huyện
sống ở thị trấn lớn nhỏ, trong khi con
số cho Việt Nam trung b́nh
chỉ là 25 %; 75 % dân chúng c̣n quá đông đúc ở thôn
ấp, làng xă.
Trước tiên là nhờ phát triễn
những cơ sở , nhà máy biến chế nông phẩm, cây
lâu năm tỉnh nhà. Cao su cần lưu tâm thêm
áp dụng kỷ thuật chế biến ít ô nhiễm
hơn đă có ở các nhà máy Ấn độ, lập nhà
máy làm lốp xe qui mô ( xe vận tải, xe hơi , xe mô tô,
xe đạp …) hay các vật dụng chế tạo bằng cao su thiên
nhiên, tổ chức thu gom hột cao su chế tạo diesel
sinh học hay chế biến thành
thực phẩm nuôi cá, nuôi súc vật. Cần tận dụng trái hột
điều cũng như nhiều trái cây khác làm
nước uống, giải khát, vỏ hột điều
làm sơn, dầu đặc
biệt, làm than hoa.
Năm 1997, B́nh
Phước chỉ mới có
5 công ty quốc doanh và 175 công
ty tư doanh đăng kư cở nhỏ , thủ công phần lớn liên hệ
đến nông nghiệp .
Năm 2000 đă có 1306
doanh nghiệp, 31 công ty vốn ngọai quốc, đầu
tư trên 100 triệu đô la Mỹ. Năm 2006, B́nh Phước đă tạo ra 38
000 công ăn việc làm ,
nhờ cải thiện hạ tầng cơ sở và thiết lập 8 khu-
cụm công nghiệp, tổng diện tích trên 2100 ha .
Triễn khai cụ thể, có kết quả là khu công nghiệp Chơn Thành - xă
Thành Tâm , khu công nghiệp
đầu tiên của B́nh Phước , nay đă có 6 dự án đầu tư
vốn đăng kư là 3 triệu đô la.Tiếp
đến là khu công nghiệp Tân Khai, xă Tân Khai, huyện B́nh
Long; khu công nghiệp Nam Đồng Phú , xă Tân Lập,
huyện Đồng Phú ; khu công nghiệp Minh Hưng, xă Minh
Hưng, huyện Chơn Thành, giai đoan một giao cho Vina Hàn quốc làm chủ đầu tư xây
dựng hạ tầng cơ sở hiện có 5 dự án tổng
vốn đăng kư 14
triệu đô la; khu công nghiệp Nam Đồng X̣ai và Đồng Phú, thị trấn
Tân Phú huyện Đồng Phú
và xă Tiến Hưng thị xă Đồng Xoài đă giao cho cômg ty cao su Đồng Phú làm chủ đầu tư;
cụm công nghiệp Tân Thành, xă Tiến thành và xă Tân Thành,
thị xă Đồng Xoài hiện đă có 6 dự án
đầu tư tổng
vốn 11 triêu đô la và có thêm
9 nhà đầu tư trong
nước đang làm thủ tục đầu tư .
B́nh
Phước cũng có khá nhiều
tài nguyên khóang sản. Đă phát hiện 91 mỏ ,
điểm quặng, điểm khóang với 20 lọai khóang sả thuộc 4 nhóm : nguyên
liệu phân bón , kim lọai, phi kim lọai, đá quư và bán
qúy. Nguyên vật liệu xây
dựng ( đá , cát , latêrit , puzơlan, cao lanh, đá vôi,
đặc biệt mỏ đá vôi Tà Thiết. Cuối
năm 2007, đă khánh thành nhà
máy xi măng B́nh Phước ở huyện B́nh Long,
thuộc tổng Công ty Hà tiên 1, tổng vốn đầu
tư 300 triệu đô la, công xuất 1.5 triệu tấn
xi măng và clinkơ . Nếu giải quyết thỏa đáng vấn đề
ô nhiễm sông hồ Đồng Nai - Sông Bé , tương lai
c̣n có thể khai thác 320
triệu tấn bô- xít
nguồn gốc laterit, tương đương với
số lượng bô xít Krong Nừng tỉnh Gia Lai , tuy ít hơn Đăc Nông .
Tương
lai phát triễn B́nh Phước
Lẽ dĩ nhiên muốn phát triễn
nông nghiệp, thị trấn
hóa mau lẹ hơn, B́nh Phước phải đặt
ưu tiên phát triễn hạ tầng giao thông tỉnh,
hiện c̣n thấp kém nhất
miền Đông Nam Phần. Đặc biệt nâng
cấp hai quốc lộ
tỉnh Quốc lộ số 13 nối liền thành phố
Sài G̣n với Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh đến thị
trấn cửa khẩu Hoa Lư, biên giới Việt Miên.. Quốc lộ số 14 nối Chơn Thành với thị
xă Đồng X̣ai, rồi thị xă Gia Nghĩa - Đắc
Nông và thị xă Ban Mê Thuột-
Đắc Lắc. Thị xă
Đồng X̣ai tỉnh lỵ B́nh Phước thay cho
hai tỉnh lỵ An Lộc - B́nh Long cũ và Phước B́nh -
Phước Long cũ , cách thành phố Sài G̣n 128 km, cách Gia Nghĩa 119km và cách Ban
Mê Thuột 244 km. Hai quốc
lộ này nối liền những thị trấn mới
cũ, có cơ làm thành
những pḥng tuyến khi nguy biến, ǵn giữ biên
cương, đặc biệt “ mái nhà Tây Nguyên “ gồm các tỉnh Kon Tum , Plei ku -
Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và hậu cần
Sài G̣n. Nếu chuyễn
biến ngay được
t́nh thế nội chiến xâm nhập trước đây của B́nh
:Phước ( nhiều chuyên gia quân sự Hoa Kỳ qui trách
cho là miền Nam thất
trận khi mất Phước Long, tháng giêng năm 1975 ), qua t́nh thế mới bảo vệ
nước nhà ở lảnh địa . V́ nay hải quân Trung Quốc quá lớn
mạnh, đuổi gần
kịp Hoa Kỳ ( tàu nổi , tàu ngầm , hỏa tiễn
xuyên 1m xi măng cốt thép, do
thám vệ tinh…) khó ḷng ǵn giữ chống Trung Quốc tàn phá các
cảng Biển Đông, Vũng Tàu - Bà Rịa, lỡ khi Việt Nam bị xâm
lăng. C̣n không quân Trung Quốc thả bom ở lảnh địa th́
vẫn c̣n thua xa không quân Nga và Hoa Kỳ, theo ước
lượng các chiến lược gia quân sự quốc
tế. Có khi có lẽ nên nghĩ
đến thiết lập công nghệ quốc pḥng B́nh
Phước ở vùng núi Bà Rá - Thác Mơ - Phuớc B́nh
như đă làm ở Tam Đảo - Việt Tŕ miền
Bắc chăng?
(Irvine- Ca Li, 22
tháng 3 năm 2009 ).