Gò Dầu Hạ -

Quê hương đa phước

Nguyễn Bá Hoa

 

Bên trời góc bể bơ vơ, 

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai .

                        N.D.

                                                                                               

Người khách tha hương, thông thả bước trên con đuờng đã hai mươi năm quen biết , nhưng đôi lúc cảm thấy hơi xa lạ  nhớ tiếc một cái gì không mất hẳn, nhưng quá xa. “Tôi muốn tìm lại trong giấc mơ những gì tôi đã mất trong những ngày trẻ tuổi ”(Nhạc sĩ Văn Cao). Người lữ khách không nặng lắm về hiện tại nhưng tha thiết với quá khứ hơn, phải chăng đó là một trong những  biểu hiện của tuổi “ bóng xế nhành dâu ” ! ? Trong đời người, có những kỷ niệm  nói lên tình cảm mọc mạc chân thành mà khi nhắc đến như có điệu nhạc êm đềm đã xúc tích một mối hoài cảm mênh mông đủ hiệu lực gọi thức dậy những thớ tim làm rung động tâm hồn chúng ta. Thương nhớ quê hương, nhớ Việt Nam, nhớ cánh đồng lúa xanh mơn mởn bên kia bờ  sông Vàm Cỏ Đông, nhớ ngôi trường Gò Dầu Hạ với hàng me keo, nhớ con đường về Gia Bình ngang qua Trâm Vàng, con đường vào xóm Rạch Sơn, lên Gò Chùa lễ Phật ở Cao Sơn Tự… Quê tôi mưa nắng hai mùa, những cơn mưa suốt ngày không dứt, có những cô bé đôi mắt tròn xoe thả chiếc thuyền giấy trên dòng nước mưa chảy ngang sân, đắc ý nhìn  theo dòng nước khi thuyền đã đi xa, vẫy tay chào như muốn nói lời tam biệt .

Tuổi trẻ vô tư như đàn chim trên cành cây mùa xuân đầy hoa quả, chẳng may gặp thời buổi bành trướng của kẻ mạnh cuồng tính, như chú thợ săn với “lý trưởng bá quyền ” dùng cây súng bắn lên đàn chim non…, chim lạc đàn. Từ đó, đàn trẻ nhỏ không thể về nơi hiên nhà tuổi thơ,  ai đã đem giông tố bao trùm thế hệ ? ! Còn đâu những đôi mắt ngây thơ nhìn mưa cười khúc khích, những đôi tay khéo léo xếp thuyền giấy, tưởng lớn lên được góp sức xây dựng quê hương.

Nào ngờ con thuyền giấy ngày xưa của cô bé nhiều ước mơ đã thành chiếc thuyền sắt phải  ra khơi tìm đến bến bờ tự do, dòng nước mưa ngày xưa đã dạy cho tuổi trẻ lớn lên có cuộc sống ý nghĩa “tánh như thủy” linh hoạt, dễ thích ứng, đoàn kết và kiên nhẫn  “nuớc chảy đá mòn” .

Nhìn dòng sông Saint-Laurent rộng mênh mong chảy ngang qua thành phố Mộng-Thế-An (Montréal) rồi đổ ra vịnh Saint-Laurent (Ðại Tây Dương) mà nhớ đến sông Vàm Cỏ Ðông bé nhỏ, nước xanh biết  phát ngưồn từ vùng đồi cao 150m ở Ðông Nam Campuchia, chảy qua Tân Biên, Châu Thành, Hoà Thành , Bến Cầu, ngang qua chợ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng theo hướng tây bắc, đông nam đến ngã ba Bần Quỳ (Long An) hợp với sông Vàm Cỏ Tây chảy vào cửa Soi Rạp rồi đổ ra biển Ðông. Sông Vàm Cỏ Ðông chịu ảnh hưởng triều cường của biển Ðông mà người địa phương gọi là nước ròng (triều kém), nước lớn (triều cường). Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi ...

Ngược dòng lịch sử, vào giữa thế kỷ XVII, một số đồng bào từ miền Trung đi vào miền Nam lập  nghiệp, họ dừng chân ở một vùng đất cao (Gò) có nhiều cây dầu cạnh bờ sông Vàm Cỏ Động. Dầu có nhiều loại : dầu con rái,dầu song nàng, dầu lông … Nhựa dầu dùng trét ghe xuồng, ngày xưa còn dùng để thắp đèn. Gỗ dầu cứng  nhưng không láng, không bóng khi đánh vec-ni.

