PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trần
Văn Đạt
1. Tổng quan
Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do phù sa thượng
nguồn của sông Đồng Nai, Cửu Long và
nước biển bồi đắp; cho nên đất
đai thấp, bằng phẳng, nhiều sông rạch và
rất phì nhiêu. Về khảo cổ học, đồng
bằng này chỉ mới tái xuất hiện vào thời
kỳ đồ đá mới giữa, cách nay độ
5.000-6.000 năm sau cu?c bi?n ti?n lâu dài. Trái với các báo cáo
trước đây, ĐBSCL đã trải qua nền văn
hóa bản địa khá lâu, cách đây ít nhứt 3.000
năm (đồng lúc với thời đại Hùng
Vương), với nền văn hóa Óc Eo và tiền Óc Eo
trải dài khắp đồng bằng hạ lưu sông
Cửu Long và miền Đông Nam Phần (1, 2). Các di chỉ
khảo cổ cho biết rằng những công trình xây
dựng nhà cửa đền thờ cổ ở Miền
Nam hợp thành một kiến trúc bản địa
với quá trình phát triển cách đây khoảng 2.600 năm.
Tại Bưng Bạc thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu, di tích
nhà sàn được định niên đại ở vào
thời kỳ này hoặc sớm hơn (2). Sự biến
mất của nền văn hóa Óc Eo sau Công Nguyên có thể
do ngập lụt cho thấy nền văn minh hiện nay
của ĐBSCL có thể bị đe dọa trong các chu
kỳ băng tan do thiên nhiên và con người tạo nên cho
môi trường trong tương lai?
Diện tích thiên
nhiên của vùng ĐBSCL chiếm 12% của nước,
trong đó có 3 triệu hectares (ha) đất canh tác, hay
gần 33% của tổng diện tích đất, gồm
48,8% đất trồng lúa và 51% diện tích nước
dành cho thủy sản. Dân số ước độ 18
triệu người, chỉ chiếm 21,4% toàn quốc (3),
nhưng vùng này được xem là một nôi sản
xuất thực phẩm lớn nhứt cả nước.
Độ 80% là thành phần nông dân rất năng
động, hấp thụ nhanh những kiến thức
mới, kỹ thuật tiến bộ nếu có cơ
hội và có lợi cho họ; nhưng chủ yếu họ
chỉ khai thác nguồn tài nguyên: ??t-n??c-sức người
sẵn có mà thôi. Đó là nghề nông. Đa số chưa
được đào tạo, hướng dẫn triệt
để tham gia những hoạt động kinh doanh khác
có hiệu năng kinh tế cao hơn. Đây là nguyên nhân
cơ bản làm trì trệ tiến bộ về vật
chất của giới này ở đồng bằng qua
nhiều thế kỷ.
Mức tăng trưởng kinh
tế (GDP) bình quân hàng năm của ĐBSCL đạt
đến 10,41% so với cả nước 7,5-8% (3). Dù
thế, hiện nay đồng bằng này đang
đối diện với một nghịch lý về
mặt văn hóa xã hội: đồng bằng đã
sản xuất hơn 50% sản lượng lúa, 90% gạo
xuất khẩu, 65% sản lượng thủy hải
sản và 70% sản lượng trái cây cả nước;
nhưng đời sống của nông dân không chỉ nghèo
khó mà còn yếu kém về mặt văn hóa, trình độ
học vấn thấp hơn mức bình quân của cả
nước (4)!!! Trước năm 1975, ĐBSCL vẫn
được xem là vùng phồn thịnh và giàu có hơn các
vùng khác. Đó là sự mất cân bằng do qui hoạch phát
triển đất nước và phân phối lợi
tức quốc gia. Ngoài ra, lý do nghèo khó của nông dân phát
xuất từ một đời sống hoàn toàn dựa vào
nền nông nghiệp. Giá cả nông sản chính như
ngũ cốc trên thế giới sút giảm liên tục từ
giữa thập niên 1970 cho đến nay, do sử dụng
kỹ thuật mới và sản xuất nhiều; trong khi
chi phí đầu vào, đặc biệt phân hóa học,
thuốc sát trùng và nhân công tiếp tục gia tăng. Chính
sách an ninh lương thực hiện nay quá cứng
nhắc, không cho phép các vùng sản xuất dư thừa
thực phẩm chuyển đổi đất trồng
lúa qua các sản xuất khác có giá trị kinh tế tốt
hơn, mặc dù sự chuyển đổi này không ảnh
hưởng gì đến mức an ninh lương thực
cả nước. Ngoài ra, còn thiếu chính sách trợ giúp
phù hợp cho nông dân sống trong cảnh nghịch lý nêu
trên, nên tình trạng nghèo khó triền miên không thể tránh
được. Thông thường, sự nghèo khó bắt
buộc nông dân cố gắng sản xuất nhiều thêm
để sinh tồn, để đủ nuôi gia đình;
cho nên, mức sản xuất ngày càng tăng thêm, sản
lượng lúa dư thừa dành cho xuất khẩu,
nhưng gia đình họ vẫn luôn sống trong thiếu
thốn! Cũng vậy, hàng năm Việt Nam xuất
khẩu thủy hải sản hơn 2 tỉ Mỹ kim
trong hơn thập niên qua, nhưng đa số nông ngư
dân đánh bắt nuôi cá tôm vẫn còn nghèo khổ!
