CÀ MAU, VỚI CÁI NHÌN
300 NĂM TRƯỚC
Hồng
Hạnh
Trong lúc đi tìm mọi cứ
liệu liên quan đến 300 năm khai phá, khẩn hoang
miền Tây, chợt nghĩ - Cà Mau cách Sài Gòn hơn 300 cây,
nghe nói mỗi năm mũi đất chót vót này
được bồi thêm vài chục thước nữa.
Vậy liệu 300 năm trước khi Sài Gòn đã
định hình phố xá? Cà Mau đã có trong bản
đồ chưa? Liệu hồi đó mũi đất
này ra sao?
CÀ MAU vốn được
xem là xứ sở của những lưu dân đi khai
khẩn, mở đất. Mọi người gắn cho
Cà Mau những danh xưng - “vùng đất trẻ”, “bãi phù
sa mới bồi tụ”... Trong “Tiểu
giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ” (Petit cours Géographie
de la Basse -
Cochinchine) của Trương Vĩnh Ký ấn hành năm
1875, có đoạn: “... đa
phần đất đai miền này là thứ đất
phù sa gồm bùn và cát do tác động của dòng
nước đem tới, rồi bị ngăn chặn
hoặc giữ lại bởi rễ của các thứ cây
đước, vẹt, dà, bần...”. Thế nhưng,
qua những giai thoại, những câu chuyện dân gian thì nào
chỉ có vậy. Tất cả đã phủ lên vùng
đất vốn bí hiểm này những dấu hỏi
đậm chất sử thi. Liệu lịch sử
của vùng đất này sẽ bắt đầu từ
đâu.
Từ những trang địa bạ hiếm hoi
Đã có lần tôi đặt
câu hỏi này với nhà sử học Nguyễn Đình
Đầu - tác giả công trình “Nghiên cứu địa
bạ Triều Nguyễn” – ông đã không trả lời
ngay. Ông cho rằng, khi nghiên cứu lại lịch sử,
nhất thiết phải đi theo dòng lịch sử của
cha ông đi khẩn hoang với những di tích lịch
sử cụ thể. Điều đặc biệt,
những di tích ở đây không chỉ là những giá
trị vật chất như đình chùa, miếu mạo.
Di tích đó còn là những giá trị tinh thần như mô
hình làng xã, mối dây ràng buộc các thế hệ. Có
vậy mới có một cái nhìn về lịch sử khách
quan nhất.
Theo những tư liệu
hiếm hoi để lại thì “công cuộc đạc
điền” quy mô nhất vài ba trăm năm trước
được tiến hành suốt 31 năm, từ Gia Long
năm thứ tư (1805) đến Minh Mạng năm
thứ 17 (1836) mới hoàn thành. Triều đình Huế còn
giữ 10.044 tập địa bạ, gồm 16 ngàn
quyển trong tổng số 18 ngàn xã, thôn lúc bấy giờ
- điểm đáng quý những bản này đều là
bản chép tay, không có bản thứ hai. Địa bạ
quyển sổ ghi chép và mô tả từ tổng quát
đến chi tiết địa phận của làng. Theo
đó, chúng ta có thể hình thành được một
bản đồ địa lý thật sự cho làng, xã
đó. Qua những tài liệu hiếm hoi đó cho thấy,
nước Đại Việt lúc bấy giờ là một
xứ nông nghiệp, sống chủ yếu bằng
nghề trồng lúa nước, lấy xã thôn làm đơn
vị cơ sở. Từ đầu thế kỷ thứ
19, thống nhất về mặt hành chính từ ải Nam
Quan đến mũi Cà Mau, gồm 18 ngàn làng với các tên
gọi như xã, thôn, phường, giáp, điếm,
ấp, lân, trang, trại, man, sách... Riêng Nam Kỳ,
đến năm 1835 được chia làm 6 tỉnh: Biên
Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An
Giang và Hà Tiên (nay là Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu). Rất may là
Địa bạ tỉnh Hà Tiên vẫn còn đủ 35
tập gồm 144 quyển, đều được
lập năm 1836. Qua địa bạ, lúc này Hà Tiên là
một tỉnh đất rộng mà thưa dân nhất
nước, chưa được “khẩn hoang, lập
ấp triệt để”. Hai
tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu nằm trên toàn bộ huyện Long
Xuyên (tổng Long Thủy có 23 làng và tổng Quảng Xuyên có
9 làng) và trên một phần đất của huyện
Vĩnh Định thuộc tỉnh An Giang cũ.