Đình Thanh Phước tọa lạc trên một gò đất lớn  cách chợ Gò Dầu Hạ độ hơn 500 mét, còn nhiều cây dầu có tuổi thọ hàng trăm năm, thân cây có thể cao từ 30 đến 40 mét, đường kính gốc cây gần 2 mét, địa danh Gò Dầu xuất phát    từ đó, sở dĩ gọi là Gò Dầu Hạ để phân biệt với một địa danh khác là Gò Dầu Thượng (thuộc xã An Thạnh).

 

Thành lập quận Gò Dầu Hạ

Ngày xưa là quận Gò Dầu Hạ, sau 30/4/1975  đổi tên là huyện Gò Dầu .

Dầu cho vật đổi sao dời,

Danh xưng có khác, đời đời vẫn thương.

Nhắc lại ngày mới thành lập quận :

Do nghị định số 3115-MI/DAA ngày 12-8-1948 của Thủ Tướng chánh phủ lâm thời Việt Nam thành lập quận Gò Dầu Hạ. Nếu tôi nhớ không lầm, ngày nhậm chức của vị quận trưởng đầu tiên ( Cụ Trần văn Giám là vị Quận trưởng đầu tiên) cùng tham dự lễ với đồng bào, có học sinh hai lớp Cours Moyen, Cours Supérieur của trường Gò Dầu Hạ sắp hàng nghiêm chỉnh trước trụ sở Hội đồng xã Thanh Phước (phía trên chợ Gò Dầu Hạ ) hát bài La Marseillaise và lúc bấy giờ Văn phòng Quận tạm thời đặt tại trụ sở của Hội đồng xã. Nhưng đến năm 1954 quận nầy bị giải thể và sáp nhập vào quận Trảng Bàng . Sau đó, do Nghị định số 622- H CSV ngày 9-3-1955 của tòa Ðại Biểu Chánh phủ tại Nam Việt , Quận Gò Dầu Hạ được tái lập kể từ ngày 25-3-1955 . Quận Gò Dầu Hạ còn nhiều thay đổi địa danh, địa giới thành quận Hiếu Thiện.

Khi hiệp định Genève có hiệu lực, TT Ngô Ðình Diệm đưa ông Nguyễn văn Vàng làm tỉnh trưởng Tây Ninh, ông Ðỗ Tường Thạnh làm quận Trưởng Trảng Bàng, ông Lâm văn Thao làm quận trưởng Gò Dầu Hạ, ông Lâm văn Huê làm quận trưởng Châu Thành.

Sau ngày 30-4-1975 , Tây Ninh được tổ chức thành 7 huyện và 1 thị xã (ngang cấp huyện):

 Huyện Gò Dầu hiện có 8 xã và thị trấn : xã Cẩm Giang, Thạnh Ðức, Hiệp Thạnh, Phước Thạnh, Phước Trạch, Thanh Phước, Phước Ðông, Bàu Đồn và thị trấn Gò Dầu (Từ năm 1982 xã Suối Bà Tươi đổi thành xã Phước Đông ).

 

Ranh giới Gò Dầu :

Gò Dầu nằm ở phía Nam tỉnh Tây Ninh và trên ngã ba quốc lộ 22A (trước kia là quốc lộ 1) và quốc lộ 22B - cách thị xã Tây Ninh 37 km , cách Sài Gòn (TP.HCM) 63 km và cách biên giới Việt Nam - Campuchia 12 km. Gò Dầu có ranh giới : bắc giáp xã Trường Hoà (Hoà Thành) xã Truông Mít (Dương Minh Châu), nam giáp xã Gia Bình ( Trảng Bàng) đông giáp xã Ðôn Thuận (Trảng Bàng), Tây giáp xã An Thạnh (Bến Cầu). Chiều dài từ Nam đến Bắc là 23 km, chiều ngang hẹp nhất là 4 km, rộng nhất là 12 km.

