Xây dựng Hành Lang Xuyên Á Việt-Thái-Miên thứ hai,
nối Biển Đông Việt Nam với biển Andaman
Miến Điện,
và đẩy mạnh phát triễn tỉnh Tây Ninh
GS Tôn Thất Tŕnh
Trong hai hành lang Miên–Viêt-Thái-Miến, nối
Biển Đông Việt Nam với biển Andaman Miến Diện,
Ngân Hàng Phát Triển Á Châu - ADB dự trù tài trợ phần
nào trong khuôn khổ Ủy Ban Mê Kông Nới Rộng -
Greater Mekong Subregion.
Hành Lang Biển Tây, ADB goi tên là Southern Coastal
Corridor, nối Cà Mau đến Dawod (Miến), qua Rạch
Giá - Hà Tiên – Kampot - Koh Kong - Trat - Chantabun, BangKok, sắp khởi công
đầu năm 2009; và Hành Lang
nối cảng Qui Nhơn (B́nh Định) hay cảng
Vân Phong ( Khánh Ḥa) cũng
với Dawod, biển Andaman.
Hành Lang Xuyên Á chưa có tên này chia ra hai nhánh.
Nhánh thứ nhất từ Qui Nhơn hay Vân Phong với Bang
Kok qua Stung Treng - Siem Reap (đoạn này mới dự trù sẽ làm
năm 2011?) - Sisophon . Nhánh
thứ hai nối Vũng Tàu qua Tây Ninh , Kompong Cham , gặp
nhánh thứ nhất ở Siem Reap hay từ Vũng Tàu qua
của khẩu Mộc Bài rồi Svay Rieng- PnomPenh , gặp
nhau ở gần Sisophon. Năm 1998, Ngân Hàng Phát triển
Á Châu đă chấp thuận 144.8 triệu, nâng cấp con
đuờng gọi là Xa lộ Xuyên Á - TransAsian Highway,
đọan nối Sài G̣n với Nam Vang - Pnom Penh dài 250 km , phần Cam Bốt có tên là
Quốc lộ số 1, phần Việt Nam là quốc
lộ 22, qua Hóc Môn, Củ Chi ,
Trảng Bàng , G̣ Dầu, cửa khẩu Mộc Bài, Svay Tep,
Svay Rieng , Kompong Trabek, Banam, Kien Svạy. Đọan này
phải xong vào năm 2002, sau đó lại tài trợ mở
rộng xa lộ hai lằn thành 4 lằn, rộng 14 m, chạy được
tốc độ 80 km
một giờ, nối thị
trấn Tây Ninh với thị trấn Prey Veng, dài 80 km, không rơ nay đă hoàn
tất chưa?
Đôi chút lịch sử thành lập
tỉnh Tây Ninh
Từ thế kỷ thứ 17, người
Việt đă đến
vỡ đất làm ruộng tại hai vùng thuộc quyền
Chân Lạp (Chen La) bảo hộ là Đồng Nai (Biên Ḥa)
và Mỗi Xuy (Bà Rịa). Vua
Chân Lạp Chey Chetta II, muốn có đối lực chống lại lân bang nguy
hiểm hơn là Tiêm (Xiêm) La, xin cưới một công
nữ con chúa Nguyễn, mong được sự ủng hộ
của triều đ́nh Thuận Quảng. Chúa Săi Nguyễn
Phước Nguyên, năm 1620, đă gă con gái là công nữ
Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp. Năm 1623, vua Chey Chetta II
chấp thuận cho Chúa
Nguyễn lập cơ sở ở Prey kor, tiền thân thành
phố Sài G̣n , thâu thuế
khuyến khích dân Việt di cư làm ăn trên
đất này và phái một tướng lảnh đến đóng ở Prey Kor
nữa . Như vậy đến nay, Sài G̣n đă được bắt
đầu thành lập 385 năm, thay v́ chỉ trên 300 năm như ước
tính chánh thức hiện nay. Năm 1689, Chúa Nghĩa Nguyễn