Riêng Cà Mau, lúc bấy giờ
tuy là vùng đất mới bồi tụ nhưng đã có
nhiều vị trí, nhiều tài nguyên rất đáng chú ý và
được liệt kê cụ thể ở các
địa bạ. Hòn Khoai (Pulo Obi) lúc bấy giờ có tên
gọi là Đảo Vu, dân dã thì gọi là Ba Tiêu Viên
(vườn chuối - có lẽ nơi đây chuối
mọc bạt ngàn). Đảo Vu rộng ước vài
mươi dặm, có suối treo, nước ngọt,
bốn màu không khô cạn, thuyền buôn các nước qua
lại phải đậu ở đây để lấy
củi, nước. Thông thường thuyền nào
đến trước rồi chạy đi nơi khác buôn
bán phải khắc chữ vào một thẻ cây để
lại cho thuyền khác đến sau biết tin tức.
Cũng theo Địa bạ, biển Cà Mau lúc bấy
giờ có nhiều cồn, vực sâu và rất nổi
tiếng với những sản vật như: hải sâm,
đồi mồi, hàu, sò, tôm, cá cơm, ốc tai voi... Cà Mau
cũng có rất nhiều bảo lũy, cửa tấn.
Thủ sở Bình Giang (theo ông Nguyễn Đình Đầu
có lẽ ở ngay thành phố Cà Mau bây giờ) là nơi quan
yếu, có đặt thủ ngự trú phòng.
Các cửa tấn quan trọng
như Bồ Đề, Tam
Giang, Hiệp Phố (tục danh Phú Cáp - gọi Bảy Háp
hay Bảy Hợp thì đúng hơn), Hoàng Giang (nguyên tên
Đốc Huỳnh - vàm Ông Đốc). Lúc đó, cả
tỉnh Hà Tiên chỉ có 3 chợ lớn, quan trọng.
Điều lạ là ngoài 2
chợ Mỹ Đức (nay thị xã Hà Tiên) và Sái Phu
(tục danh là chợ Rạch Giá) chợ còn lại là chợ
Hoàng Giang (chợ Sông Đốc hiện nay). Cách đây
mấy trăm năm, nơi đây thường xuyên có
thuyền buôn tụ tập, quán xá đông đúc. Tên Ông
Đốc lấy từ tên Đốc Huỳnh, dân
thường gọi là Đốc Binh. Tương
truyền đây là Tân Khánh Huỳnh - một vị
tướng của Nguyễn Ánh, không thấy tên họ
trong chính sử. Từ đó mà có tên sông Đốc
Huỳnh, Huỳnh Giang, chợ Hoàng Giang. Vào năm 1929 có tên
xã Tam Khánh (Khánh An, Khánh Lâm, Khánh Bình) có lẽ có liên quan đến
những danh xưng kể trên.
Cũng theo địa bạ
thì lúc bấy giờ ở Cà Mau có rất nhiều lâm
tẩu (rừng chằm, rừng sác), rộng nhất là
rừng U Minh có nhiều đước, sú, nhất là tràm.
