CÁC
ĐỊA DANH MIỀN NAM
Trần Nguơn Phiêu
Miền Nam Việt Nam là miền đất mới
với lịch sử vài trăm năm so với
đất Bắc “ngàn năm
văn vật”. Các địa danh ở miền Bắc
thường mang những tên Hán Việt như Thăng Long,
Hà Nội, Lạng Sơn, Sơn Tây, Ḥa B́nh... Miền Trung
có Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, B́nh
Định... Miền Nam, nơi định cư của
những người phải bỏ các xóm làng cũ từ
miền ngoài vào khai quang để t́m cơ hội mới
lập nghiệp, nên các địa danh do họ đặt
tên có nhiều đặc thù, khác với các địa danh
Trung Bắc.
Người Việt vào Nam khẩn hoang vẫn mang theo
ḿnh nền văn minh lúa nước nhiều đời
của dân tộc. Tuy đất ở miền Nam vào
thời bấy giờ c̣n rất hoang vu nhưng họ
đă thấy đây là một vùng có tiềm năng trong
tương lai về nông nghiệp, một địa cuộc tốt (“địa
cuộc”, danh từ do Trịnh Hoài Đức viết
đầu tiên trong Gia
Định thành Thông chí).
Làng mạc lúc đầu thường được
bố trí sao cho thích hợp với việc làm ruộng
nước. Nghề làm ruộng là một việc chăm
lo lúa không kể ngày đêm, giờ giấc. V́ thế nên nhà
không thể cất xa thửa ruộng và cần phải có
nước uống cho gia đ́nh. Nơi tiện lợi
nhất để chọn nơi cất nhà phải là
nơi tương đối cao ráo. Giồng là những
nơi đất cao được ưa chuộng để
lập xóm làng. Nơi đây khi đào giếng lại có
được nước ngọt để sinh sống.
Nh́n trên bản đồ, giồng ở miền Nam là
những lằn song song, hết giồng tới
nước, dọc theo sông Tiền và sông Hậu.
Địa danh các nơi đây đă được lưu
truyền qua nhiều đời như Giồng ông Tố
gần Sài G̣n, đất Ba Giồng trù phú miền Mỹ
Tho, giồng Càng Long, giồng
Cầu Kè, giồng Cầu Ngang, giồng Tiểu Cần,
giồng Chùa Chim ở Trà Vinh, giồng Vũng Liêm, giồng
Trôm ở Bến Tre, giồng Riềng ở Rạch Giá...
Vùng đất cao, nhỏ hơn giồng
được gọi là g̣, cũng được ưa
chọn làm nơi cư ngụ như G̣ Vấp gần Sài
G̣n, g̣ Bắc Chiên trên con đường Sài G̣n lên Nam Vang, g̣
Đen vùng Tân An quê hương của nhà cách mạng
Nguyễn Văn Tạo, g̣ Dưa gần Thủ
Đức, g̣ Lũy hay g̣ Lữ vùng Cai Lậy, G̣ Dầu
Hạ gần Tây Ninh, G̣ Quao, G̣ Công...
Việc trao đổi hàng hóa, mua bán phẩm vật
ở các nơi đông dân cư đưa đến h́nh
thành các chợ. Sài G̣n được biết ngày xưa
với danh xưng Chợ Bến Thành. Địa danh Sài G̣n
có nhiều giả thuyết. Có thể do phiên âm của
tiếng Prei-kor(rừng cây bông g̣n) hoặc của tiếng
Prei-Nokor(đô lâm hay hoàng lâm) v́ đây có tư dinh của Phó
vương Cao Miên. Một giả thuyết khác là năm
1778, người Minh hương c̣n sống sót sau khi quân
Nguyễn Huệ tàn sát dân Cù lao Phố ở Biên Ḥa họ
phải rút về đây sống dọc kinh Tàu Hủ.