Trên thế giới, chưa
thấy một nước nông nghiệp nào trở nên giàu
mạnh. Chỉ thấy các nước phát triển, trong
quá trình tiến bộ của họ, đã chuyển
dịch từ nền kinh tế nông nghiệp qua công
nghiệp, dịch vụ, du lịch và truyền thông.
Nước Mỹ trong giai đoạn lập quốc, nông
nghiệp chiếm hơn 90% GDP, năm 1900 còn dưới
50% và hiện nay dưới 1%, nhưng họ vẫn sản xuất dư thừa thực
phẩm. Cho nên, ĐBSCL phải dứt khoát tranh thủ
chuyển mình phát triển kinh tế với tỉ trọng
nông nghiệp giảm dần, tăng tốc phát triển
công nghiệp nhỏ và vừa, dịch vụ và du lịch;
nếu không như thế, cần phải có giải pháp
trợ cấp đầy đủ để nông dân có
đời sống tốt hơn, không quá cách biệt
với đô thị, như từng thấy ở các
nước phát triển.
2. Những nỗ lực chủ
yếu cho phát triển ĐBSCL
Trước
tiến trình toàn cầu hóa và sự gia nhập vào WTO
của đất nước, những nỗ lực xây
dựng và phát triển kinh tế của ĐBSCL càng
trở nên cấp bách để xóa đói giảm nghèo và
cải tiến mặt văn hóa và giáo dục hầu
hội nhập mau lẹ vào cộng đồng thế
giới. Các bức xúc này đã được các giới
trách nhiệm trung ương, địa phương và
quần chúng liên hệ quan tâm nhiệt tình, nhưng các
chính sách và kế hoạch thi hành chưa được
đề xuất và thực hiện thỏa đáng
· Cần Có
Các Sách Lược Thích Đáng
Tất cả
sự tiến bộ và phát triển đất nước
đều xuất phát từ các chính sách và qui hoạch
hợp lý, đứng đắng. Thật vậy, trung
ương đã có Nghị Quyết kinh tế quan trọng
21/NQ/TW nhằm các chiến lược và tìm các giải pháp
cho phát triển vùng ĐBSCL trong thập niên 2001-2010.
Tiếp theo Quyết Định của Chính Phủ về
phát triển kinh tế và xã hội của đồng
bằng này từ năm 2001-2005 và hiện nay đang
chờ Quyết định chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội cho 13 tỉnh và thành phố
ĐBSCL trong 2006-2010 (3). Những chiến lược phát
triển kinh tế và xã hội vùng ĐBSCL này quá tổng
quát, thiếu hướng dẫn cụ thể để
tìm những mô hình và các giải pháp thích hợp cho phát
triển vùng, khu, 13 tỉnh và thành phố. Vì vậy,
hiện tượng phát triển không đồng bộ
đã xảy ra cho các tỉnh và thành phố ở gần
hoặc xa đối với đô thị lớn Sài Gòn.
Để thay đổi bộ mặt hiện nay của
ĐBSCL, một số sách lược chủ yếu
cần lưu ý đến:
- Chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng: Việt
Nam hiện trồng mỗi năm độ 7,5 triệu ha
lúa, nhưng chỉ gần 1 triệu ha trồng dừa, cao
su, trà, cà phê và 1,4 triệu ha trồng trái cây, rau và hoa (5). Do
đó, ngành trồng lúa còn giữ tính chất độc
canh nên dễ sinh dịch bệnh (gần đây rầy
nâu, bệnh vàng lùn - xoắn lá), giá trị kinh tế
thấp và làm ô nhiễm môi trường. Để giảm
bớt mức độ độc canh lúa gạo hiện
nay, cần phải chuyển đổi cơ cấu
trồng trọt, kết hợp với phát triển các
loại rau-hoa-quả, thủy sản, chăn nuôi, dịch
vụ và du lịch. Rau-hoa-quả có thị trường
rất lớn trên sân chơi WTO, mỗi năm trị giá
độ 103 tỉ Mỹ kim; trong khi lúa gạo, cà phê, cao
su nhỏ hơn, mỗi thứ không quá 10 tỉ/năm, các
loại trà, hạt điều và tiêu lại càng nhỏ
hơn, dưới 3 tỉ/năm (5).
Trong 30 năm qua
(1975-2005), Trung Quốc theo đuổi chính sách lúa gạo
đáng chú ý. Họ đã giảm diện tích trồng lúa
được 7 triệu ha (từ 37 xuống 30 triệu
ha) để dành đất đai cho các sản xuất
khác có lợi tức cao hơn. Trong thập niên qua, Malaysia
giảm bớt diện tích trồng cây cao su và cây dừa
dầu, nhưng họ vẫn thu hoạch lợi tức
cao hơn, nhờ tăng gia đầu tư vào công
nghệ biến chế để làm tăng cao giá
trị gia tăng của sản phẩm. Cho nên, ở
ĐBSCL, cần phải đa dạng hóa phát triển kinh
tế, ngoài các ngành nông nghiệp có giá trị kinh tế cao
nêu trên, cần thành lập các khu công nghiệp chế
xuất, đô thị hóa nông thôn để giúp chuyển
đổi lao động nông nghiệp sang công nghiệp
nhỏ và vừa, và cần tăng đầu tư cho kinh
tế biển, dịch vụ và du lịch trong vùng,
nhằm giảm tỉ trọng nông nghiệp. Cần nâng
cao khả năng cạnh tranh quốc tế cho các sản
phẩm nông nghiệp, ưu tiên cho phát triển nhanh công
nghiệp chế biến nông sản và khuyến khích xây
dựng các thương hiệu nông sản, nhứt là
đặc sản Việt Nam. Tạo dây chuyền
sản xuất nông nghiệp từ nông trại đến
siêu thị và nơi tiêu thụ.