Diện tích : 25.183 ha

Dân số : 132.000 người (thống kê 1999)

Hệ thống giao thông thủy, bộ :

Sông Vàm Cỏ Ðông chảy vào địa phận Gò Dầu tại xã Cẩm Giang và chảy suốt theo rìa phía tây các xã Thạnh Ðức, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, qua Thị trấn và xã Thanh Phước rồi chảy qua Trảng Bàng ... Các chi lưu sông Vàm Cỏ Ðông như rạch Cẩm Giang, rạch Ðá Hàng, rạch Nho, suối Bà Tươi, suối Cá Nần... Sông Vàm Cỏ Đông là một hệ thống giao thông thủy rất tốt và các chi lưu phần lớn chịu ảnh hưởng triều cường (có  nước ròng, nước lớn), ghe thuyền có thể lưu thông quanh năm, vừa là môi trường tốt cho các loài thủy sản như cá , tôm…

Ngoài ra Gò Dầu có nhiều kinh mương nằm trong hệ thống thủy lợi hồ Dầu Tiếng, giúp cho nông nghiệp phát triển thuận lợi.

 

Hệ thống đường bộ

Quốc lộ 22A chạy từ Sài Gòn lên phía Bắc, vào địa phận Gò Dầu tại cầu Rỗng Tượng (Rổng Tượng), đến ngã ba thị trấn Gò Dầu, rẽ sang phía tây qua Bến Cầu rồi lên biên giời Viêt - Campuchia. Quốc lộ 22B từ ngã ba thị trấn thẳng lên phía Bắc đến thị xã Tây Ninh. Lộ 19 từ Trảng Bàng chạy vào ranh giới Gò Dầu tại cầu Cây Trường , đến ngã ba Bàu Ðồn gặp lộ 26 chạy lên Truông Mít, Dương Minh Châu, Dầu Tiếng.

Ngoài ra, còn  có Đường Xuyên Á chạy ngang qua Gò Dầu (là quốc lộ 22A mở rộng) đến cửa khẩu Mộc Bài.

 

Văn Hóa , Tôn giáo

Gò Dầu có 3 tôn giáo lớn, Phật giáo, Thiên chúa giáo và Cao Đài giáo . Ngày nay có đạo Tin Lành …

Phật giáo  đã có cơ sở lập chùa chiền ở Gò Dầu  từ khá lâu trên 200 năm, nhìn tổng quát số tín đồ 60% dân số của huyện, ngày nay có người cho rằng số Phật tử thuần thành khoảng 10%  dân số, còn lại 50% dân chúng theo đạo thờ cúng ông bà, nhưng thật ra số đồng bào nầy vẫn đi lễ Phật, cầu phước ở các chùa trong những này Rằm lớn (Thượng nguơn, trung nguơn , hạ nguơn) .

Thiên Chúa giáo ở Gò Dầu  là một chi nhánh của họ đạo Tha La, có từ đầu thế kỷ XlX. Tín đồ có khoảng 2,3% dân số, sống tập trung trong khu vực nhà thờ ( Giáo đường) thị trấn Gò Dầu và khu vực chợ Hiệp Thạnh.

Đạo Cao Đài được thành lập năm 1926 tại Hòa Thành và được truyền bá đến Gò Dầu sau đó vài năm, hiện nay có số tín đồ gần 25% dân số của huyện. Các tín đồ sống tập trung tại các khu vực ( Châu vi) Gò Dầu, Gò Chùa, Kỳ Đà, Trà võ, Xóm Bố, Cẩm Giang, Bàu Đồn, suối Bà Tươi

 

Phong trào cách mạng

Ngay từ những năm trong thập niên 1930, những cuộc đấu tranh của công nhân  cao su đòi tăng lương, giảm định mức  cạo mủ vào những năm 1936, 1939, 1940 … , đến các hoạt động của tổ chức quần chúng giành lại chánh quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 đều do tinh thần yêu nước , đoàn kết tạo nên sức mạnh đưa đến thành công. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1945, ở Trâm Vàng , một địa danh nổi tiếng của xã Thanh Phước, tổ chức thanh niên Tiền Phong trên năm mươi người vũ khí gồm mấy cây súng, còn  bao nhiêu là vũ khí thô sơ như giáo mác, cung, ná và tầm vông vạt nhọn với tinh thần yêu nước nồng nhiệt , bất chấp gian nguy đã anh dũng phục kích đánh một đoàn xe quân sự của giặc Pháp võ trang hiện đại.

Sau cuộc chiến 30 năm, để lại cho quê hương điêu tàn , nơi nào cũng còn vết tích của bom mìn, chất độc hóa học  tàn phá. Hy vọng sẽ được hàn gắn theo thời gian, màu xanh ruộng vườn rồi sẽ thêm tươi.