Để ngăn nước họ đă xây bờ gạch
cao dọc kinh. Bờ gạch này được họ
gọi là Thày-ng̣n (Đê
ngạn). Người Pháp phiên âm ra Sài G̣n. Thêm một
thuyết nữa là Sài G̣n có thể do phiên âm của Tây cống, nơi nhận
cống lễ của các đời vua Cao Miên dâng cho vua
Việt Nam. Khít bên Sài G̣n là Chợ Lớn với các
tiệm buôn của người Hoa, Chợ Cũ Sài G̣n,
Chợ Quán, Chợ Cầu Ông Lănh, Chợ Rẫy, Chợ Bà
Chiểu Gia Định, Chợ Bà Điểm, Chợ Bà
Hom, Chợ Bà Quẹo..; Chợ Lách ở Vĩnh Long.
Chợ Đệm ở Tân An quê của “hung thần” Nguyễn Văn
Trấn người đă theo lịnh Trần Văn Giàu
thủ tiêu bao nhà ái quốc miền Nam, Chợ ông Văn,
Chợ Gạo ở Mỹ Tho nơi các ghe lúa từ Lục
Tỉnh tập trung xay ra gạo để đưa vào
Chợ Lớn- Sài G̣n; Chợ Dinh gần Nha Mân...
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi sông
rạch chằng chịch nên các bến là nơi quan
trọng để ghe thuyền có nơi thuận tiện
trao đổi hàng hóa. Bến Nghé có thể là bến
lớn đầu tiên trong Nam v́ dân cố cựu vẫn
gọi Bến Nghé là tên cũ của Sài G̣n. Ngoài ra c̣n bao
nhiêu bến như Bến Tre hoặc Bến Tranh, Bến
Lức ở Mỹ Tho. Thủ Dầu Một có Bến
Cỏ. Biên Ḥa có Bến Cá vùng Tân Triều, nơi sản
xuất bưởi ổi danh tiếng, Bến Gỗ
thuộc Biên Ḥa quê hương của cố Trung
tướng Đỗ Cao Trí...
Một danh từ khác đặc biệt ở
miền Nam là nơi các cửa sông rạch đổ ra các
sông lớn hay sông cái, tên rạch thường mang chữ cái đứng đầu.
Việc này có thể do chữ ngă cái, tức ngă đổ ra
sông cái. V́ được gọi tắt nên gọn lại
chỉ c̣n chữ cái?. Các nơi nổi tiếng gồm có:
Cái Bè tỉnh Mỹ Tho với loại cam Cái Bè lớn và
ngon thơm, Cái Mơn với cây trái nổi tiếng, Cái Nhum
với Nhà Ḍng Cái Nhum nơi đào tạo các thầy
giảng Thiên Chúa Giáo, Cái Nước ở Cà Mau, Cái Môn
nơi đồn binh của Quản Trần Văn Thành án
ngữ căn cứ chống Pháp ở Láng Linh, Cái Cối,
Cái Lớn ở Rạch Giá, Cái Dầu thuộc Châu
Đốc. Cái Sắn là vùng dinh điền rộng lớn
miệt Rạch Giá. Cái Vồn thuộc Cần Thơ đă
nổi tiếng một thời khi Tướng Ḥa Hảo
Năm Lửa đặt bản doanh nơi đây. Cái Tàu là
con sông nối với sông Ông Đốc của Cà Mau. Vùng
đất giữa hai con sông Cái Tàu và sông Ông Đốc cùng
với bờ biển Vịnh Thái lan tạo một thể
h́nh tam giác tức vùng U Minh Hạ. Cái Tàu Thượng, Cái
Tàu Hạ giữa Mỹ Thuận và Sa Đéc là hai con
rạch khác với sông Cái Tàu ở Cà Mau. Riêng Cái Răng
ở Cần Thơ là do từ tiếng Miên kran, loại ḷ nấu
củi nắn bằng đất sét. Người Việt
phát âm từ karan biến ra Cái Răng. Nơi đây
người Thổ chuyên làm loại cà ràng ông Táo ở Xà Tón Tri
Tôn chở ghe theo Sông Cái đến đậu nơi này
để bán.