- Cần
xét lại chiến lược xuất khẩu gạo: Cần có
chính sách xuất khẩu gạo tiến bộ hơn
hiện nay để vừa thu được kim ngạch
cao vừa giúp nông dân tăng lợi tức. Không nên
đặt chỉ tiêu xuất khẩu gạo hàng năm mà
quên đi đời sống và lợi tức của
người trồng lúa. Điều này có thể thực
hiện được nếu Việt Nam và Thái Lan không
cạnh tranh nhau về xuất khẩu như hiện nay,
giá gạo thế giới sẽ không bị tụt
giảm, trái lại có khuynh hướng tăng cao. Theo
thống kê của cơ quan FAO, từ khi Việt Nam
tăng gia xuất khẩu gạo từ đầu
thập niên 1990s, giá gạo thế giới liên tục sút giảm.
Gần đây Việt Nam lại tăng xuất khẩu
hàng năm từ 4 lên 5 triệu tấn gạo và Thái Lan
từ 7 lên 8 triệu tấn gạo, đang làm giá gạo
quốc tế giao động không ít. Nhưng nông dân
của cả hai nước được hưởng
lợi ích gì? Một chuyên gia quốc tế bảo: “Âu
Châu không cần gạo trợ cấp!”. Thái Lan có lợi
thế cho xuất khẩu gạo hơn Việt Nam về
cả chất lượng và giá thành. Vì nước này
chỉ sản xuất lúa gạo chất lượng cao chủ
yếu nhờ nước trời, ít sử dụng
chất nông hóa và tưới tiêu nên ít tốn kém để
xuất khẩu; trong khi nước ta trồng lúa cao
năng, chất lượng kém hơn trong điều
kiện thâm canh tưới tiêu, với chi phí giá thành cao
hơn.
Trung Quốc và
Malaysia có chính sách lúa gạo khôn ngoan hơn trong mấy
thập niên qua, chỉ sản xuất lúa đủ
đảm bảo tự túc 90% và 65%, theo thứ tư và dành
đất đai, vốn liếng để đầu
tư các ngành khác có lợi tức kinh tế cao hơn. Chúng
ta nghĩ sao khi một nhà máy sản xuất và lấp ráp
chip Intel với 4.000 nhân công có thể xuất khẩu
độ 2 tỉ Mỹ kim mỗi năm, trong khi hơn 20
triệu người Việt Nam sản xuất lúa gạo để
xuất khẩu chỉ mang về hơn 1 tỉ Mỹ kim!
Do đó, Việt
Nam cần xét lại chỉ tiêu xuất khẩu gạo hàng
năm, hạ giá thành sản xuất, ngoài cải tiến
quản lý xuất khẩu; trong khi chỉ cần sản xuất
đủ lúa cao năng tưới tiêu cho mục tiêu an ninh
lương thực và tập trung nghiên cứu và sản
xuất lúa chất lượng cao trong mùa mưa để
tăng khả năng cạnh tranh, đồng thời
đẩy mạnh khâu chế biến để tăng cao
giá trị gia tăng của gạo cho xuất khẩu.
Người viết rất ngạc nhiên khi nhận
thấy rằng gạo xuất khẩu Việt Nam hiện
nay không có mặt nhiều ở thị trường
Bắc Mỹ, trong khi gạo Thái Lan tràn ngập, chiếm
hơn 90% thị trường này.
- Chính sách
hỗ trợ nông nghiệp phù hợp với WTO:
Đầu năm 2007, Việt Nam đã trở thành hôi viên
thứ 150 của WTO, cho nên cần nghiên cứu phân tích
thế mạnh và yếu của nền nông nghiệp
của nước. Từ đó, cần phát huy tối
đa thế mạnh của mình và giảm bớt tầm
quan trọng hoặc bỏ đi các lãnh vực yếu kém,
và đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông nghiệp để có
thể cạnh tranh với các nước khác, nhứt là
Trung Quốc. Cần có những chánh sách hỗ trợ thực
tế cho nông dân và các doanh nghiệp nhỏ và vừa phù
hợp với các đòi hỏi của WTO, như phát
triển hạ tầng cơ sở nông nghiệp
(đường sá, điện, thủy lợi), ứng
dụng công nghệ mới, khảo cứu, khuyến nông,
cung cấp thông tin thị trường, phát triển
nguồn nhân lực. Sự hỗ trợ này chỉ
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông dân khi
họ còn nghèo, sản xuất nhỏ, nhưng phải
đối đầu với thế lực kinh tế
lớn nước ngoài. Việt Nam đã có chỉ thị
nhưng còn trên giấy tờ, chủ yếu cho sự phát triển
ngành nghề nông thôn được hưởng ưu
đãi đầu tư, gồm có vốn và đất
đai, nhằm hỗ trợ ngành nông nghiệp trong
chiều hướng này (6). Nên nhớ rằng theo đòi
hỏi để gia nhập WTO, Việt Nam chỉ có
thể dùng 10% giá trị nông sản để hỗ
trợ nông nghiệp.
