LÀNG
VĨNH H̉A ĐÔNG
Nguyễn Thị Diệp Mai
Có dân quần cư thành thôn
từ thế kỷ XVII, nằm hiền ḥa bên bờ kinh Tà
Niên, làng Vĩnh Ḥa Đông thuộc tổng Kiên Định,
huyện Kiên Giang xưa, trấn Hà Tiên được xem
nơi ghi dấu ấn lịch sử bi hùng của vùng
đất Kiên Giang.
Vào thế kỷ XVI - XVII, trên
vùng đất Tây Nam bộ hiện nay đă có người
Việt cư trú cùng với tộc người Khmer.
Trước năm 1708, Mạc Cửu đă tập hợp
được 7 tụ điểm dân cư mà Gia
Định Thành Thông chí ghi là 7 xă, thôn: Phú Quốc, Lũng
Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau,
riêng Hà Tiên là thủ phủ của Mạc Cửu. Hiện
nay chỉ c̣n 4 địa danh nằm trên đất
nước Việt Nam là Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau và Hà
Tiên. Mùa thu, tháng 8 năm Mậu Tư (1708), Mạc Cửu dâng
biểu xưng thần đem vùng đất nầy chính
thực xáp nhập vào Việt Nam. Chúa Nguyễn Phúc Chu
tiếp nhận, đặt thành một đơn vị
hành chánh cấp Trấn và đặt tên là Trấn Hà Tiên.
Măi cho đến năm 1739, Mạc Thiên Tích (con của
Mạc Cửu) thành lập thêm 4 huyện Kiên Giang (Rạch
Giá), huyện Long Xuyên (Cà Mau), Trấn Giang (Cần Thơ) và
Trấn Di (Bạc Liêu) thuộc trấn Hà Tiên. Vua Minh
Mạng lên ngôi dần dần thực hiện chế
độ trung ương tập quyền. Năm 1825,
trấn Hà Tiên c̣n gồm hai huyện Kiên Giang, Long Xuyên và
một số xă, thôn trực thuộc thẳng trấn (Theo
sách Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài
Đức ghi chép - Dẫn theo Nghiên cứu địa
bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đ́nh
Đầu).
Làng Vĩnh Ḥa Đông
thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên Giang vốn
là thôn Vĩnh Ḥa Đông xưa(1). Làng được xem
nơi ghi dấu ấn lịch sử bi hùng thế kỷ
XIX của vùng đất Kiên Giang. Trước đây vùng
này dân cư c̣n thưa thớt, chưa có người khai
phá nhiều. Đ́nh làng(2) được xây dựng
để thờ thần hoàng bổn cảnh và
người có công chiêu dân khai mở thôn là ông Ngô Quyền
Hóa. Làng là nơi ghi dấu chứng tích của cuộc
chiến cuối cùng của Thự quản cơ Nguyễn
Hiền Điều, là căn cứ địa của anh
hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm 1868, có mộ
của Lâm Quang Ky - phó tướng của Nguyễn
Trung Trực. Làng c̣n nổi tiếng bởi nghề dệt
chiếu Tà Niên.
Tháng 6 năm Quư Tỵ (1833)
không chịu nổi ách thống trị hà khắc của
Minh Mạng, Lê Văn Khôi khởi nghĩa, được
nhân dân vùng lục tỉnh nhiệt liệt hưỡng
ứng. Ngay sau đó, trước sức mạnh của
quân đội tiễu phạt của triều
đ́nh, Khôi đă đi cầu viện vua Xiêm, v́ vậy
quân Xiêm có cớ xâm lược nước ta. Tháng
11 năm 1833 quân Xiêm do tướng Chất Tri (Phi Nha Chakkri)
chỉ huy, chia làm 5 đạo và hơn 100 chiến
thuyền tràn vào đánh chiếm ngay Hà Tiên, xông
thẳng vào nội địa nước ta. Lúc này,
nhiệm vụ chống ngoại xâm được
để lên hàng đầu, nhân dân lục tỉnh không
ủng hộ Khôi nữa, mà cùng với quân đội
triều đ́nh ra sức đánh quân xâm lược.
Tháng giêng năm Giáp Ngọ
(1834) giặc Xiêm phải rút chạy về nước.