Dân địa phương làm nghề ăn ong, những
làng làm nghề đó gọi là “thuộc hoàng lạp”
được miễn các loại thuế khác nhau chỉ
nộp sáp ong vàng. Có đến 33/44 làng thuộc huyện
Long Xuyên phải chịu nộp thuế hoàng lạp
“bản huyện lệ trưng phong sào thuế ngạch”
(huyện nhà ra lệ ngạch thuế khai thác tổ ong). Có
vậy cũng đủ thấy sản vật lúc bấy
giờ như thế nào. Một điểm đáng chú ý
khác, 44 xã của huyện Long Xuyên lúc đó có diện tích
thực canh gần 2 ngàn mẫu nhưng chỉ có 4 chủ
điền, Cà Mau bây giờ có một đó là Nguyễn
Văn Cường (thôn Tân Hưng, tổng Quảng Xuyên).
Hà Tiên, nhưng ngoài chủ điền kể trên, các
chủ điền khác chỉ sở hữu khoảng
độ 10 - 20 mẫu. Hãy thử xem một mẫu
địa bạ xưa: “Tân Đức thôn, ở xứ
Thị Huy: Đông giáp địa phận các thôn: Tân
Thuộc, Tân Xuyên, Tân An. Tây giáp thôn Đại Hữu có
rạch Thủy Liễu làm giới. Nam giáp các thôn Tân Xuyên,
Tân An và sông Khơ Mao. Bắc giáp địa phận thôn Tân
Ngãi. Sơn điền mới khẩn 47.3.1.0 (47 mẫu, 3
sào, 1 thước). Dân cư thổ (đất để
dân chúng ở) 2.8.5.0. Đất hoang nhàn 2 khoảnh,
rừng chằm 3 khoảnh có chịu lệ thuế tổ
ong của huyện. Thôn trưởng: Nguyễn Văn Bình
(ấn ký). Dịch mục: Huỳnh Văn Nghĩa
(điểm chỉ)”.
Tìm lại dấu xưa
Không chỉ ở những
trang địa bạ hiếm hoi được tìm
thấy, nhiều tư liệu khác cũng nói rất
nhiều về xứ Cà Mau những ngày mới khẩn
khoang, lập ấp. Ngược dòng lịch sử một
chút, sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ, ngày 5-1-1876, Đô
đốc Duperrae ra nghị định phân chia 6 tỉnh
Nam Kỳ thành 19 tiểu khu hành chính. Và đến 18-12-1882,
Thống đốc Le Myre Vilers ra nghị định
lấy một phần đất của hai tiểu khu Sóc
Trăng, Rạch Giá lập thêm tiểu khu Bac Liêu với
viên chủ tỉnh đầu tiên là Lamothe de Carrier.
Đến ngày 20-12-1889, toàn quyền Paul Doumer lại
Chủ điền này được xem là sở hữu
ruộng đất nhiều nhất cả tỉnh Hà Tiên
với 80 mẫu. Cần nói thêm toàn tỉnh Hà Tiên chỉ có
5 chủ điền ngoài 4 của huyện Long Xuyên (3 ở
Bạc Liêu, 1 ở Cà Mau) chỉ có 1 ở đổi khu
thành tỉnh - lúc bấy giờ tỉnh Bạc Liêu chỉ có
hai quận Vĩnh Lợi và Cà Mau. Và còn rất nhiều
lần tách nhập khác, mãi đến năm 1947, quận
Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá cũ nhập
vào Bạc Liêu và quận Cà Mau thành tỉnh mới. Cà Mau lúc
bấy giờ có 6 quận: Quản Long, Thới Bình, Sông Ông
Đốc, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm
Căn. Đến ngày 25-10-1956 đổi tên thành tỉnh An
Xuyên.
Theo một tài liệu khác
của hai tác giả biên khảo khá nổi tiếng
trước đây là Nghê Văn Lương và Huỳnh Minh
- cuốn “Cà Mau xưa” - đã đề cập đến
mốc thời gian sớm hơn. Theo đó, vào cuối
thế kỷ 17, Mạc Cửu dẫn một số
người Trung Hoa
bài Thanh phục Minh đến xứ Hà Tiên, tụ hội
những lưu dân khẩn hoang lập nên 7 xã dọc theo
bờ biển và 2 xã cực Nam là Rạch Giá và Cà Mau.