Giao thông đường thủy c̣n có các rạch
nhỏ. Đây là đặc điểm của miền
Hậu Giang. Rạch đưa nước từ các sông cái
vào các ruộng lúa. Nước rạch chảy theo thủy
triều chớ không chảy theo độ nghiêng của
đất: nước lớn th́ chảy từ sông cái vào
ruộng, nước ṛng th́ từ ngọn rút ra sông. Từ
Thốt Nốt lên chợ Long Xuyên trên khoảng
đường 19 cây số có thể đếm
đến 30 con rạch cắt ngang bờ sông Hậu! Tên
các rạch th́ nhiều vô số kể. Thường
chỉ có người địa phương mới
biết chắc các vị trí ngoại trừ các rạch
danh tiếng trong lịch sử như Rạch Gầm là
nơi Nguyễn Huệ đă tiêu diệt các hải
thuyền của quân Xiêm. Tên rạch thường lấy
tên các thảo mộc mọc theo rạch như Rạch
Chanh, có khi c̣n được gọi là kinh Bà Bèo (Nơi
đây toàn là bàu và bèo, dân chúng nói nhanh nên sau thành bà bèo. Thật ra theo các nghiên
cứu, không có bà nào tên Bèo ở nơi này). Rạch Chanh c̣n
có tên chữ nho là Đăng Giang với sự tích
Nguyễn Ánh trên đường bị quân Nguyễn
Huệ đuổi bắt phải cởi lưng trâu
vượt rạch v́ nơi đây ngày xưa đầy cá
sấu. Đời sau lại đặt truyền
thuyết “vua nhờ cá sấu
đưa qua sông” và đặt ḷ
sứ bên Trung Hoa làm những bộ chén trà “Ngư Gia độ Hoàng Gia, Âm tinh ngộ đế
tinh”! Rạch Chiết nối sông Đồng Nai qua sông Sài
G̣n. Rạch Choại vùng Biên Ḥa(choại là một loại
mây dùng bện sáo). Rạch Lá vùng G̣ Công, rạch Thốt
Nốt vùng Thất Sơn, rạch Xoài Mút vùng Mỹ Tho,
Rạch Giá tên dân giả của tỉnh Kiên Giang( giá là
một loại cây tràm, bông trắng, ong hút mật làm ra
loại sáp rất trắng. Loại sáp này ngày xưa
phải nạp ra Huế gọi là “thuế bạch lạp”). Rạch Dừa ở Hà Tiên.
Rạch Gỗ Đền vùng
An Giang. Ngoài việc đặt tên rạch theo các loại
cây, rạch nhiều khi được đặt tên theo
các cơ cấu đất đai hay theo tên các nhân vật
được biết tiếng. Đó là trường
hợp như Rạch Sỏi ở Rạch Giá, Rạch Cát
vùng Chợ Đệm nhưng tên rạch cát cũng c̣n
thấy ở nhiều nơi như Rạch Cát ở Biên
Ḥa. Vùng Kiến Phong có con rạch tên ngộ nghĩnh là
rạch Cái Thia. Biên Ḥa có Rạch Lá Buông, Rạch Ông Lớn,
Rạch Ông Nhỏ (chảy từ rạch Ông Lớn vô
Chợ Lớn), Rạch Nước Lộn trổ ra vàm
sông lớn Mô Xoài. Mỹ Tho có rạch Ông Hổ nơi chôn
tổ tiên của Tả quân Lê Văn Duyệt. Vùng Mộc
Hóa c̣n có con kinh tên Kinh Ông Lớn nối liền kinh Lagrange
ra sông Vàm Cỏ Tây. Ông Lớn đây là Thiên hộ
Dương anh hùng kháng Pháp. Rạch Thị Nghè ở Sài G̣n
thời trước được gọi Rạch Bà Nghè.