Những thế hệ sanh ra và lớn lên trong thời chiến, tâm hồn hay thân thể còn mang vết thương chiến tranh đã ráng đứng lên cùng các thế hệ nối tiếp vượt bao khó khăn gian khổ, kiến tạo lại những gì đã mất do  chiến tranh, xây dựng lại quê hương, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để cùng góp mặt vơí thế giới tiến bộ.

 

Kinh tế

Quê hương Gò Dầu có dạng địa hình đồng bằng chiếm hơn 1/3 diện tích, nằm ven sông Vàm Cỏ Đông và các kinh rạch, đất phù sa màu mỡ thích hợp cho cây lúa, nên kinh tế đi lên bằng con đường phát triển nông nghiệp, có thể tăng nông sản chánh bằng cách tăng canh 2,3 vụ lúa trong năm, đạt năng suất 4-5 tấn/ha trong mỗi vụ. Ngoài lúa ra, do khí hậu, đất đai nơi đây khá thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như mía, mì,tiêu hột, đậu phộng, điều, cao su.

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có những bước tiến đáng kể. Gò Dầu có 4.178 ha đất trồng cao su, trước kia cũng đã có những sở cao su Vên Vên, Trà Võ...

Gò Dầu còn một vấn đề quan trọng đáng quan tâm, đây là huyện đất chật, người đông, đất lành chim đậu nên ngoài việc thâm canh tăng vụ, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… muốn cho kinh tế lên, người ta còn phải chú ý đến an sinh xã hội  bảo đảm cuộc sống của người dân có được những tiện nghi tối thiểu.

 

Giáo dục

Quê hương Gò Dầu âm thầm chịu đựng những bước thăng trầm với vận nước thời chiến chinh, thời gian lặng lẽ, mỗi mùa  qua đi nỗi niềm của con người hy vọng hòa tan vào cuộc sống  được dòng nước sông Vàm Cỏ Đông thấm mát và rửa sạch nỗi buồn chiến tranh.

Gò Dầu, quê hương đa phước (Phước Thạnh, Phước Trạch, Phước Đông và Thanh Phước) được nhiều nhân tài dùng thơ nhạc, văn chương đóng góp để xây dựng nền văn hóa, văn nghệ làm tươi đẹp cho quê nhà.

* Ông Trần Hữu Phương, từng làm thống đốc ngân hàng Việt Nam (VNCH), cựu học sinh xuất sắc trường Petrus Ký.

* Giáo sư Võ Thành Cứ, giáo sư trường Petrus Ký Sài Gòn, đã từng hoạt động trong tổ chức Quốc Gia Độc Lập Đảng ở Gò Dầu, ông du học tại Pháp, với tấm lòng yêu nước thiết tha. Khi về nước, thoạt tiên ông tham gia ngành báo chí, tranh đấu cho tự do báo chí, tự do ngôn luận, để từ đó phát động phong trào đấu tranh đòi độc lập, tự do cho dân tộc. Năm 1936, ông cùng một  bạn chí thân người Pháp, ông Cendrieux có tư tưởng chống thực dân ra tờ báo Dân Quyền. Ông Võ Thành Cứ là nhà báo đầu tiên dám công khai thách thức cả guồng máy cai trị hà khắc của thực dân. Tờ Dân Quyền, số báo ra ngày 29-8-1936 không xin phép trước, mà chỉ thông báo cho Biện Lý cuộc biết trước 24 giờ đúng theo luật báo chí Pháp đang áp dụng bên chính quốc. Dĩ nhiên, số báo Dân Quyền nầy bị xe cây đến tịch thu hết ngay khi báo vừa ra khỏi nhà in.. Lập tức hai ông Cendrieux và Võ Thành Cứ nạp đơn kiện chánh phủ thuộc địa. Nội vụ được tòa án Sài Gòn xử và tuyên bố hai ông Cendrieux và Võ Thành Cứ thắng kiện. Nhưng Biện lý cuộc Sài Gòn kháng cáo về tới tòa án Paris. Hai năm sau (1938) tòa án Paris đem vụ án báo chí nầy ra xét lại. Lần nầy hai ông Cendrieux và Võ Thành Cứ cũng được thắng kiện … Vụ báo Dân Quyền thắng kiện  đã có tầm ảnh hưởng vô cùng rộng lớn cho nền tự do báo chí của miền Nam , vì lúc bấy giờ Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp.