Trong bối cảnh lịch sử rối ren, phức
tạp như vậy, một bộ phận tộc người
Khmer ở Kiên Giang do bị xúi giục nổi dậy
xô xát, chia rẽ với tộc người Việt,
chống lại chính quyền đương thời làm
tổn hại đến cộng đồng các dân tộc
Việt Nam, trong đó có cả họ. Để bảo
vệ đất nước, việc chính quyền phong
kiến Việt Nam tiến hành trấn dẹp các cuộc
xô xát là điều cần thiết. Triều đ́nh
đặc phái Nguyễn Hiền Điều về vùng Tà
Niên để ổn định t́nh h́nh. Nguyễn Hiền
Điều (Nguyễn Văn Điều) sinh ở Đông
Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1834 giữ chức
Thự Quản Cơ (tức là quyền quản cơ
) tỉnh Vĩnh Long. Nguyễn Hiền Điều lănh
nhiệm vụ dẹp loạn. Ông th́ nóng ḷng thực
hiện sứ mệnh của ḿnh. Trong đêm khuya ông cùng
một số người tùy tùng đi thám sát tại rạch
So Đũa. Bị phiến quân phát hiện, do việc
phối hợp các lực lượng không chặt chẽ,
viện binh chưa tới kịp, dù có sự chênh lệch
lực lượng rất lớn ông và quân lính chiến
đấu rất anh dũng đến chiều ngày hôm sau,
lâm vào cảnh thế cô, sức yếu ông đă bị
trọng thương. Theo truyền thuyết khi về
đến giếng Cây Trâm (cách đ́nh làng Vĩnh Ḥa
Đông khaỏng 2km) th́ chỉ c̣n lại một vệ
sĩ và ông. Ông để người vệ sĩ canh
miệng giếng c̣n ông trèo xuống giếng uống
nước. Phiến quân truy đuổi đến nơi,
người vệ sĩ chống trả quyết liệt
và bị đâm chết. Ông từ dưới giếng ngoi
lên v́ bất ngờ nên bị đâm một dao vào bụng,
ruột tḥi ra ngoài. Ông bứt lá môn mọc trên miệng
giếng bọc lại, lấy thắt lưng cột
chặt và tiếp tục chiến đấu. Đến
khi không c̣n sức chống đỡ, để khỏi sa
vào tay phiến quân, ông đâm vào cổ tự sát
tại bờ giếng Cây Trâm, lúc ấy vào chiều ngày 13
tháng giêng năm Giáp Ngọ (1834). Phiến quân cắt
đầu ông về treo tại vàm rạch ngă ba So
Đũa. Theo lời kể của các hương lăo, dân
thôn Vĩnh Hoà Đông bí mật tổ chức lấy đầu
lâu của Phó Cơ Nguyễn Hiền Điều do
người Khmer cất giấu ở một chùa tại So
Đũa về thờ tại đ́nh làng và tôn ông làm chính thần.
Theo Đại Nam nhất thống chí ghi:
"Đền Phó Cơ Nguyễn Hiền Điều
ở xă Vân Tập huyện Kiên Giang. Thự Phó Cơ
Vĩnh Long Nguyễn Hiền Điều theo việc
bắt giặc, chết trận, tặng Phó Cơ
thường tỏ linh ứng, năm Thiệu Trị
thứ hai (1842), người địa phương
lập đền thờ". Nguyễn Hiền
Điều là người có công với dân tộc, với
đất nước.
Nguyễn Trung Trực là
vị anh hùng dân tộc đă lập nên hai chiến công vang
dội: đánh chiếm đồn Kiên Giang và đốt
cháy chiến tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Nhật
Tảo. Ông sinh năm 1838 ở Nhật B́nh, huyện
Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xă B́nh Đức,
huyện Bến Lức, tỉnh Long An), tên thật là
Nguyễn Văn Lịch, xuất thân từ nghề chài
lưới, lúc vào lính nằm trong hệ thống lính
đồn điền của quan Kinh Lược Nguyễn
Tri Phương. Khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn
Trung Trực tham gia vào lực lượng nghĩa quân
của Trương Định năm 1861. Cuối năm
1862, ông ra Huế nhận chức Quản Cơ Lănh Binh B́nh
Thuận, tị địa của triều đ́nh Huế.
Sau đó, ông về Hà Tiên nhận chức Thành Thủ Úy
(một chức vơ quan). Ngày 24-6-1867, Pháp chiếm Hà Tiên.
Nguyễn Trung Trực không chấp hành lệnh điều
ra B́nh Thuận mà ở lại Ḥn Chông. Sau khi Nguyễn Trung
Trực chuyển nghĩa quân về hoạt động tại
tỉnh Hà Tiên, ông lấy vùng Tà Niên làm căn cứ
chuẩn bị cho việc đánh chiếm thành Rạch Giá.
Người dân trong vùng tham gia rất đông. Một
năm sau ông đánh chiếm đồn Kiên Giang (ngày
16-6-1868). Sau khi Nguyễn Trung Trực bị bắt và
xử chém tại Rạch Giá, người dân Tà Niên bí
mật thờ ông ở đ́nh. Sau đó thờ thêm phó
tướng của ông là Lâm Quang Ky.