Phước Trăn phái Mai Vạn Long, Phó tướng
Trấn Biên (lúc đó chỉ
mới đến tỉnh Phú Yên ngày nay) cầm quân đi
đánh Hoàng Tiến (có khi gọi là Huỳnh Thắng)
đă giết chủ tướng Long Môn là Dương
Ngạn Địch và vua Cao mên là Nặc Thu không c̣n chịu
thần phục, lấy được 3 Lũy: G̣ Bích , Cầu Nam (Banam), Nam Vang (theo
tài liệu Pháp, lần này Việt Nam chỉ chiếm Long Úc
(Oudong) mà thôi. Năm 1690, tướng Nguyễn hữu Hào,
thay tướng Mai Vạn Long
mới chiếm Nam Vang. Năm 1698, Chúa Minh Nguyễn Phước Chu, sai
Kinh Lược Nguyễn hữu Kính chia đất Đông
Phố ra hai, lấy xứ Đồng Nai (người Tàu gọi là Nông Nại)
đặt huyện Phước Long lập dinh Trấn Biên
(tức tỉnh Biên Ḥa), lấy xứ Sài Côn đặt
huyện Tân B́nh, lập dinh
Phiên Trấn (tức Gia Định), và đặt Phủ
Gia Định để thống thuộc hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn.
Năm 1692, khi vua Chiêm là Bà Tranh bị quân Nguyễn đánh
bại , một số người Chiêm chạy sang Cao Mên, được vua Miên là Nặc Thu cho ở gần
Lôvek (Lô Việt- Angkor Vat), sử ta
gọi là Côn Man hay Vô tỳ Man, Cao Mên nhập chung
với dân Mă Lai gọi là Khmer Hồi giáo - Khmer islam. Người Côn Man hay
bị người Miên bắt làm nông nô. Năm 1753, chúa Vơ Nguyễn
Phước Khoát cử
Thiện Chinh làm thống suất, Nguyễn Cư Trinh làm
tham mưu, chuẩn bị đánh Chân Lạp, lấy danh
nghĩa bênh vực người Côn Man . Năm 1754 ,
Nguyễn Cư Trinh đánh
quân Miên tan chạy; dân 4
phủ Lôi Lạp ( G̣ công), Tầm Bôn (Tân An), Cầu Nam (Ba
Nam), Nam Vang, đều
đầu hàng , sai biệt tướng là Chấn Long
đến phủ Trầm trầm Xiêm (Kompong Cham) chiêu
dụ người Côn Man.. Năm
1755,Thiện Chinh ra lệnh cho người Côn Man
rời Kha tung , tức là Katum phía Bắc tỉnh Tây Ninh,
sử ta gọi là Kha Khâm, xuống G̣ Vấp, bị hơn một vạn quân
Miên, đuổi theo đánh úp ở Vô Tà Ơn. Nguyễn Cư
Trinh đem 5 đạo quân cứu ứng ; quân Chân Lạp
phải rút lui. Nguyễn Cư Trinh bảo vệ, đem hơn 5000 trai gái Côn Man về
đóng ở chân núi Bà Đinh (tức Bà Đen).
Trương Phước Du thay thế Thiện Chinh làm
thống suất, dùng người Côn Man ấy, trở
lại đánh Cầu Nam, Nam Vang. Vua Chân Lạp Nặc
Nguyên phải dâng đất
Tầm Bôn và Lôi Lạp chuộc tội . Tưởng cũng
nên nhắc lại là vùng này, ngoài dân Miên, dân Việt và dân Côn
Man gốc Chăm ( Chiêm ) c̣n có thể có cả dân Che Mạ
(Mạ, Cop, Koho, Churu hay Trau…). Che Mạ một tiểu
quốc trái độn
giữa Chiêm Thành và Chân Lạp, nguyên dưới quyền
thống trị của nước Phù Nam, không gây ra một
biến động nào, khi quân
Nguyễn đi ngang qua, và đă tan biến, khi công cuộc Nam tiến Việt
Nam hoàn tất (nhà Văn Sơn Nam có nhắc đến
tộc dân Mạ này).