Bà tên Nguyễn Thị Khánh con của Thống xuất
Nguyễn Cữu Vân. Bà đẹp duyên với một ông
Nghè ở Thạnh Mỹ tây thuộc mé bên kia rạch. Ông
Nghè mỗi ngày phải lấy đ̣ qua rạch nên bà ra công
xây cầu cho ông đi làm việc. Cầu được
gọi là cầu Bà Nghè, con rạch cũng được
dân chúng gọi là rạch Bà Nghè. Người Pháp sau
đặt tên là Thị Nghè. Có lẽ v́ kị không dám kêu tên
nên dân chỉ dùng chức tước. Trong thành phố Sa
Đéc có rạch Ông Nhiêu là một chức quan. Vị này là
cố của vợ tác giả bài viết này. V́ đất
ở đây bị sụp lở từ Sông Tiền vào nên
nay rạch Ông Nhiêu đă biến mất. Ở bờ phía
Nam của sông Tiền tỉnh lỵ Sa Đéc có sông Sa
Đéc với các rạch tên rất Nam Kỳ như rạch
Nàng Hai, ngă ba Nước Xoáy, chợ Cồn, rạch
Đất Sét... Một trong những sông quan trọng
miền Cà Mau có tên Sông Ông Đốc, có thể là một
chức tước thay v́ là tên họ? Hai con rạch khác
tỉnh Kiến Phong ở tả ngạn sông Tiền là
Đốc Vàng Thượng và Đốc Vàng Hạ.
Đốc binh Vàng và chưởng binh Lễ đă toàn
thắng liên quân Xiêm-Cao Miên ở Cù Hu năm 1837 nhưng
cả hai đều tử trận! Đốc Vàng Hạ
là nơi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đă bị
Việt Minh ám hại năm 1946.
Nói về sông rạch phải kể đến vàm.
Miền nam có Vàm Cỏ là sông lớn chảy từ cửa
Soài Rạp đến chợ Xà bang mới chia thành hai nhánh
Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Hà Tiên có Vàm Cậu. Long
Xuyên có Vàm Cống. Ngọn rạch từ giữa rừng
Sác ra sông Soài Rạp mang tên Vàm Sác. Vàm Nao là con sông ăn thông
từ sông Tiền qua sông Hậu giữa Long Xuyên và Châu
Đốc. Đây là nơi năm 1787, Nguyễn Ánh hội
binh các Trấn để đánh Tây Sơn.
Sông Cửu Long là một sông dài trên 4000 cây số
bắt nguồn từ Tây Tạng. Đến miền Nam
sông Cửu Long chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu,
trước khi đổ ra biển qua chín cửa. Bắt
đầu là Cửa Tiểu là cửa thứ nhất
kể từø Sài G̣n kể xuống. Đây là nhánh thứ
nhất chảy ngang thành phố Mỹ Tho rồi
đổ ra Nam Hải. Nhánh thứ hai sông Tiền
đổ ra Cửa Đại. Các nhánh sông Tiền khác
đổ ra biển gồm có cửa Hàm Luông, cửa
Cổ Chiên, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu (c̣n
được gọi tên khác là cửa Cồn Ngao). Sông
Hậu đổ ra Nam Hải bằng cửa Ba Thắc
cạnh cù lao Dung, ở giữa hai bên là cửa Tranh
Đề (c̣n có tên là Trấn Di) và cửa Định An.
Ngoài chín cửa của sông Cửu Long c̣n các cửa khác
như cửa Băi Ngao hướng nam tỉnh Vĩnh Long.
Thượng Tân Thị có bài thơ:
Đứng ngó quanh
về phía Băi Ngao,
Một trời, một biển, một
cù lao...
Về phía Tây Nam lối 100 dặm có cửa Gành Hào là
một nơi có nhiều thổ sản như mật ong,
sáp trắng...và thủy sản cá cua rất dồi dào.
Rạch Gành Hào là con sông hợp lưu với sông Ông
Đốc chảy ngang Cà Mau để trổ ra Nam
Hải. Cà Mau c̣n có Cửa Lớn một con sông bắt
nguồn ở Đầm Dơi chảy ngang Năm Căn
rồi đổ ra Nam Hải ở vàm Cửa Lớn.