Sau khi quân Nguyễn Trung
Trực hạ thành Rạch Giá, quân Pháp điều quân
từ Vĩnh Long xuống bao vây để chiếm lại
thành. Nghĩa quân thế cô lực ít không giữ thành
nổi. Trong t́nh thế ngặc nghèo, Lâm Quang Ky cùng một
số nghĩa quân cảm tử tự nguyện ở
lại cầm chân giặc để Nguyễn Trung Trực
rút lực lượng chính về Ḥn Chông. Lâm Quang Ky mặc
chiến bào của chủ tướng, cầm cờ
lệnh cố t́nh chiến đầu kéo dài thời gian.
Cuối cùng quân Pháp bắt được ông cùng sáu
người khác. Chúng đinh ninh ông là Nguyễn Trung
Trực nên không truy đuổi theo cánh quân rút về Ḥn
Chông. Mấy ngày sau tên cai đội Lượm biết
mặt Nguyễn Trung Trực bèn báo cho quân Pháp. Tên chỉ
huy quân Pháp tức giận đem ông và sáu người kia ra
xử chém tại chợ Rạch Giá không cần xét xử.
Hiện nay ḍng họ Lâm ở Vĩnh Ḥa Đông vẫn c̣n
giữ một mảnh vải mà theo lời kể của
người giữ đó là vạt áo của Lâm Quang Ky
cắt đứt khi người vợ trẻ níu áo van xin
ông đừng đi nhận cái chết thay cho chủ
tướng. Người dân Nam bộ tôn vinh sự hy sinh
của Lâm Quang Ky là hành động của "Lê Lai
cứu chúa".
Cuộc khởi nghĩa
Nguyễn Trung Trực tuy bị dập tắc nhưng tinh
thần bất khuất của ông đă để lại
cho con cháu đời sau câu tuyên ngôn bất hủ "Bao
giờ nhổ kết cỏ nước Nam th́ mới
hết người Nam đánh Tây" và hai chiến công oanh
liệt :
"Hỏa hồng Nhật Tảo
oanh thiên địa
Kiếm
bạt Kiên Giang khấp quỷ thần"
(Huỳnh Mẫn Đạt)
Đ́nh làng Vĩnh Ḥa Đông
c̣n lưu giữ 1 bản sắc phong đề "Tự
Đức ngũ niên thập nhất nguyệt nhị chi
cửu nhật" (Ngày 18 tháng 11 năm Tự Đức
thứ 5); 1 bản hương ước của làng
Vĩnh Ḥa Đông viết vào năm 1853, bằng chữ Hán
gồm 3 chương được viết trên vải
lụa. Đây được xem như báu vật của
làng được truyền giữ rất cẩn
thận, chỉ có ngày lễ tế thần mới
rước về, đọc cho dân chúng đến dự
lễ nghe. Làng Vĩnh Ḥa Đông không chỉ nổi
tiếng bởi lịch sử bi hùng mà c̣n nổi tiếng
bởi nghề dệt chiếu Tà Niên, nhất là loại
chiếu dệt lẫy hoa th́ càng sắc sảo.
Trước năm 1880, chưa có kinh Ông Hiển từ Rạch
Giá đổ ra sông Cái Bé, hai bên rạch là những băi bùn
chạy dài vô tận, mọc đầy dẫy loại lát
gon (cói). Rạch Tà Niên nằm bên hữu ngạn con sông Cái
Bé nổi tiếng về nghề dệt chiếu.
Người Khmer gọi Cṛ-tiêl. Cṛ-tiêl là chiếu dệt
bằng lác (cói). Có phải từ Cṛ-tiêl người Kinh
phát âm trại thành Tà Niên. Thời phong kiến triều
Nguyễn, là một xóm gồm người Việt cùng
người Khmer chuyên sống nghề dệt chiếu, làm
nổi danh "chiếu Tà Niên".
Tương truyền
trước lúc Pháp đến đô hộ, chiếu ở
đây chưa có lẫy hoa, chưa có nhuộm giang thành màu
sắc như bây giờ. Chiếu dệt tuy sắc sảo
nhưng vẫn ḿnh trắng ngà bởi màu lát khô mà thôi.