* Thi sĩ Từ Trẩm Lệ -  

Cám ơn anh Thọ Ân Nguyễn Thành Đởm, tác giả bài “ Thi sĩ Từ Trẩm Lệ và tập thơ Cuồng Loạn”,

Theo bài giới thiệu của một vị tên là Văn Xuân :

Nhà thơ Từ Trẩm Lệ tên thật là Trần văn Hinh, sinh năm 1925 tại Gò Dầu – Tây Ninh, là người con thứ năm trong một gia đình giáo học.

Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường Gò Dầu Hạ, Trần văn Hinh trúng tuyển vào trường Trung học Petrus Ký Sài Gòn. Nhưng đến cuối năm học thứ hai chuẩn bị lên năm thứ ba thì Từ Trẩm Lệ bị trọng bịnh, gọi là xơ cứng cột sống, phải nghỉ học. Từ đó Từ Trẩm Lệ thành người có tật , khi đi phải chống gậy.

Do nghỉ học sớm, duyên văn chương tưởng có ngần ấy thôi , nhưng Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng , Từ Trẩm Lệ vồn hết tâm tư cho  sự nghiệp thơ của mình trên các báo Việt Bút, Ánh Sáng … Sau đó, chán cảnh phồn hoa, Từ Trẩm Lệ về quê nhà dạy học nhưng vẫn đều đặng gởi đăng trên các báo Thẫm Mỹ, Bông Lúa, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Văn Đàn, Thời Nay, Phổ Thông…

Nhà thơ, thời thanh niên thiếu may mắn, vì bịnh tật nhưng trong tâm luôn nặng tình yêu quê hương, Tổ quôc , dùng thơ văn chống thực dân Pháp:

Khắp già,trẻ, gái, trai đồng đã sẵn,

Chực đê bờ ngăn vỡ nước ngoại xâm … (Ghi một thời gian)

Ôi ! rừng hoang, mồ bao trang tài sắc

Hận quốc thù, dầu dãi nợ quân binh … (Vế qua chiến khu)

Nhà thơ Từ Trẩm Lệ đã qua đời năm 1998 thọ 73 tuổi.

Tác phẩm : Thi sĩ Từ Trẩm Lệ để lại nhiều bài thơ, trong đó có một tập thơ gồm 35 bài, nhiều bài rất dài , có bài dài trên 100 câu.

* Thi sĩ Trường Anh

Nguyễn Trường Anh sinh năm 1936, thân mật thường gọi là  Út hay Cửa  vì là người con út trong một gia đình ở  Rạch Sơn . Mồ côi mẹ quá sớm :

… Xanh mồ cỏ sầu mẹ chết

Khi con còn chập chửng đi… (Bây giờ con gặp mẹ)

Khi còn học ở trường Tiểu học Gò Dầu Hạ, còn tên là Nguyễn văn Trường, nhân ngày giỗ thân mẫu (là bà Tư Cầm), lúc bấy giờ còn đang học lớp Ba mà ông viết và đọc một bài văn, coi như một bài văn tế mẹ, làm những bà con dự lễ giỗ rất cảm động, phải chăng nỗi buồn khổ đối với người tài, tạo nên những tiếng hát rất hay ? ! “Cảnh khó là một nấc thang cho bậc anh tài…” (Honoré De Balzac) Ông yêu thơ và có tâm hồn văn nghệ từ tuổi học trò. Ông lớn lên trong sự  chăm sóc thương yêu của người kế mẫu mà tình mẫu tử không khác chi mẹ ruột. Trường Anh là ghép tên ông và tên người bạn gái rất thân, sau đó thành người bạn đời. Sau khi tốt nghiệp Sư Phạm, thi sĩ Trường Anh  về làm giáo sư tại trường Trung học Tây Ninh, tánh cương trực nên trong cuộc đời mô phạm gặp nhiều thay đổi không như ý muốn.

Sau  30-4-1975, thi sĩ Trường Anh còn được giữ lại phục vụ trong ngành giáo dục một thời gian, nhưng thi sĩ cảm thấy không thể thích nghi được nên xin nghỉ hưu sớm.