Sau khi đô đốc Rigault de Genouilly, khó
khăn đánh bại tướng Nguyễn Tri Phương,
phá đồn Kỳ Ḥa, pḥng vệ Gia Định, đánh
chiếm tương đối dễ dàng hơn lục tỉnh Nam Kỳ, vua Tự Đức đă phải
rút lui khỏi Nam Vang và trả
lại cho Cao Mên những đất đai mà Trương
Minh Giảng đă lấy được, kể cả các vùng như Cần Bột (Kampot),
Vũng Thơm
(Hương Úc - Kompongsom), Chân Rùm (phía Nam
tỉnh Treang) Sài Mạt, (Bentey Méas), Linh Qùynh .
Thời vua Gia Long , Nam Kỳ chỉ gồm 5 trấn (tỉnh) của miền Đồng Nai là
Trấn Biên
(Biên Ḥa),Trấn Phiên (Gia Định), Vĩnh Trấn (Vĩnh
Long / An Giang và trấn Hà Tiên. Năm trấn này trở thành 6 tỉnh, Nam Kỳ Lục Tỉnh vào
thời các vua Minh Mạng - Tự Đức; gồm Biên
Ḥa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An
Giang (Châu Đốc) và Hà Tiên.
Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ gồm 21
tỉnh, là các tỉnh Thuộc
địa- Colonie, thay v́ chỉ là Bảo Hộ -
Protectorat. Các đốc phủ sứ chỉ
đứng đầu quận (huyện, phủ thuộc địa), thay
v́ đứng đầu tỉnh . C̣n ở xứ Bảo hộ vẫn duy tŕ Tuần
vũ,Tổng đốc đầu tỉnh, tuy rằng
thực quyền là các công sứ - residents người
Pháp đầu tỉnh, song song
với hành chánh Nam Triều
Tỉnh Tây Ninh xuất hiện từ
thời Pháp thuôc. Năm 1833 (?),
thời vua Minh Mang,Tây Ninh chỉ là 2 huyện Tân Ninh và Quảng Ḥa, thuộc tỉnh Biên Ḥa (?). Giai thọai đáng nêu ra h́nh thành
Mỏ Vẹt biên giới hai nước, con
đường Xuyên Á băng qua, thuộc hai tỉnh Long An và Tây Ninh. Theo nhà học
giả Đoàn Thêm, khi Pháp thành lập Liên Bang Đông
Dương (Đông Pháp) ngày 17 tháng 10 năm 1887, Thống
đốc Nam Kỳ phải
đo đạc, qui định ranh giới giữa Nam
kỳ và Cam Bốt. Thay v́ đo đạc, kỹ sự
phụ trách đóng cọc mốc, phân chia theo nơi nào ông đến
được, không hề chú tâm đến lịch
sử, dân cư…, làm ra h́nh lạ lùng biên giới Mỏ
Vẹt .
Địa lư Tây Ninh
Tây Ninh nằm vào 10057’08” đến
11046’36” vĩ tuyến Bắc và 105048’43”
đến 106022’48” kinh tuyến Đông. Phía Tây và tây
Bắc giáp Cambốt, phía Đông giáp B́nh Dương và B́nh
Phước, phía Nam giáp thành phố Sàigon-Hồ Chí Minh và
Long Ạn. Diện tích là 4035.45 km2, dân số năm
2005 là 1 038 616 người, tính ra có đến 26 tộc dân, đông nhất là dân
Kinh, Pháp mộ dân từ
Bắc Kỳ, đa số vào làm phu cạo mũ các
đồn điền cao su, tập trung đông đảo
ở thị trấn Tây Ninh và các huyện phía Nam tỉnh là
Ḥa Thanh, G̣ Dầu, Trảng Bàng. Dân phu cạo mũ cũng
rất đông bên phía Cao Mên làm nhân công các Công ty đồn điền
cao su Cao Mên, Pháp thiết
lập năm1921, ở các vùng đất đỏ Kompong Cham
và Kratié. Ước
lượng tổng số cả hai nước có
đến trên 200 000 người. Theo J. Delvert
(Le paysan
Cambodgien -1961 ), nông dân Cao Mên lúc đó không biết ngành cao su
thiên nhiên . Kỹ sư Canh Nông Cao Mên L. Tichit, năm 1981, cho
biết đến ngày 31 tháng 12 năm 1967 , các đồn
điền cao su Cao Mên đă sử dụng trung b́nh 21 000 phu cạo mũ Bắc
Kỳ . Các tộc dân khác Cao mên gọi chung là Khmer
Thượng - Khmer loeu (
Pear hay Por chuyên hái đậu khấu - hột gừng
xanh - cardamomes ; Kouy chuyên làm
thợ rèn , Kha , Samrès , Phnong - M’nong … ).