Một sông trùng tên Cửa Lớn khác của Cà Mau là con sông
nối liền sông Bảy Háp và sông Tràm Chim và đổ ra eo
biển Cà Mau. Vùng Cà Mau c̣n cửa Bồ Đề chảy
ra Nam Hải và cửa Ông Đốc chảy ra Vịnh Thái
Lan. Sông Ông Đốc trong ḷng Cà Mau chia thành hai nhánh: một
chảy ngược nối với rạch Cái Tàu
đổ ra Vịnh Thái Lan, nhánh kia nối với sông Gành
Hào chảy ra Nam Hải. Cửa Bồ Đề và cửa
Ông Đốc là nơi các ghe, tàu từ Bắc Việt
đổ bộ vũ khí, đạn dược
để tiếp tế cho chiến trường miền
Nam. Các tàu này từ hải phận quốc tế chờ
lúc thuận tiện, tránh né tàu tuần Hải Quân miền
Nam để lén lút đổ bộ quân dụng. Ṿng lên phía
Bắc vịnh Thái Lan c̣n có cửa quan trọng khác là
cửa biển Rạch Giá.
Ở miền Nam, ngoài các sông rạch phụ thuộc
sông Cửu Long c̣n phải kể thêm các sông khác như sông
Đồng Nai ở miền Đông. Đây là một sông
lớn bắt nguồn từ Đồng Nai thượng
với hai phụ lưu: sông Bé và sông La Ngà. Nước sông
Đồng Nai vốn có tiếng là nước trong và
ngọt (“Gạo Ba Thắt, nước Đồng Nai”).
Vùng Biên Ḥa, về hạ lưu sông Phước, hai sông
Đông Giang và Tây Giang bị cù lao Cái Tắt chia hai.
Đến chỗ hai sông này nhập lại, ông bà ngày
xưa đặt cho cái tên ngộ nghĩnh là sông Chàng Hăng,
tên chữ là Lan Vu Giang.
Giao thông đường thủy miền Nam do các sông rạch
thiên nhiên c̣n được bổ túc với bao nhiêu kinh
đào. Nhiều kinh đă được đào từ
thời người Chân Lạp nhưng đă bị
lấp cạn phần nào. Thời thuộc địa Pháp,
với phương tiện cơ giới nên rất
nhiều kinh đă được hoàn thành để
nối các sông rạch cho thuận tiện ghe thuyền di
chuyển và cũng để tháo nước phèn để
thêm đất canh tác. Có một con kinh được Pháp
đặt tên Kinh 4 bis (Kinh số 4 phụ), được
dân chúng phiên âm thành Kinh Cát Bích hoặc Cát Bít! Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm đă có công hoàn thành con kinh quan
trọng ở Đồng Tháp là kinh Đồng Tiến.
Thời nhà Nguyễn phải kể đến việc
đào thành công con kinh chiến lược nối liền
đường nước từ Châu Đốc ra cửa
biển Hà Tiên. Phải mất 5 năm, từ 1819
đến 1824 mới đào xong. Ngoài việc giúp tiện
lợi giao thông, con kinh c̣n để phân định biên
giới giữa Việt Nam và Cam Bốt. Vua Minh mạng
đă ban cho tên kinh là kinh Vĩnh Tế, tên của vợ
công thần Thoại Ngọc Hầu.