- Cần
tái phân lợi tức cho các vùng sản xuất nông sản
xuất khẩu: Đây là một khiếm khuyết lớn
hiện nay đã làm cho các nông dân sản xuất thật
nhiều để xuất khẩu, nhưng họ vẫn
chịu số phận nghèo nàn. Chỉ có các doanh nghiệp
xuất khẩu và giới trung gian (giữa doanh nghiệp
và người sản xuất) hưởng lợi trong
thị phần xuất khẩu này. Do đó, cần có chính
sách và các biện pháp giải quyết thỏa đáng
để phân phối các lợi tức xuất khẩu thu
hoạch được từ hải thủy sản, lúa
gạo, một số nông sản công nghiệp (cà phê, cao su,
trà, hạt điều, tiêu) đến các nơi sản
xuất để nông dân tiếp tục đầu tư
phát triển và cải tiến đời sống kinh
tế xã hội nông thôn.
- Cần có
chính sách ưu đãi đầu tư khác nhau: Cho
đến nay, rất ít doanh nghiệp trong nước
cũng như ngoại quốc đem vốn đầu
tư vào các tỉnh xa xôi của ĐBSCL. Do đó, cần
có chính sách đầu tư
ưu đãi khác nhau cho các tỉnh xa thành phố
lớn như Sài Gòn, Hà Nội và Đà Nẳng để
khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư ở vùng xa,
như đã thấy ở Thái Lan và một số
nước khác. Ở Thái Lan, các ngành công nghiệp, dịch
vụ lúc ban đầu cũng tập trung ở thủ
đô Bangkok và các vùng phụ cận. Từ thập niên 1980,
Thái Lan đưa ra chính sách thuế khóa khuyến khích các
doanh nhân thành lập các hảng xưởng ở vùng
miền xa đối với thủ đô Bangkok. Mức
thuế khóa được giảm theo khoảng cách xa
để giúp các doanh nghiệp bù đắp chi phí, dịch
vụ cho các hoạt động sản xuất, di
chuyển sản phẩm từ vùng xa đến bến
cảng hoặc trung tâm tiêu thụ. Cũng vậy ở Âu
Mỹ, chúng ta có thể tìm thấy các hãng xưởng
mọc lên ở các thành phố nhỏ và bất cứ nơi
nào ở nước Ý, Pháp, Mỹ... do chính sách thuế khóa
ưu đãi vùng xa; nếu không như thế, chẳng có
doanh nhân nào đem vốn đầu tư ở những
nơi hẽo lánh.
Trong khi đó
Việt Nam hiện còn áp dụng một chế
độ ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư
giống nhau cả nước, từ thành phố
lớn đến các tỉnh nhỏ xa xôi; cho nên các
tỉnh xa như Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau... làm sao có
thể cạnh tranh sức thu hút đầu tư mạnh
mẽ với các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và
Long An ở gần Sài Gòn
hơn!
· Cần Có
Masterplan Cho Phát Triển ĐBSCL
Từ đầu
năm 2006 đã có nhiều cuộc hội họp, hội
thảo và diễn đàn cấp vùng để thảo
luận tìm ra các giải pháp thích hợp cho phát triển kinh
tế ĐBSCL. Chẳng hạn, cuộc hội thảo “Quy
hoạch phát triển thủy lợi ĐBSCL giai
đoạn 2006-2010, định hướng đến
năm 2020”, hội nghị “Phát triển nông thôn vùng
đồng bằng sông Cửu Long”, diễn đàn “Hợp
tác xã nông nghiệp các tỉnh phía Nam”, diễn đàn “Làm
gì để nông dân ĐBSCL giàu lên?”, Hội thảo “Nông
dân làm gì để hội nhập kinh tế?”, v.v. Nhiều ý kiến của hội
thảo viên, các đúc kết của những diễn
đàn và hội thảo rất xác đáng, nhưng còn tính
chất chuyên biệt và “cô lập”. Cần một bộ
phận hay một nhóm chuyên gia làm việc có cái nhìn tổng
thể, kết hợp các ý kiến sau phiên họp và
những cuộc họp riêng rẻ về các đề tài
liên hệ đến phát triển kinh tế ĐBSCL, và sau
đó sáng suốt tổng hợp, phát họa thành một
kế hoạch khả thi cho toàn vùng để thi hành. Các
Ban Tổ Chức của Hội Thảo, các Bộ liên
hệ và nhứt là Bộ Kế Hoạch và Đầu
Tư có đủ thời giờ và sẵn sàng làm công
việc đòi hỏi trí tuệ này?