Trong một chuyến đi tìm tài liệu nói vế Tây Ninh, tôi có đến thăm nhà thơ Trường Anh, người gầy ốm, tâm sự có điều  còn nhiều  u - uất

“Tôi đi trong cuộc đời nầy,

 Mang tâm hồn hoảng hốt,

Thấy màu đen viễn tượng ngày mai “. (U - Uất )

 Nên ông thường “ lấy tửu binh giải phá thành sầu …” nhưng “túy tự túy đảo, sầu tự sầu” . Tôi ngồi với ông hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ hỏi thăm được sức khỏe, ông vừa nhâm nhi chung rượu, phì phà khói thuốc lá, vừa nói cười nhưng hình như vui là vui gượng kẻo mà :

 Ôi ! Cuộc đời mệt nhọc !

 Một mai nhắm mắt, sao dời,

Tôi còn chi nữa ? Cuộc đời ! Như anh …” ( Một Dòng Buồn Tênh)

 như nhà thơ tâm sự

“Thuyền đi  , thế kỷ Hai Mươi,

Đau thương bóp chết tiếng cười từ tim”. (Trên Sông Khói Sóng)

Tôi muốn trao đổi ý kiến với thi sĩ về một loài cây “ cây Dó bầu bị sâu đục, biến thành trầm hương”, nhưng chưa nói được gì thì trời đã tối !

Không ngờ lần hội ngộ đó cũng là lần sau cùng, nhà thơ Trường Anh đã vân du tiên cảnh vào tháng 11 năm 2005, ở tuổi thất thập cổ lai hi .

Tác phẩm :

Thi sĩ để lại nhiều tác phẩm thơ, trong đó có  tập thơ “ Mưa Đêm Nay “ gồm 45 bài thơ, với lời Tựa của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Bìa  của Thi sĩ Đinh Hùng, Phụ bản của Họa sĩ Vũ Hối,  Nhà Xuất bản Đăng Trình, in xong tại nhà in Văn Khoa, ngày 20 -5 – 1964.

* Nhà văn Võ Hoài Nam, kỹ sư, bút hiệu  Tiểu Tử , du học tại Pháp, đã từng công tác các nước ở châu Phi, hiện ông cùng với gia đình định cư tại Pháp .

Tác phẩm : Tập truyện ngắn  “ Bài Ca Vọng Cổ” xuất bản năm 2006 tại Hoa Kỳ

* Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông sinh năm 1932 tại Sài Gòn, nguyên quán cha mẹ ở quận Gò Dầu Hạ, tỉnh Tây Ninh. Nhạc sĩ là Đại Tá trong quân lực Việt Nam Công Hòa. Thuở nhỏ, ông học nhạc với giáo sư người Pháp tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Ông đã sáng tác được những ca khúc đầu tiên ở tuổi 16 như: Thiếu Sinh Quân Hành Khúc, Tạm Biệt Mùa Hè … Ra trường thiếu sinh quân, nhạc sĩ Nguyễn văn Đông gia nhập trường  Võ bị sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp  vào năm 1952 với cấp bậc thiếu úy, Năm sau, ông về  trường Võ Bị Đà Lạt. Đến năm 1954, ông đến trường Chiến Thuật tại Hà Nội. Ông theo học khóa Chỉ huy và Tham mưu tại Hawaii năm 1957.  Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã nổi tiếng từ thập niên 1950, làm Trưởng Đoàn văn nghệ “Vì Dân”, năm 1958 là Trưởng Ban nhạc  ‘’Tiếng Thời Gian” của đài phát thanh Sài Gòn. Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông là Giám Đốc Hãng Dĩa và Băng Nhạc “Continental” và Sơn Ca  nổi tiếng ở Miền Nam. Ông còn có nhiều bút hiệu như Phượng Linh, Phương Hà… Trong phạm vi bài nầy, tôi không thể nói đầy đủ về con người đa tài nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, mà chỉ tóm lược những nết chánh. Thời khói lửa chiến tranh  đã thôi thúc ông sáng tác nhiều nhạc phẩm về đời lính. Tiêu biểu cho thể loại nầy như chúng ta đã biết  nhiều nhạc phẩm nổi tiếng: Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính, Phiên Gác Đêm Xuân, Sắc Hoa Màu Nhớ, Hải Ngoại Thương Ca  v.v…

Có thể nói trước năm 1975, nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới (CMBG) của Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, đưọc rất nhiều người ưa thích, theo tác giả cho biết nhạc phẩm CMBG được sáng tác vào năm 1956, khi  ấy nhạc sĩ là trung úy Truởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười. Tuy rất đưọc ưa chuộng và  được phổ biến trong chiến khu Đồng Tháp Mười, nhưng cho đến năm 1960, nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới mới được Đài Phát Thanh Sài Gòn lưu ý và cho phát thanh. “ Lòng trần còn tơ vương khanh tuớng thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”. Đó là câu kết của nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới, như một lời dự đoán cuộc đời thăng trầm bể dâu cần suy ngẫm.