Tỉnh Tây Ninh ngày nay gồm một thị trấn (Tây
Ninh) và 8 huyện là Tân Biên , Tân Châu, Dương Minh Châu , Châu
Thành, Ḥa Thạnh, Bến Cầu , G̣ Dầu , Trảng Bàng .
Khí hậu Tây Ninh chia ra 2 mùa rỏ
rệt, mùa khô từ tháng
chạp năm trước đến tháng tư
và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Vũ
lượng mỗi năm trung b́nh 1800- 2200 mm, ẩm
độ trung b́nh 70- 80 %. Nhiệt độ tương
đối cao 27.40 độ C trung b́nh; nhiều ánh sáng
mặt trời , trung b́nh trên 6
giờ nắng một ngày. Đồng thời nhờ nằm sâu trong lục
địa nên ít bị bảo tố, nhiều giống,
tinh ḍng cao su mọc tốt, không bị đổ găy như
cao su trồng cạnh bờ biển Quảng B́nh.
Về thủy văn, Tây Ninh có 2 sông lớn
là sông Sài G̣n và sông Vàm Cỏ
Đông .
Sông Sài G̣n
bắt nguồn từ vùng đồi núi Lộc Ninh
tỉnh B́nh Phước ở
cao độ khỏang 200m , chảy theo hướng
Đông Bắc - Tây Nam là ranh
giới thiên nhiên giữa
tỉnh Tây Ninh và hai tỉnh B́nh Phước, B́nh Dương. Ở
thựợng nguồn sông Sài G̣n,
đă xây dựng xong
hồ Dầu Tiếng , dung tích hửu hiệu là 1.45 tỉ m3, diện tích mặt hồ là 27 000 ha ( Tây Ninh
chiếm 20 000 ha,
có khả năng tưới 175 000 ha đất trồng trọt các
tỉnh Tây Ninh, Long An và thành
phố Hồ Chí Minh .
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn ở
Cam Bốt trên cao độ 150m, chảy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam dài 220
km , 151
km trong tỉnh Tây Ninh. Đáng kể
nhất là Tây Ninh c̣n nguồn nước ngầm phong phú ,
phân bố khắp tỉnh , có thể khai thác 50- 100 000 m3 / giờ, mùa khô cũng có thể
khai thác cung cấp nước
uống , nước cho sản xuất nông nghiệp và công
nghiệp tỉnh
Tây Ninh địa đầu chiến tranh Miên Việt
vùng cao, phát triển chung cây
công nghiệp hai nuớc.
Ngay cả trước thời Pháp thuộc
Đông Dương kết thúc năm 1954 - 1955, nhưng
năm trước đó chiến tranh vẫn tiếp
diễn liên miên. Ở phạm
vi Tây Ninh là các chiến khu Dương Minh Châu, Bời
Lời…Đến thời Việt Nam Cọng Ḥa , miền
Bắc thiết lập thêmTrung Ương Cục miền
Nam hay Cục R ở các
tỉnh biên giới Cao Mên và Tây Ninh, cũng cố mật
khu Dương Minh Châu , Bời Lời, đào địa
dạo An Thới v.v…
Sau 1975 , khi Khmer đỏ Pol Pot đe
dọa nặng nề xâm chiếm Tây Ninh, Việt Nam đă
sử dụng con đường Xuyên Á tiến
chiếm Nam Vang. May thay từ
1979 đến nay, chiến tranh đă chấm dứt và
thời kỳ ḥa b́nh cộng
tác phát triển hai nước
Miên - Việt đă thật sự khới đầu
.