Ngoài ra, vì
thiếu sự phối hợp hữu hiệu và thiếu
qui hoạch chung cho toàn vùng ĐBSCL, cho nên trong chiến
lược kinh tế của các tỉnh trong vùng
thường có sự trùng hợp nhau trong nhiều ngành,
như tỉnh nào cũng có khu công nghiệp chế
xuất, cảng nước sâu, nhà máy đường, nhà
máy gạch, du lịch sinh thái...
Công tác cải
tiến phát triển kinh tế của ĐBSCL có tầm
quan trọng quá lớn lao, cần có những “think tanks”
để tìm những giải pháp ngắn, trung và dài
hạn thích đáng, thực hiện trên cơ sở
quốc gia với hệ thống từ xây dựng chính
sách đến qui hoạch và thi hành. Đề tài
của các cuộc hội thảo và diễn đàn chỉ
nêu một số vấn đề trọng yếu và
bức xúc của ĐBSCL, nhưng không bao gồm tất cả
các yếu tố cần thiết khác để triển
khai công cuộc phát triển kinh tế vững bền,
nhịp nhàng và hài hòa của vùng. Mỗi khu vực, mỗi
tỉnh, thành phố lại cần có một chương
trình phát triển kinh tế và xã hội thích hợp cho
từng nơi. Do đó, ĐBSCL cần phải có qui
hoạch thích hợp và các chương trình hành động
trong sáng, khả thi, nghĩa là cần một Masterplan hay
một kế hoạch tổng thể chung cho sự phát
triển đồng bộ cả vùng, từng khu vực,
từng tỉnh và thành phố. Trong kế hoạch đó,
cần phải có lời giải đáp tối thiểu cho
một số vấn đề liên quan đến diện
kinh tếâ, xã hội và môi trường. ĐBSCL cần
phải phát triển kinh tế lấy nông nghiệp làm
căn bản ở mức độ nào để phù
hợp với tiềm năng của mình và cải tiến
đời sống nông thôn, đồng thời bảo
tồn được môi trường, như đã
thấy ở Nhựt Bổn, Đại Hàn? Phải
thực hiện như thế nào để phát triển
được bền vững cho từng giai đoạn?
Làm gì, ở đâu và như thế nào? Nguồn tài nguyên?
Lộ trình thi hành? Quản lý, điều hợp? Liên quan
với các cơ quan khác?...
Bộ Kế
Hoạch và Đầu Tư có thể chủ trì thực
hiện một Masterplan tốt đẹp cho ĐBSCL, nếu
cần, nhờ Tổ Chức FAO hoặc ADB giúp đỡ
về phương diện kỹ thuật cho công tác
thiết yếu này vì họ có nhiều kinh nghiệm
quốc tế về lãnh vực đó trong nhiều
thập niên qua.
Trong kế
hoạch tổng thể này, các trọng điểm sau
đây cần được thể hiện rõ nét:
(1) Ưu tiên phát triển mau
lẹ các hạ tầng cơ sở thiết yếu
của ĐBSCL như đường xá, xa lộ, cầu cống, bến
cảng, sân bay, điện nước, viễn thông...
để thu hút các nhà đầu tư nội địa
cũng như ngoại quốc, vì hiện nay các công trình này
còn rất yếu kém. Đến giữa năm 2006,
ĐBSCL chi thu hút 226 dự án với tổng số vốn
550 triệu, vốn thực độ 250 triệu Mỹ
kim, chưa bằng tỉnh Bình Dương (7). Tại sao
vậy? Vì cơ bản vùng đất này còn thiếu
hạ tầng cơ sở, thiếu nhân lực chuyên ngành,
giao thông kém, khoảng cách địa lý đến bến
cảng hoặc thị trường tiêu thụ quá xa và
không có các dự án xây dựng và phát triển cụ
thể hấp dẫn sẵn sàng; cho nên các nhà đầu
tư chưa chịu đến. Chẳng hạn, về
phương diện địa lý, các nhà đầu tư
chỉ mất 3 giờ bay để đi từ Đài
Loan đến Sài Gòn trong khi họ phải mất thêm
hơn 3 tiếng nữa để đi từ Sài Gòn
đến Cần Thơ và miệt dưới!
(2) Chống lũ lụt và
thủy lợi hữu hiệu: Lũ lụt hàng
năm đã làm thiệt hại rất nhiều mạng
người (năm 2000 hơn 400 người chết
đuối), nhứt là thành phần trẻ con, làm cho đời
sống của người dân địa phương
bất ổn; ảnh hưởng đến sự
học hành liên tục của con em và nền giáo dục
của vùng. Thật là tội nghiệp cho nhiều học
sinh mới tựu trường vào đầu tháng 9, qua
tháng 10 phải nghỉ học để tránh lũ lụt!
Vã lại lũ lụt hiện nay xảy ra thường
xuyên hơn trước kia, độ 2 hoặc 3 năm
một lần, so với trước năm 1975 độ
8-10 năm/lần. Do đó, công cuộc chống lũ
rất cấp thiết, cần nghiên cứu, qui hoạch,
thực hiện chu đáo và trợ giúp tín dụng thỏa
đáng trong việc dẫn thoát thủy chống lũ, xây
dựng khu dân cư phồn thịnh và những vùng đô
thị mới. Cần chú ý đến mặt sinh thái
của vùng, chẳng hạn, cần tạo điều
kiện xả lũ định kỳ vào đồng để
có thêm phù sa mới và vệ sinh đồng ruộng, giúp
dễ dàng cho những nông dân còn sống theo lũ (nuôi
thủy sản, sơ chế lục bình, trồng rau dưa,
điên điển...). Vừa chống lũ và vừa
sống với lũ.