V́ có nhiều sông ng̣i nên
một đặc điểm khác của miền Nam là có vô
số cù lao và cồn trên sông. Các cù lao loại lớn
bắt đầu từ miền Đông có Cù Lao Phố
ở Biên Ḥa. Đây là một cù lao trù phú danh tiếng
chẳng những ở Việt Nam mà cả ở Đông
Nam Á thời đàng cựu. Ghe tàu ngoại quốc tấp
nập đến đây trao đổi hàng hóa. Trần
Thượng Xuyên, Tổng binh tỉnh Quảng Đông
thời nhà Minh v́ không thuần phục nhà Thanh nên đă dùng
50 chiến thuyền cùng bộ hạ và gia đ́nh
đến xin được
tá túc với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền
Vương) cho họ vào đây lập nghiệp. Trần
Thượng Xuyên lá
người đă có tài và công xây dựng được
trung tâm thương mại quan trọng này. Trong thời
tranh chấp Nguyễn Ánh- Nguyễn Huệ, quân Nguyễn
Huệ đă tàn sát cư dân ở đây, khiến những
người sống sót phải di dân về thành lập khu
Chợ Lớn phồn thịnh ngày nay. Trên các sông Tiền
và sông Hậu, cù lao hay được nhắc tên là cù lao
Giêng ở Long Xuyên. Nơi đây có cô nhi viện lâu
đời do các d́ phước phụ trách. Cù lao
Đại Châu gồm có 5 làng là cù lao giữa cửa
Tiểu và cửa Đại, c̣n có tên gọi là Trấn
Hải Châu. Một cù lao lớn thuộc Sóc Trăng dài trên
35 dặm trên sông Hậu là cù lao Dung. Cù lao Minh giữa
Cổ Chiên và Hàm Luông (Bến Tre), cù lao Năm Thôn là một
trong vài cù lao lớn miền Lục Tỉnh. Các cù lao
lớn nhỏ khác kể ra không siết. Tưởng
chỉ nên kể thêm một cù lao đặc biệt
trấn giữ mặt trước cho châu thành Mỹ Tho:
đó là cù lao Rồng. Nơi đây trước kia là
chỗ an trí các người mắc phải bịnh cùi.
Miền Hậu Giang, nói đến cù lao phải kể
đến cù lao Ông Chưởng, nơi Chưởng binh
Nguyễn Hữu Cảnh bị bịnh nặng phải
bỏ ḿnh sau khi chiến thắng quân Chân Lạp của
Nặc Thu năm 1699. Câu hát đưa em ở miền Nam
đă đi vào văn hóa b́nh dân:
Bao phen quạ nói với
diều:
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Trên mặt biển các cù lao thường
được gọi là ḥn. Lớn nhất và có tiềm
năng kinh tế rất quan trọng là ḥn Phú Quốc,
rộng 200 dặm từ Đông đến Tây. Ngoài
việc sản xuất các thổ sản như tiêu,
dừa... Phú Quốc c̣n được biết trên toàn
quốc với loại
nước mắm ḥn thơm diệu. Vùng Hà Tiên c̣n có các
ḥn Dầu Rái, ḥn Chông nơi có
động gọi chùa Hang. Trong Chùa Hang có hai tượng
Phật tạc từ thế kỷ thứ XIV. Từ ḥn
Chông trông ra biển c̣n có ḥn Phụ Tử. Ngay cửa
biển Rạch Giá có Ḥn Tre châu vi 20 dặm. Ngang vàm sông Ông
Đốc ngoài vịnh Thái Lan có ḥn Đá Bạc, rộng
độ một cây số vuông. Nơi ḥn này Việt Minh
đă xử tử nhà ái quốc Hồ Văn Ngà.
Trước khi chết ông Ngà đă nói với phía Cộng
Sản:
Giết th́ cứ
giết nhưng đừng kêu qua là Việt gian
Phía tây cách Mũi Cà Mau độ 10 cây số có Ḥn Khoai
(Poulo Obi). Nơi đây có một ngọn hải đăng
và đặc biệt lại có nguồn nước
ngọt. Các ghe từ Cà Mau thường ra đây để
lấy nước chở về tiếp tế cho dân chúng.
Ngoài khơi tỉnh Rạch Giá có ḥn Sơn Rái (Tamassou) và
quần đảo Cổ Tṛn (Poulo Dama) là hai nơi các tàu
tuần duyên Hải Quân thường ghé khi thủy thủ
đoàn cần tạm nghỉ. Kể về các ḥn, ngoài
quần đảo Côn Sơn danh tiếng mọi
người đều biết, không thể quên một ḥn
nằm xa nhất về phía Nam vịnh Thái Lan. Đó là ḥn
Thổ Châu (Poulo Panjang), diện tích trên 100 dặm. Các ghe
của dân chài lưới thường đến đây và
tùy theo hướng gió mùa, cập bến hoặc bên bờ
Đông hay bờ Tây của đảo. Thời Việt Nam
Cộng Ḥa, Hải Quân thiết lập một căn
cứ thường trực nơi đây. Trên núi c̣n có
một ngôi cổ tự được các vị sư
ẩn tu chăm sóc.