Đáng kể ra trước nhất là phát triển
ngành trồng cao su thiên nhiên.
Tây Ninh là một trong ba tỉnh (hai tỉnh
kia là B́nh Dương và nhất là B́nh Phước)
đầu sổ phát triển cao su thiên nhiên Việt Nam. Năm
2006 , diện tích cao su Tây Ninh 54 521 ha, và năm
2008 có lẽ sẽ trên 60 000 ha.
Việt Nam, năm 2008, đă trồng
được gần 500 000 ha hy vọng đạt
diện tích 700 000
ha vào năm 2010.
Mức xuất khẩu dự trù là 780 000 tấn latex chế biến đủ
lọai, trị gíá 1.5 tỉ
đô la Mỹ. Việt Nam đă đầu tư phát triển
cao su ở Lào và ở Cam Bốt , mỗi nước
chừng 100 000 ha
. Chỉ riêng cho Cam Bốt,
năm 1966, ước
lượng c̣n đến 350 000 ha đất đai trồng cao su
tốt đẹp . Ngoài khí hậu thích nghi, Tây Ninh có đặc điểm là
trồng cao su cao năng được ở đất
xám, thay v́ phần lớn đất
đỏ basalt ở B́nh Phước. Diện tích
đất xám ở Tây Ninh
chiếm gần 340
000 ha , trên 84% đất đai toàn tỉnh,
nhưng ttrên đất xám phải tranh dành với những
cây công nghệ khác như mía
đường (Tây Ninh đứng hạng nhất
nước năm 2002 diện tích 32 000 ha , trên cả
Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên),cà
phê Robusta, đậu phụng (lạc, có lúc đă nhất nước tính theo
diện tích năm 1995 là 41 000 ha, nhưng
năm 2006 chỉ c̣n 23
500 ha),cây khoai
ḿ (sắn),Tây Ninh cũng đứng hạng nhất
nước năm 2002 chừng 27 000 ha, năm 2006
trên 43 000 ha)
, chế tạo bột năng tapioca, nguyên liệu làm
bột ngọt và đặc biệt là cây hột điều (đào lộn hột)
- cashew nut.
Tây Ninh cũng là một trong vài tỉnh hàng
đầu sản xuất
hột điều xuất khẩu. Việt Nam đă
xuất khẩu trên 35 000 tấn nhân hột điều, 4 tháng đầu năm 2008, trị giá
139 triệu đô la . Dự
trù năm 2010, trồng 450 000 ha,
sản xuất 500 000 tấn hột c̣n vỏ trị
giá 670 triêu đô la, nếu giá không trụt qúa nhiều.
Năm 2002 dự trù xuất khâu nhân hột điều
trị giá 820 triêu đô la Năm 2006, Việt Nam đă
xuất khẩu nhân trị giá trên 500 triệu đô la . Năm
2006 , Việt Nam đă đứng hạng nhất
về xuất khẩu nhân hột điều. Tuy nhiên sẽ không đủ
hột c̣n vỏ cho 220 nhà máy
đốt cháy vỏ, chế biến thành nhân hột
điều xuất khẩu .Dự trù năm 2010 sẽ
phải nhập khẩu 125 000 tấn hột nguyên liêu c̣n
vỏ cứng của Mozambique,
Inđô nêxia và Tanzania . Sở dĩ phải nhập khẩu
là v́ năm qua và đầu năm nay giá cao su thiên nhiên lên cao, dân chúng gọi
mủ cao su là vàng trắng - white gold , đốn bỏ cây hột điều làm
củi, thay bằng cây cao su,
như ở tỉnh B́nh Phước năm nay . Ngoài
giống hay tinh ḍng, cải thiện canh tác tăng gia
năng xuất, phải tổ chức phân loai theo những
điều kiện đi sâu hơn về tiểu khí
hậu , tiểu thổ nhưỡng - đất đai …thích
nghi cho mỗi ḷai cây mỗi giống hay tinh ḍng cao năng,
siêu năng đă, hay cần
thí nghiệm thêm, chiếu theo những tiến bộ
kỷ thuật mới mẽ nhất trên thế giới,
đặc biệt ở những trung tâm quốc
tế liên hệ .