Về mặt
thủy lợi, cần thực hiện mau lẹ công tác
ngăn mặn [độ 1,4 triệu ha bị ảnh
hưởng mặn, 200.000 ha bị nhiễm phèn (8)],
chương trình ngọt hóa cho các vùng ven biển cần
được hoàn tất sớm và bảo quản hữu
hiệu liên tục, nhằm đóng góp tăng gia, cải
tiến sản xuất nông nghiệp của vùng và làm
bớt khó khăn cho đời sống người dân
ở vùng nước mặn đồng chua.
Ngoài ra, cần
hợp tác chặt chẽ với các nước láng
giềng liên hệ để khai thác sông Cửu Long
được lâu dài. Dù sự phát triển ĐBSCL trong
tương lai như thế nào, vùng này vẫn còn theo
đuổi ngành nông nghiệp với tỉ trọng kém
hơn, nên còn phải lệ thuộc rất lớn vào tình
trạng nguồn nước thiên nhiên và sự khai thác
của các quốc gia nằm trong lưu vực của sông
này. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế tiếp
xúc, trao đổi thường xuyên và sự hợp tác khai
thác giới hạn giữa các nước này để duy
trì dòng chảy, sử dụng nguồn nước hợp
lý, và bảo vệ cân bằng sinh thái của lưu vực
sông Cửu Long.
(3) Vấn
đề nhân sự: Hiện nay, theo thống kê cho
biết độ 60% tuổi lao động ĐBSCL
chưa được đào tạo. Đa số
người dân là thành phần nông dân chỉ có khả
năng và kinh nghiệm về nông nghiệp. Cho nên, cần
đẩy mạnh công tác đào tạo về chuyên ngành
cấp bậc trung học, sinh ngữ, quản lý, kinh doanh,
dịch vụ, du lịch v.v., không kể đến tình
trạng chất lượng giáo dục và đào tạo
hiện nay của ĐBSCL đang có nhiều vấn
đề cần được cải tiến gấp rút
ở cấp bực quốc gia. Hơn nữa, càng ngày nhân
công của các công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi có
trình độ và tay nghề cao hơn cho các công nghệ
cấp trung và cao, cho nên cần phải chuẩn bị,
đào tạo một đội ngũ chuyên môn thật
đông đảo, qua một nền giáo dục hiện
đại, gồm các nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, chuyên
gia các ngành quan trọng để hỗ trợ phát
triển kinh tế trí thức tương lai của vùng.
(4) Phát triển theo tiềm
năng của 4 khu vực địa lý ưu thế
của ĐBSCL:
i) Khu
tiếp cận Sài Gòn gồm tỉnh Long An và
Tiền Giang có điều kiện địa lý thuận
lợi hơn hết đối với Thành Phố Sài Gòn
-trung tâm kinh tế năng động nhứt của nước
- cho phát triển kinh tế mạnh mẽ trong tương
lai, so với các tỉnh khác của ĐBSCL. Hai tỉnh này
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
có được ưu tiên trong các chánh sách phát triển
của nước, nên phải bắt đúng thời
cơ trong các kế hoạch phát triển lớn của
vùng. Đặc biệt hơn hết là vùng Gò Công chỉ
cách cụm công nghiệp cảng Hiệp Phước
của thành phố Sài Gòn với con sông Xoai Rạp
(dưới 4 km). Khi quốc lộ 50 được
mở rộng và cầu Mỹ Lợi được xây
dựng sẽ giúp phát triển mạnh hơn nền kinh
tế phía Đông của tỉnh Tiền Giang.
ii) Khu kinh
tế ven biển và trên biển: Khu vực này
gồm có các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, và Kiên Giang. Về biển,
vùng lãnh hải của Việt Nam lớn hơn gấp 3
lần đất liền và có tiềm năng kinh tế
lớn. Vì vậy, cần đầu tư nhiều hơn
cho khai thác hải sản, bắt cá tầm xa; kinh tế
hàng hải; du lịch biển; khai thác dầu khí trên
biển và lục địa ĐBSCL. Ở ven biển,
cần qui hoạch thúc đẩy các chương trình nuôi
tôm cá đúng theo qui trình kỹ thuật, có hiệu quả
sản xuất lâu dài và đảm bảo môi trường
lành mạnh; phát triển nhanh hơn cụm công nghiệp
khí-điện-đạm Cà Mau liên hợp với đô
thị hóa, du lịch; và đầu tư phát triển
bến cảng, cảng container.