Đến năm 1714, Mạc Cửu đã dâng phần
đất này cho chúa Nguyễn và Mạc Thiên Tứ - con trai
Mạc Cửu - đã vâng lệnh triều đình
để lập ra đèo Long Xuyên (ở vùng Cà Mau nay) mang
tính chất tổ chức quân sự. Năm Gia Long thứ
7 (1808) đã đổi ra huyện Long Xuyên. Lúc bị Tây
Sơn đánh đuổi, vua Gia Long đã trú ngụ
tại đây. Theo ông Huỳnh Minh, thì tại Cà Mau có
rất nhiều địa danh gắn với tích xưa.
Như Cái Tàu (xã Khánh An) có “Nền công chúa” - chôn cất
một nàng công chúa chạy theo Nguyễn Ánh. Tại Cái
Rắn (xã Phú Hưng) có “Ao ngự” - gần đồn
dựng binh của vua Gia Long và nghi là nơi cung cấp
nước ngọt cho vua. Kế đó vẫn còn những
địa danh mang tên rạch “Long Ẩn”, xóm “Long Ẩn”.
Nhưng dù có đổi tên gì
đi nữa thì dân các xứ vẫn rất ấn
tượng với miền cuối đất qua danh
xưng Cà Mau. Cà Mau hiểu theo một nghĩa nào đó là
đọc trại từ “Khơ Mau” - xứ nước
đen. Dân cố cựu diễn giải, hồi đó
ở xứ này đước, tràm, vẹt rụng
xuống đầy sông mục nát tạo nên màu đen
cố hữu cho các kênh, rạch. Đường từ Sài
Gòn về Cà Mau lúc bấy giờ dài 346 cây số nhưng
chỉ có 6 thước bề ngang. Mãi đến lúc đó
cửa biển Sông Đốc vẫn là một xứ
rất phồn thịnh và được đánh giá là
phồn thịnh nhất miền Hậu Giang. Tàu đánh cá
nước ngoài thường đến mua cá chở qua Tân
Gia Ba (Singapor). Nhưng hồi đó cá đồng vẫn
chiếm một lượng đáng kể nhất. Theo
ước tính, hàng năm Cà Mau bắt được 1.500
tấn cá biển, với 3 ngàn miệng đáy bắt tôm
tươi ở sông sẽ có khoảng 2.000 tấn tôm khô.
Thế nhưng lượng cá đồng lại lên
đến 10 ngàn tấn và 8 ngàn tấn mắm khác. Ở xã
Thới Bình còn có một “khoáng sản” gọi là “than
đất” nhưng chưa được khai thác đúng
mức.
Một vị trí địa lý
khác cũng được nhắc đến nhiều -
quận Năm Căn. Vào khoảng năm 1802 vùng này còn
chưa có nhà cửa nhiều, chỉ có một thiểu số
làm nghề săn thú, hạ bạc rải rác ở các
rạch, xẻo. Ở con đường duy nhất đi
Cà Mau từ vàm con Rạch Tắt đi ngang sông Bảy Háp
chỉ có một trại đáy có 5 căn - có lẽ tên
Năm Căn từ đó mà thành. Có một giai thoại bà
mụ Trời đỡ sanh cho cọp ở Rạch
Bần, quận Cái Nước gần đó. Dân gian lưu
truyền cọp biếu thịt rừng cho bà mụ
đến khi mãn phần. Loại đi yếu tố hoang
đường thì rõ ràng thiên nhiên và con người ở
đây vốn rất gần gũi, quen thuộc. Thiên nhiên
đã hào phóng cung cấp sản vật cho người dân
ở đây đến mức “hào phóng”. Năm Căn
bấy giờ được coi là mỏ “vàng đen”, cung
cấp than đước cho cả Nam Kỳ lục
tỉnh. Với lối 71 ngàn mẫu rừng ở 4 khu
(354, 353, 355, 534) Năm Căn đã cung cấp khoảng 240
ngàn steres củi hầm than, 50 ngàn steres củi vẹt
đốt, 720 ngàn tạ than.