Đồng thời phải cố tạo những cơ
chế thương măi, tài
chánh, tín dụng … bền vững hơn, giải tỏa mọi thăng trầm gíá cả
quốc tế và quốc nội,
luôn luôn xảy ra ở ngành nông.. Cũng nên nghĩ
đến đa lọai thêm các cây công nghiệp khác như cây mít lọai nhiều hột
ngon như hột dẽ -
chestnuts, lai tuyển
cao năng và ra trái
sớm, bổ sung phần nào cho nhân hột điều, ở Úc Châu , Thái Lan , Florida . Nhất là ca cao
chế biến sô cô la, Việt Nam dự trù trồng 60 000 ha năm 2015
và 80 000 ha
năm 2020.
Tương lai hướng về đâu? Dùng
điện đập Stung Treng, nước sông Mê Kông và
đường xe lữa Vân Phong - Khánh Ḥ ,Nha Trang, Sài G̣n,Tây
Ninh, Kompong Cham,Đắc Nông?
Nhờ công nghệ chế biến nông sản,
công nghệ làm vỏ xe ô tô, nhà
máy xi măng Tây Ninh dự trù sản xuất 1.2 -1.4
triệu tấn khai thác các đá vôi hai huyện Tân Châu và
Tân Biên, lập ra các cửa khẩu giao dịch với Thái
và Cam Bốt như Mộc Bài, Xà mát cùng với các khu công
nghệ …, mở mang du lịch nhắm Núi Bà Đen (nơi bà Lư thị Thiên
Hương , không chịu ép
buộc lấy con quan giàu có
đia phương, đă
mặc áo đen nhảy từ đỉnh Núi tự
vận (?)) hay Thánh thất Cao Đài (một tôn giáo “thuần túy“ Việt Nam, v́
đă cố dung ḥa những tinh vi tôn giáo xă hội lớn
thế giới là Phật Giáo (nguồn gốc ) Ấn
Độ , Cơ đốc Giáo Tây Phương, Khổng
Giáo - Lảo Gíáo Trung Hoa, các mật khu thời chinh
chiến như Cục R, Dương Minh Châu, Bời
Lời, địa đạo An Thới; nên sác xuất nông
nghiệp Tây Ninh năm 1976 là 89 %, năm 2005 chỉ c̣n 38.25 % và đă bị công nghệ,
dịch vụ vượt xa .
Tương lai Tây Ninh có thế nhắm về thực
hiện đập thủy điện Stung Streng đưa điện về cho Tây Ninh,
hiện nay chỉ mới sử dụng điện
đập Thác Mơ hay cho
cả mạng lưới
điện Việt Nam và Cam Bốt. Năm 2005, mỗi người Việt Nam,
mỗi năm trung b́nh chỉ xài chưa đầy 500 kW/giờ,
trong khi mỗi dân Thái Lan được xài đến 1800
kW/ giờ, gần 4 lần dân Việt Nước hồ
chứa Stung Treng, sẽ cố gắng đưa về
tiếp sức cho sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài G̣n. Đường sắt khổ
rộng hơn, Việt Nam dự trù
xin Ngân Hàng Phát triển Á Châu tài trợ cho khu vực Nam, từ Vân Phong
đến gần Kompong Cham
qua Nha Trang, Phan Thiết, Biên Ḥa, Tây Ninh, có lẽ nên sửa
đổi đôi chút. Thay v́ qua biên giới Cam Bốt, nên
đi ngược Tây Ninh qua Đồng Phú - Đồng Xoài,
tiến đến tỉnh
Đắc Nông, khai thác kinh tế tỉnh B́nh Phước
và quặng bauxit chế tạo nhom tỉnh Đắc Nông?
(Irvine, CaLi, ngày 19 tháng 11 năm 2008)