Ngoài ra, trong
tương lai khi hoàn tất, dự án cải tạo kinh
Quan Chánh Bố và đào kinh Tắt ra biển ở Trà Vinh
sẽ thông cảng Cần Thơ ra biển Đông và rút
ngắn giao thông ĐBSCL và Sài Gòn; mở rộng cửa cho
phát triển kinh tế của đồng bằng
hướng ra biển (9). Bao giờ thực hiện hai
công trình này? Gần đây, khu Công Nghiệp Tàu Thủy
Xoai Rạp rộng hơn 600 ha cũng đang hình thành
trên địa bàn xã Gia Thuận và Vàm Láng của Gò
Công, Tiền Giang và đáng được thực hiện
sớm, vì suốt bờ biển dài của ĐBSCL, từ
Gò Công đến Hà Tiên chưa có loại cảng như
thế. Ngoài ra, cần kết hợp cảng này với
ngành du lịch biển của ĐBSCL.
iii) Các khu
kinh tế cửa khẩu cần được
đầu tư và phát triển nhanh hơn: Các
tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An và Tây Ninh có
chung biên giới dài với Campuchia. Quốc lộ N1 dài
khoảng 200 km cặp theo vành đai biên giới giữa hai
nước, tạo cơ hội phát triển kinh tế
ở các vùng gần cửa khẩu. Các chuyên gia đánh giá
An Giang (Tịnh Biên, Vĩnh Sương và Khánh Bình) là
cửa ngõ lý tưởng để doanh nghiệp Việt
Nam làm ăn với ASEAN (10), nhưng đến nay chưa
được đầu tư đúng mức. Sự phát
triển kinh tế ở các khu cửa khẩu sẽ
tạo thêm công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh
tế năng động giữa Việt Nam với xứ
Campuchia, Lào và Thái Lan.
iv) Vùng
nội địa (Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp
Mười, vùng U Minh, vùng giữa sông Tiền và sông Hậu
và các miền đất nội địa còn lại
của ĐBSCL): Tập trung ưu tiên chống lũ
hữu hiệu để giúp đời sống của
người dân địa phương được
ổn định, đô thị hóa các vùng đông dân, phát
triển du lịch sinh thái, đầu tư nhiều cho
công nghệ biến chế nông sản, phát triển các ngành
nông nghiệp trọng điểm (lúa gạo,
rau-hoa-quả, thủy sản và chăn nuôi), đặc
biệt về khâu nghiên cứu tạo giống cao năng,
chất lượng cao, tránh ngừa bệnh dịch và
giảm giá thành sản xuất để tăng sức
cạnh tranh của các loại nông sản nội
địa.
(5) Tiến
đến công nghiệp hóa và liên kết với các tiềm
năng của từng khu: ĐBSCL cần
phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa
nền nông nghiệp. Cần thành lập các khu công
nghiệp biến chế nông sản cho các màu chính, nhưng
phải có biện pháp giải quyết vấn đề
thiếu nguyên liệu, chất lượng, không đạt
tiêu chuẩn của thị trường để phục
vụ cho đô thị và xuất khẩu. Cụm
khí-điện-đạm Cà Mau là một thí dụ
điển hình cần kết hợp với công nghiệp
khác, đánh cá, du lịch biển với Rạch Giá; và phát
triển các dịch vụ, qua thành lập các trung tâm
thương mại, chợ nông sản, cải tiến vùng
kinh tế nội địa và biên giới.
(6) Phát
triển ngành du lịch dựa vào tiềm năng
của từng khu vực như du lịch biển, du
lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh..., nhưng
cần tránh sự trùng hợp với nhau giữa các
tỉnh trong vùng. Ngành du lịch biển của nước
còn quá kém. Cần liên kết du lịch của những
tỉnh lân cận với nhau và với các khu công nghiệp,
đô thị mới để có du lịch đa dạng,
khởi sắc và thu hút du khách nhiều hơn.
(7) Tổ
chức nông dân: Yếu điểm lớn nhứt của
ngành nông nghiệp Việt Nam là hoạt động làm
ăn có tính cách truyền thống gia đình, nhỏ
hẹp, mánh mun, và thiếu tổ chức; nên thường
bị giới trung gian khai thác, lợi dụng và thiếu
khả năng cạnh tranh. Do đó, cần khuyến khích
liên kết nông hộ, cải tiến và nâng cấp hợp
tác xã và xây dựng các trang trại sản xuất lớn
để có đủ sức mạnh cạnh tranh trong
khung cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
Ngoài ra, cần
liên kết các doanh nghiệp sản xuất nông sản
với các thị trường tiêu thụ (như siêu
thị...) để tìm hướng phân phối và giải
quyết đầu ra. Chẳng hạn, gần đây
hệ thống siêu thị Metro đã ký hợp đồng
tiêu thụ sản phẩm của 12 nhà sản xuất nông
sản ở Sài Gòn là một mô hình sản xuất-tiêu
thụ tốt của sự liên kết này (11).
(8) Phát triển hệ
thống thông tin: Thông tin là hơi thở của
kế hoạch, quản lý sản xuất, phân phối và
thị trường. Cần xây dựng hệ thông tin kinh
tế thông thoáng trong nước cũng như thế
giới và hệ thống kê nông nghiệp hữu hiệu,
chính xác và cập nhật hóa để hỗ trợ công tác
nghiên cứu, dự báo thị trường, làm sách
lược, kế hoạch phát triển chính xác và cung
cấp thông tin đến tận thôn ấp. Cần
tiếp cận và khai thác triệt để sự phát
triển nhanh chóng của công nghệ thông tin thế
giới trong các lãnh vực này.