Một nguồn lợi khác
của Cà Mau xưa vài trăm năm trước thấy
được nhắc đến là “điểu đình”.
Đại Nam nhất thống chí có đoạn: “Những
chim ở ngoài biển đến đậu từng
bầy không biết muôn ngàn nào mà kể. Thường
năm, đến kỳ đẻ trứng có trà hộ
ngạch bao lãnh nạp thuế ấy, gọi là thuế
điểu đình và lấy cánh lông bán cho người Trung Hoa”. Những
vườn chim lớn nằm ở Rạch Thứ
Nhứt, Kinh Dài, Thầy Quơn, Chắc Băng,
Đầm Dơi, Cổ Cò. Lớn nhất là sân ở Cái
Nước rộng hơn 7 hecta (Bà Hính dọc theo sông
Bảy Háp). Bấy giờ người ta bắt chim
chỉ để nhổ lông bán, mỗi bó 30 lông lớn
hoặc 35 lông nhỏ dùng bó quạt. Mỗi năm
người ta giết chim 3 lần (cuối tháng Giêng, tháng
3 âm lịch) mỗi kỳ khoảng từ 1 - 5 ngàn con. Dân
lúc đó chỉ ăn thịt rừng, cá, tôm chứ ít khi
ăn thịt chim, đôi lúc họ nướng một hai
con chim ra ràng để chỉ nhậu chơi. Do vậy,
dân khai thác chim ngán nhất là... chở thịt chim đi đổ
sông sau khi nhổ lông (!) - bởi lẽ, họ sợ xác
chim thối rữa tại sân, chim sẽ không về. Phân
chim lúc bấy giờ ngập đến 4, 5 tấc tây, cá,
tôm chim tha về người coi sân chim lượm mỗi
ngày chỉ non... năm bảy giạ, riêng trứng
phải lượm hàng ghe (!). Rồi nhiều sản
vật được gắn liền với địa
danh như: than Năm Căn, chiếu Tân Duyệt, mật U
Minh, ba khía Rạch Gốc, sấu Đầm Bà
Tường, choại Cà Mau, cá thác lác Cái Tàu, than Tân Bằng,
rau cải Cái Keo. Mỗi một sản vật, mỗi
một địa danh được nghe tiếng
đều nhờ vào công sức khai khẩn rất sớm
của những lưu dân từ cách đây mấy trăm
năm. Tiếng là lưu dân nhưng ở trong dòng máu
của họ pha rất nhiều nghĩa khí, hiếu
để.
“Kẻ sĩ biết chữ,
dân siêng làm ăn, ở gần biển thì làm nghề
lưới đáy, cắm đăng để bắt cá,
ở gần núi, rừng thì bắt chim và tổ ong
để bán. Người quân tử hay thích điều
nghĩa, siêng năng việc công. Kẻ tiểu nhân (ý nói
người bình dân) thì an thường, thủ phận,
không gian tham trộm cướp... Đàn ông ra
đường hay che dù, đàn bà, con gái trùm đầu
bằng khăn vải dài, con trai bới tóc cho khỏi
sổ, con gái trang sức sơ đạm, bới tóc
thả thòng ra đằng sau. Tính người mau lẹ,
nữ công tinh xảo, hay đi thuyền, giỏi nghề
bơi nước, ưa nóng, ghét lạnh... Gặp tang
chế, lễ nghi theo Nho và cũng theo Phật” (Theo
Đại Nam nhất thống chí).
Trải qua hàng trăm năm
dâu bể, Cà Mau bây giờ đã khác xưa. Chót mũi đã
được bồi tụ hơn xưa, người dân
các nơi đổ về sinh sống. Có một
điều đau lòng nhất là sản vật, thiên nhiên
không còn như xưa. Những chuyện rất thật
kể trên, nếu không có những số liệu xác
thực, có lẽ, đến thêm một hai thế hệ
nữa chỉ còn là những chất liệu đẫm
chất “thần thoại”. Duy có điều, khí chất
của người đất Mũi vẫn vậy.