Theo nhạc sĩ, cuộc đời binh nghiệp từ thiếu úy bước dần lên cấp bậc đại tá có được Bảo Quốc Huân Chương,  huy chương cao quí nhứt của Việt Nam và kết thúc cuộc đời binh nghiệp trong tối tăm bằng 16 năm lao tù cải tạo sau biến cố lịch sử 1975.

Sau 30-4-1975 nhạc sĩ bị đi hoc tập cải tạo một thời gian dài, vì bị bịnh nặng được trả về cho gia đình. Hiện nay, gia đình nhạc sĩ Nguyễn văn Đông cư ngụ tại quận Phú Nhuận , Sài Gòn.

Gò Dầu cùng ở một nơi,

Lìa quê từ nhỏ nên rồi chưa quen .

(Cám ơn Anh Nguyễn Phương, anh Trường Kỳ, anh Nguyễn văn Quí đã giúp tôi có cơ hội liên lạc  được với các anh chị đồng hương Tây Ninh)

 

Những Kỷ niệm :

Trường làng tôi không giây phút tôi quên, vui sống bao kỷ niệm ngày xanh “.

Ngày đó, Quốc lộ 1 (nay là Quốc lộc 22A) từ Sài Gòn đến quận lỵ Gó Dầu Hạ chia làm 2 ngã ( gọi là ngã ba): một đi thẳng qua cầu Gò Dầu hướng đến biên giới Việt Nam – Campuchia, còn ngã kia, nay gọi là quốc lộ 22B đi lên hướng Bắc đến Tỉnh lỵ Tây Ninh, trên quốc lộ 22B về hướng Bắc, cách ngã ba chừng một trăm mét bên trái có  con đường tráng nhựa chạy thẳng đến cầu tàu sông Vàm Cỏ Đông (ngày trước trên bờ sông có bến tàu để thỉnh thoảng vài chiếc tàu nhỏ của quân đội  Pháp  và những chiếc chaloupe ghé bến tạm) ngang qua nhà Hội của xã Thanh Phước, và nhà lồng chợ Gò Dầu. Trường Tiều học Gò Dầu Hạ, nằm bên trái con đường nầy, có hàng rào bông bụp lá xanh, có hàng me keo  bên hông dãy nhà gạch kiên cố gồm có văn phòng Hiệu trưởng và những phòng học. Cây me keo cao từ 6 đến 10 mét , lá nhỏ và cứng, thân và cành cây đều có gai, hoa me keo màu trắng ngà rất hấp dẫn đối với loài ong mật.Trái me keo chín màu đỏ nhạt, nó nhỏ hơn trái me, trái có nhiều mắt, mỗi mắt là một hột. Cơm trái me keo màu trắng, không có gì hấp dẫn nhưng học sinh vẫn hái chơi. Nhà trường trồng me keo để làm hàng rao vì cây có gai. Đối diện dãy nhà chính nầy là những phòng học mới phát triển cạnh nhà thầy Nhâm, giữa hai dãy phòng học có sân rộng , có cột cờ. Ngoài hành lang dãy nhà mới nầy, nói là mới nhưng không đẹp và kiên cố như dãy nhà cũ, người ta không thể quên cái trống chầu, sơn đỏ treo ở đó, dùng đánh báo giờ, đó là tiếng thời gian đối với tuổi học trò. Nói đến đây, tôi hình dung cảnh thư thả thuở “ăn chưa no, lo chưa tới” còn đi học trường làng

Xuân đi học coi người hớn hở,

Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng

Hỏi rằng sao đã vội vàng 

Trống chưa nghe đánh đến tràn làm chi.