Giao thông đường bộ, đường sá ngày
xưa thường không có đặt tên. Địa
phương thường ghi các ngă đường bằng
các loại cây đặc biệt như Ngă ba Cây
Điệp, ngă ba Cây Quéo ở Gia Định, Ngă ba Cây
Lơn ở Biên Ḥa, Cây Mai với di tích Chùa cổ Cây Mai hay
Chùa G̣ vùng Phú Lâm, ngă Năm B́nh Ḥa ở Gia Định. Ngă
Sáu Sài G̣n là nơi đặc điểm của sáu con
đường giao nhau, khác với Ngả bảy Phụng
Hiệp gần Cần Thơ là nơi xuất phát của
bảy con kinh. Một vài khi, dân chúng lấy tên các nhân
vật tiêu biểu để đánh dấu các ngă
đường. Gần Sài G̣n có Ngă ba Ông Tạ, Ngă tư
Bảy Hiền. Ở G̣ Vấp, có một ngă ba mà ngày
trước các quân nhân đều biết tiếng. Đó
là Ngă ba Chú Ía, nơi cư trú của các cô gái giang hồ.
Trên sông có một ngă ba được đời
đời truyền tụng tức ngă ba Nhà Bè:
Nhà Bè nước chảy
chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai
th́ về.
Ngày xưa các đường trong thị trấn không
mang tên các nhân vật như ngày nay. Tỉnh lỵ Gia
Định có các đường được dân chúng
gọi theo các loại cây trồng: đường Hàng Bàng
từ Cầu Bông đến Lăng Ông, đường
Hàng Thị nơi có Kho Bạc và căn phố của ông
Nguyễn An Ninh với tủ sách quư, đường Hàng
Xanh từ Gia Định qua Thị Nghè với chùa Sư
Muôn, đường Hàng Keo với cái bót mật thám Pháp giam
các nhà ái quốc, đường Thốt Nốt gần
Lăng Ông nơi có căn phố của Tạ Thu Thâu
từng ở nhiều năm. Nhiều con đường
khác sau này được đặt tên các nhân vật
nhưng dân chúng vẫn dùng các tên xưa: đường Ḷ
Heo Mới, đường Ḷ Heo Cũ, đường Nhà
Thờ, bến Tắm Ngựa.
Miền Nam là vùng đồng bằng với rất
nhiều sông rạch. Trái lại, núi non ở đây rất
hiếm hoi. Ở mạn Đông Bắc mới có các núi
nhỏ như Biên Ḥa có núi Châu Thới cao độ 60
thước với chùa Hội Sơn trên đỉnh, núi
Bữu Long, núi Đá Lửa, núi Đá Trắng...; núi
Thị Văi, núi Dinh vùng Bà Rịa; núi Lớn ở Vũng Tàu.
Núi cao miền Đông chỉ có núi Chứa Chan (803
thước). Tây Ninh có núi Bà Đen, người khơ me
gọi làyéay khmau (lảo bà
đen) một nữ thần gốc Thổ,
được vua Gia Long phong “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Về phía Tây, vùng Hà Tiên có vài
núi nhỏ như núi Phù Dung, núi Địa Tạng, núi Đá
Dựng, núi Mây(Vân Sơn). Chỉ có vùng Châu Đốc
mới có dải núi quan trọng là Thất Sơn hay Bảy
Núi. Được biết nhiều nhất là Núi Sam,
nơi có mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu, mộ
Phật Thầy Tây An và miếu bà Chúa Xứ; núi Sập
với đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Núi
Sập c̣n có tên Thoại Sơn, do triều đ́nh Huế
đặt để tưởng thưởng Thoại
Ngọc Hầu, người có công đào cảng Đông
Xuyên tức sông Ông Thoại và kinh Vĩnh Tế.