(9) Phát
triển bền vững và bảo vệ môi trường: Sự
thoái hóa của vườn cây ăn quả ở Lái Thiêu,
sự phá sản của nhiều công ty nuôi tôm sú ở
dọc bờ biển sau 4-5 năm khai thác, sự thiệt
hại lớn do các dịch bệnh, v.v. đã nói lên sự
cần thiết xây dựng và phát triển kinh tế
bền vững, cũng như phải có biện pháp xử
lý cấp bách các chất rác thãi từ công nghiệp và đô
thị để không gây ảnh hưởng tiêu cực cho
môi trường xung quanh và để đầu tư lâu
dài cho các thế hệ tương lai.
3. Kết luận
Làm sao cải
tiến tình trạng kinh tế xã hội hiện nay của
đồng bằng sông Cửu Long, sau hai thập niên
đổi mới? Muốn người dân giàu lên, ĐBSCL
phải có sách lược, qui hoạch và thi hành nghiêm
chỉnh, dành ưu tiên cải thiện hạ tầng
cơ sở, thoát khỏi mô hình nông nghiệp lâu
đời, cần đa dạng hóa sản xuất,
tiến lên công nghiệp hóa, đô thị hóa, tin học hóa,
phát triển dịch vu, du lịch và hướng ra kinh
tế biển; cơ bản dựa vào tiềm năng và
nội lực của từng khu vực - khu tiếp
cận thành phố Sài Gòn, khu kinh tế biển và ven biển,
khu kinh tế cửa khẩu và vùng lục địa (ngoài
những khu kể trên của ĐBSCL). ĐBSCL cần
phải có Masterplan cho phát triển kinh tế và xã hội
cấp vùng, khu vực, tỉnh và thành phố. Các doanh
nghiệp nhà nước cần cải tiến và lột
xác nhanh để tăng khả năng cạnh tranh khi
hội nhập thế giới.
Việt Nam không
cần phải cố ôm nông nghiệp để lo vấn
đề an ninh lương thực quá đáng, làm nông dân
chịu cảnh nghèo khó, mà chỉ cần có các chính sách khôn
ngoan như đã thấy ở Trung Quốc, Malaysia và
gần đây Thái Lan. Họ đã đặt ưu tiên phát
triển kinh tế vào những lãnh vực có hiệu
năng kinh tế cao, hướng đến công nghiệp
cao cấp trong khi giảm dần tỉ trọng nông
nghiệp, cho dù ngành này có ưu đãi thiên nhiên ngàn
đời. Đối với Việt Nam, chủ
trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa
xứ sở rất xác đáng, nhưng việc thực thi
và quyền lợi phải được phân bố
đồng đều và công bằng, đặc biệt
chú trọng nhiều hơn nữa cho vùng còn yếu kém
như ĐBSCL để
bắt kịp với các vùng phát triển khác của
nước. Về mặt văn hóa-xã hội, trong khi
tiến trên đường hội nhập thế
giới, đồng bằng cần phát huy bảo tồn
văn hóa địa phương, lễ hội cổ
truyền, các di sản nổi tiếng và thành lập
một viện bảo tàng nông nghiệp ở Cần
Thơ, trung tâm đại diện nông nghiệp
cả vùng, là việc làm có ý nghĩa nhứt trong thời
đại văn minh tiến bộ mau lẹ của
đất nước và toàn cầu.
Trần
Văn Đạt, Ph.D.
15/8/2006
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
1. Thông Tấn Xã Việt Nam. 2006. Thu
50.000 hiện vật từ di chỉ Giồng Nổi -
Bến Tre. Tuổi Trẻ online http://www.tuoitre.com.vn
2. Võ Sĩ Khải. 2002. Văn hóa
đồng bằng Nam Bộ (Di tích kiến trúc cổ). NXB
Khoa Học Xã Hội, Việt Nam, 426 trang.
3. Cần Thơ City. 2006. Mekong
boosting its vital role in developing the nation's economy. News and events http://www.cantho.gov.vn
4. Tô Văn Giai. 2006. Ba giải pháp
góp phần xóa đói, giảm nghèo ở đồng
bằng sông Cửu Long. Tuổi Trẻ online http://www.tuoitre.com.vn
5. Nguyễn Quốc Vọng. 2006.
Nông dân Việt Nam trong sân chơi WTO. Bộ Nông Nghiệp New South Wales,
Úc (trong Thời báo Kinh Tế VN).
6. Hà Yên. 2006. Phát triển nghề nông
thôn được ưu đãi về vốn và
đất. Vietnam net http://www.vietnamnet.vn
7. Xuân Toàn. 2006. ĐBSCL phải liên
kết vùng. Tuổi Trẻ online
http://www.tuoitre.com.vn
8. Quang Thuần. 2005. Trên 6.000 tỉ
đồng xây đồng công trình thủy lợi ở
ĐBSCL. http://www.thanhnien.com.vn
9. Lê Công Sĩ. 2006. Cần cách nhìn
mới. Tuổi Trẻ online
http://www.tuoitre.com.vn
10. Bình Đại. 2006. Khu kinh tế
cửa khẩu An Giang: Đầu tư chưa tương
xứng. http://www.sggp.org.vn
11. Trung Bình và Quang Thuần. 2006.
Việt Nam vào WTO: Nông sản được hỗ trợ
như thế nào? http://www.thanhnien.com.vn