Ngày đó, còn mười lăm phút trước khi vào giờ học, nhà trường cho đánh một hồi trống và thêm ba dùi, gọi là  “trống tựu ” để nhắc nhở học sinh phải nhanh đến trương. Nhà tôi ở xã Gia Bình, nhờ có bà con ở Gò Dầu nên đến ở trọ nhà ông Tám Thường, người ta quen gọi là ông “Cả Thường” (người đứng đầu trong xã Thanh Phước). Nhà ở cạnh trường học, chờ nghe ‘trống tựu” mới ôm cặp đến trường cũng còn kịp. Nhưng chỉ được một tháng, sau đó vì số học sinh lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) mới nhập học quá đông, thiếu phòng học nên các lớp Cours Moyen(lớp Nhì) và Cours Supérieur (lớp Nhứt) phải “di tản” đến học tại rạp hát trên quốc lộ 22B , gần nhà ông quận Trần văn Giám. Rạp hát cũ được chỉnh trang lại theo nhu cầu tạm của lớp học, cours Moyen học với thầy Tuấn ở phần trước kia dành cho khán giả, còn cours Supérieur học với thầy Tô Thảo “chiếm” phần trên sân khấu, ngăn cách hai lớp bằng tấm vách bồ bằng tre.

Thời “học sinh là người Tổ quốc mong cho mai sau”, chúng tôi cũng được nghe  hát “ Nào anh em đàn trẻ nước Nam Việt Nam, Chúng ta mau kết đoàn tiến lên đường sáng. … ( Bài hát của thiếu sinh - LHP-1942).  Ngày tôi từ giả trường Gò Dầu Hạ về trường Trảng Bàng được thầy Hiệu Trưởng (thời đó là: Le Directeur de l’école ) Trần văn Hổ chứng cho  Certificat de scolarité … 

Travail    : Très bon

Conduite : Excellente

Đến ngày nay tôi còn cất giữ  như một kỷ vật quí báu.

Đó là một trong những kỷ niệm thân mến của Gò Dầu Hạ mà tôi cố giữ gìn  để nhớ lại ‘’thời đuổi nắng sân trường nay đã mất ’’ . Những vật vô tri, phải chăng  mi có một tâm hồn, gắn bó với tâm hồn ta và thêm tình lưu luyến,  như Alphonse de Lamartine đã nói : Objets inanimés, avez-vous donc une âme qui     s’  attache à notre âme et la force d’ aimer ( Milly ou  la terre natale).

Để kết thúc bài nầy, ngày nay  dầu ở cách  xa mấy vạn dặm, tôi luôn mong ước được có ngày nhìn quê hương ấm no ‘’ Bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi, để cô con gái không buồn vì gió đông ‘’ …  Mong rằng giai cấp thống trị, người tự xưng là đầy tớ của dân, hay là ‘‘dân chi phụ mẫu’’ chi chi đó phải lắng nghe tiếng nói chơn chất của dân nhứt là dân oan, đừng tham ô cướp ruộng đất của dân để người nông dân có phương tiện xây dựng ấm no cho đời và  cho xã hội.

Đọc những tin xuất khẩu lao động, người con gái Việt Nam ở khu đèn đỏ -  Singapore , lòng thấy cảm thương cho số phận … sao ngậm ngùi ! Bao nhiêu năm  ‘‘giải phóng ’’ một số người phụ nữ phần đông ở thôn quê, ít học, không có việc làm ‘’được xuất khẩu’’ phải chịu kiếp đọa đày trôi lang thang như những bọt bèo nơi xứ ngưỡi, giữa đêm khuya vắng tiếng hát em trong lệ nhòa, cô đơn trong bóng tối trên đất lạ Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Singapore

Ôi !

Đất nước nghèo không giữ nổi chân em,

Nên xứ người em làm thân gái khách.

Em đứng đó, một mình ôm mặt khóc …

Lòng tôi bổng thương cho số phận ,

Những cô gái yêu kiều nét quê hương

Nổi xót xa nào hơn, bán thân  xứ người !

Chịu nhiều cay đắng, người con gái Việt Nam ! ?

Tội nghiệp em,  thiếu thời hoa niên mơ mộng,

Tuổi xuân  tươi chưa đến, thu đã về !

Xót thương thân gái xứ người

Xác thân vùi dập, cuộc đời đắng cay,

Vận nước đã qua thời  chinh chiến,

Tại sao quê mình còn mãi tối đen  ? !

 

Ngày nào còn nghe tiếng kêu than của dân nghèo, dân oan thì giai cấp ‘‘dân chi phụ mẫu’’ (cha mẹ của dân) nên đánh thức luơng tâm trách nhiệm cứu dân, giúp nước, đừng làm kẻ phản bội, bất nhơn, bất nghĩa để đến ngày tàn ‘‘thác đà mất kiếp, tiếng còn ô danh ‘’ !  ./-

 

 N . B . H