Tóm lại, trong khi ở miền Bắc hay Trung, các
địa danh thường có những tên văn hoa th́
ở miền Nam các địa danh lại có đặc tánh
b́nh dân, mộc mạc. Chỉ trừ các nơi khi bắt
đầu khai phá được các quan chức thời
xưa đặt cho các tên văn chương Hán Việt
như Biên Trấn, Gia
Định, Tân An, Long Hồ...tên các nơi khác
thường được dân chúng kêu trại ra từ các
tên của hoặc Chàm, hoặc Khơ Me. Bắt đầu
như Bà Rịa do tiếng Yéay
Ria của Thổ tức lăo bà hay mụ Ria. Châu
Đốc theo người Khơ Me tên Mắt cruk và họ gọi đây là sóc Miệng
heo. Sốc Trăng tên Khơ me là Păm prêk srok khlẳn (Péam: vàm; prêk: sông; srok:
sốc; klẳn: kho bạc. Thời Khơ Me nơi đây
có đặt một kho bạc). Đời Minh Mạng, tên
chữ là Nguyệt Giang Tinh, dân gian gọi nôm na lại thành
Sốc Trăng, bỏ chữ Nguyệt! Cà Mau do tiếng
Khơ Me Tuk-khmau
(nước đen). Vĩnh B́nh do tiếng Khơ Me Preatrapeang (Hồ thánh). Bạc
Liêu do tên Khơ Me Po-Loeuh (Cây
da cao). Từ Long Xuyên đi Châu Đốc có Chắc Cà
Đao nơi được biết tiếng do việc
tướng Ḥa Hảo Lê Quang Vinh tức Ba Cụt đă
bị bắt nơi đây. Ba Cụt đă được
Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ dụ ra hàng
nên đă bị bắt và đă bị Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm xử tử bằng máy chém ở Cần
Thơ. Chắc Cà Đao có lẽ là nói trại từ
tiếng Khơ Me Cháp Cà Đam
(cháp: bắt; Kdam: cua). Khi cuộc Nam Tiến kết thúc
ở Hà Tiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng phát huy
văn hóa của các danh nhân khai phá vùng đất này
như Mặc Cữu và con là
Mặc Thiên Tứ (tác giả mười bài: Hà Tiên thập cảnh) nên
nơi đây lại có những địa danh Hán Việt:
Hà Tiên, Đông Hồ, Tô Châu, Hà
Giang, Vân Sơn, Phù Dung...
Người b́nh dân thích chọn những danh từ
họ dễ nhớ, phù hợp với sự suy diễn
của họ. Trong việc giao dịch hằng ngày, dân chúng
vẫn dùng những ngôn ngữ quen thuộc được
truyền lại từ nhiều đời. Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm, người từ miền
Trung vào nắm vận mạng miền Nam, đă có một
thời đặt lại tên có tánh cách Hán Việt cho các
địa danh ở miền đất này nhưng dân chúng
vẫn thích gọi Cà Mau thay v́ An Xuyên, Rạch Giá thay v́ Kiên
Giang, Long Xuyên thay ǵ An Giang, Cần Thơ thay v́ Phong Dinh,
Sốc Trăng thay v́ Ba Xuyên, Mộc Hóa thay v́ Kiến
Tường, Blao thay ǵ Bảo Lộc...!
Để kết thúc bài viết này, tác giả không
thể không kể đến một chuyện vui. Khi có
cuộc hành quân Sóng T́nh Thương vào vùng Cà Mau, một an
toàn khu nhiều đời của Cộng Sản, trong
buổi ăn sáng ở pḥng ăn sĩ quan trên Hải
Vận Hạm Cam Ranh HQ 500, Chỉ huy trưởng cuộc
hành quân, cố Trung tướng Thủy quân Lục
chiến Lê Nguyên Khang - lúc ấy c̣n mang cấp bực Trung
tá - đă nói: “Trước
giờ xuất phát, tôi xin nói với các đơn vị
trưởng: Tối hôm qua, tôi xem trên bản đồ
thấy gần Ngă ba Hóc Năng có rạch Ông Phiêu. Tôi không
thể viết trong lịnh Hành quân nhưng tôi yêu cầu
quư vị đơn vị trưởng đừng có
đem bác sĩ Phiêu léng phéng đến cái rạch đó!”
Hè 2008