Truyền thuyết về chữ "THỌ" màu
đỏ trên mặt chiếc chiếu Tà Niên
được kể lại như sau: Vào buổi sáng ngày
27-10- 1868, nhân dân Tà Niên và nhiều nơi khác đổ xô ra
chợ Rạch Giá, v́ bọn thực dân Pháp đem cụ
Nguyễn Trung Trực ra hành quyết. Cụ yêu cầu chúng
mở trói và không bịt mắt để Cụ nh́n
đồng bào và quê hương trước phút "ra
đi". Bô lăo làng Tà Niên đến vĩnh biệt
Cụ, trải xuống đất một chiếc
chiếu thật đẹp cho Cụ bước
đứng giữa. Cụ hiên ngang, dơng dạc
trước pháp trường, nh́n bầu trời, nh́n
đất nước và từ giă đồng bào… Chiếc
đầu của Cụ rụng xuống, hai tay Cụ
đưa lên đỡ lấy, người cứ
đứng vững như một trụ đồng. Máu
từ cổ của Cụ phun ra thành ṿi rơi xuống
mặt chiếc chiếu Tà Niên tinh khiết thành h́nh một
chữ THỌ lớn tựa mặt trời giữa áng
mây… Dân Tà Niên mang chiếc chiếu kia về thờ và
nghề dệt chiếu ở đây bắt đầu
nhuộm giang lẫy hoa h́nh chữ Thọ như chiếu
bông Tà Niên ngày nay. Chiếu Tà Niên đă đoạt nhiều
huy chương vàng qua những cuộc đấu xảo
thời thuộc Pháp : tham dự hội chợ Hà Nội
lần đầu tiên năm 1918 - 1922 - 1923, hội chợ
Sài G̣n năm 1926, hội chợ Marseille năm 1933, hội
chợ Cần Thơ năm 1936(2). Và ngày nay chiếu Tà Niên
cũng vẫn là mặt hàng nổi tiếng của Kiên Giang.
Làng Vĩnh Ḥa Đông
phát triển từ lúc con kinh Ông Hiển
được khai thông (1883), nhà lồng kiên cố
được xây dựng, phố xá dày đặc, sầm
uất ở bốn đầu doi ngă tư. Thời kháng
chiến chống Pháp, vào ngày 21-8- 1948 xảy ra một
cuộc thảm sát ở đây do đội biệt kích
của tên Việt gian Bảy Tiểu (Hà Mỹ Xuân) sát
hại, có 177 người chết và hàng chục
người bị thương, kể cả người
già và trẻ em. Nợ máu bi thương thương đó
một lần nữa khắc lên mảnh đất
Vĩnh Ḥa Đông, khiến người dân nơi đây
càng kiên cường, càng tự hào hơn về làng của
ḿnh. Cũng tại làng, ngày 19-7-1958, nữ anh hùng lực
lượng vũ trang Trần Quang Mẫn đă dùng dao
hạ sát tên Tỉnh đoàn trưởng đoàn bảo an
Lâm Quang Pḥng. Tên Lâm Quang Pḥng khét tiếng ác ôn, gây nhiều
nợ máu với đồng bào vùng U Minh. Tỉnh ủy
Rạch Giá chỉ đạo chị Mẫn cùng một
tổ đặc công t́m cách diệt hắn. Nhận
nhiệm vụ chị đă trà trộn vào nhà cô ruột
của tên Pḥng (ngôi nhà nầy cách đ́nh làng khoảng 200m),
chọn thời cơ hạ sát hắn. Không may tên Pḥng
chỉ trọng thương chị bị địch
bắt. Sau vụ việc trên những tên tề
điệp ác ôn co ṿi không dám lộng hành như
trước nữa. Thời kỳ đó báo chí trong ngoài
nước rầm rộ với hàng loạt bài "Nữ
thần hạ sát Lâm tướng quân". Người làng
Vĩnh Ḥa Đông truyền tụng măi hành động anh
hùng của chị Mười Mẫn. Người
đến viếng làng thường hay được dân
làng chỉ cho ngôi nhà nơi xảy ra trận chiến
của người nữ chiến sĩ cách mạng
gan dạ dám một ḿnh vào tận hang ổ kẻ thù
trừng trị tên cầm đầu mang nhiều tội
với dân.
Làng Vĩnh Ḥa Đông vẫn
yên b́nh bên bờ rạch Tà Niên, với những phố
chợ sầm uất, với nghề dệt chiếu Tà
Niên truyền thống truyền từ đời nầy
sang đời khác. Để rồi đến ngày rằm
tháng Giêng hàng năm, dân chung vùng cùng người tứ
phương vùng lục tỉnh xưa náo nức kéo nhau
về đ́nh làng tế lễ. Các bô lăo lại kể cho
con cháu nghe lịch sử bi hùng của làng, kể bằng
ḷng tự hào của làng quê đang từng ngày đổi
mới mà nét văn hóa của làng không bao giờ mất
đi./.
Chú thích
(1) - Ngày nay làng thuộc xă
Vĩnh Ḥa Hiệp - huyện Châu Thành - Kiên Giang.
(2) -
Ngày nay tên đ́nh được ghi "Đ́nh thần xă
Vĩnh Ḥa Hiệp"
NGUYỄN
THỊ DIỆP MAI
4/2008
Nguôn: http://www.vantuyen.net/