Hậu duệ của những lưu dân đi khẩn hoang
mấy trăm năm trước vẫn hào sảng,
vẫn phóng khoáng như cha ông. Phải chăng, đó chính
là bản sắc đã tạo nên sức hút cho một Cà Mau
tươi trẻ bây giờ.
NHỮNG SẢN VẬT CỦA XỨ CÀ MAU:
- Nước ngọt của Hòn Khoai. - Mắm ruột
(mắm lòng) ở Tân Điền, Phú Mỹ và Tân Hưng
Đông.
- Mắm lóc, mắm trê.
-Cá dầy và lươn ở xã Tân Hưng.
- Cá bông ở Cái Tàu.
- Khô bẹ, khô cá chét, khô gộc và nước mắm
ở Vàm Sông Đốc.
- Cá vược, cá bống mú, cá dứa, cá buôi ở
Năm Căn và Ông Trang.
- Vi cá, bong bóng cá mè đường ở Rạch
Gốc và Vàm Sông Đốc.
- Cá bống kèo, bống dừa ở các trại đáy.
- Sò huyết, mực tươi ở Ông Trang.
- Nghêu ở Rẫy
Chệc (Viên An).
- Vọp ở Rạch Vọp và Ông Tự.
- Hàu ở Hòn Đá Bạc và Thọ Mai.
- Ba khía, ốc len ở Rạch Gốc.
- Cua gạch son (cua đầm) ở Đầm Dơi.
- Tôm khô, tôm luội ở Năm Căn, Xóm Lớn, Hàng
Vịnh.
- Tép mòng, con ruốc ở Rạch Gốc.
- Kỳ đà ở Xóm Thủ và Đầm Chim.
- Sấu ở Dày Chảo và sông Cửa Lớn.
- Rùa vàng ở đồng Cái Rắn và Rau Dừa.
- Cần đước ở Cái Tàu và Khánh Lâm.
- Khỉ ở khắp các rừng cấm.
- Lọ nồi ở Năm Căn, Nhưng Miên, Xóm
Thủ và Cái Bát.
- Đuôn chà là ở Cái Keo và Đầm Dơi.
- Sân chim ở dớn Rạch Giếng.
- Mật ong và sáp ở rừng cấm Thới Bình, Tân
An, và Khánh An.
- Chiếu lẫy ở Đầm Chim, Cái Rắn, Cái
Nhút và Rạch Nhà.
- Cây mốp (làm nón), cây vông rừng (làm guốc), cây kè
(làm liễn) ở Trèm Trẹm và Tân Bằng.
- Than đước và vẹt, vỏ dà, vỏ
dước ở rừng cấm Năm Căn, Tân An và
Nhưng Miên.
- Dây choại ở miệt dớn Rạch Giếng,
Thới Bình.
- Lá tàu, lá bó, lá chằm, lá cần đóp ở khắp
các rừng cấm, bờ sông lớn.
- Bồn bồn, môn nước ở nơi đất
thấp.
- Sầu riêng, trầu vàng ở Cái Tàu.
- Khóm ở Trèm Trẹm.
- Dưa hấu ở Rẫy Chệc.
Tài liệu của Nghê Văn Lương và Huỳnh Minh sưu khảo
vào lối những năm 50 - in trong cuốn “Cà Mau xưa”. Trải qua bao
dâu bể cuộc đời, hai tác giả đã hóa thành
người thiên cổ.
Riêng những sản vật
vừa kê dẫn, rất nhiều thứ chỉ còn trong ký
ức của những bậc lão niên vốn sống
chết cả đời với đất rừng
phương Nam.
Chép lại để tự
hào mà cũng để hoài nhớ, tiếc nuối một
ngày xưa