LỊCH
SỬ VÙNG BIỂN VIỆT NAM - CAMPUCHIA
Phạm Thị Hồng Phượng
1.
Đặc điểm chung vùng biển Việt Nam – Campuchia
Vùng biển Việt Nam – Campuchia
nằm trong vịnh Thái Lan, là phần phía Tây của
biển Đông, tạo thành một vùng lơm rộng trên
bờ biển phía Nam của lục địa Đông
Dương, Vịnh Thái Lan trải dài từ vĩ
tuyến 5° đến 14° Bắc và từ kinh tuyến 99°
đến 105° Đông và kết thúc ở phía Bắc
Đông Bắc ở mũi Cà Mau tại 8°36’ Bắc - 102°21’
Đông. Vùng biển Việt Nam - Campuchia là một biển
nửa kín, với diện tích khoảng 300.000km2, giới
hạn bởi bờ biển của bốn nước
Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia. Vịnh thông ra biển
Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất
hợp bởi mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau
chừng 400km (215 hải lư). Vịnh khá dài (chừng 450
hải lư) nhưng có diện tích nhỏ, chiều rộng
trung b́nh là 385km (208 hải lư). Ngoài ra vịnh có khoảng 200
đảo, đảo nhỏ chủ yếu tập trung
vào phần phía Đông và gần bờ biển. Đó là
yếu tố làm phức tạp hoá không những việc
phân định ranh giới các vùng biển giữa Việt
Nam và Campuchia mà c̣n cả đối với việc phân
định biển giữa một bên là Campuchia và Việt
Nam với bên kia là Thái Lan.
Vùng biển giữa Việt Nam -
Campuchia trong vịnh Thái Lan có trên 100 đảo lớn
nhỏ như Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu
(Poulo Panjang), đảo Wai (Poulo Wai), quần đảo
Hải Tặc, đảo Phú Dự, ḥn Tiên Mới... Phần
lớn các đảo có diện tích nhỏ, trừ Phú
Quốc (600km2), đảo Thổ Chu khoảng 10km2,
đảo Phú Dự 25km2, Ḥn Dứa 6km2. các đảo c̣n
lại có diện tích từ vài trăm mét vuông đến
1-2km2. Dân cư thường sống ở các đảo có
nước ngọt và có điều kiện phát triển
kinh tế riêng. Họ sống chủ yếu bằng
nghề đánh cá. Trên đảo Phú Quốc ngoài nghề cá
người dân c̣n sống bằng chăn nuôi và trồng
cao su, hồ tiêu.
Độ sâu khu vực giữa các
đảo không cao, giữa Thổ Chu và đảo Phú
Dự trung b́nh là 20m, quanh quần đảo Thổ Chu
độ sâu lớn nhất là 40m. Như vậy nếu
mực nước hạ đi 40m, vùng biển gần
bờ biển phía Đông của vịnh Thái Lan này, nằm
giữa đảo Koh Rong, Koh Phao (Campuchia), Ḥn Trọc,
quần đảo Ḥn Khoai sẽ là một đồng
bằng rộng lớn, các đảo trong vùng trở thành
các núi nhỏ, đảo cao nhất không quá 100m.
Đảo Phú Quốc dài 45km, rộng
3km cách Kampot (Campuchia) 14 hải lư và Hà Tiên (Việt Nam) 25km.
Nơi đây có đất đai ph́ nhiêu màu mỡ và
thuận lợi cho trồng trọt. Đảo
được bao phủ phần lớn bởi rừng,
có nhiều loài cây quư hiếm. Bờ biển phía Đông
nhiều nguy hiểm v́ có những mỏm đá ngầm, san
hô và những băi cạn nửa nổi nửa ch́m, ở
một số nơi chúng rộng tới 3 hải lư,
những đảo hoàn toàn an toàn, trên đảo có
nhiều giếng nước ngọt.
Phía Nam Phú Quốc có quần
đảo An Thới với khoảng hai chục
đảo nhỏ. Phía trong đảo này có nhiều núi,
ngọn núi cao nhất đến 641m.
Đảo Phú Quốc sản xuất
nhiều nước mắm có giá trị cao và nổi
tiếng. Thủ phủ của đảo là Dương
Đông, gần bờ biển phía Tây. Tổng số dân trên
đảo khoảng hơn năm chục ngh́n
người.
Trong lịch sử, Gia Long (1802-1820),
vị vua đầu tiên của triều đại phong
kiến cuối cùng của Việt Nam đă lánh nạn
phong trào nông dân Tây Sơn ra nương náu ở đảo
này (1771-1802) và có lẽ đă đặt tên đảo là
Phục quốc, sau gọi trệch đi là Phú Quốc [1] .
Các đảo ven bờ:
- Ḥn
Tai (Koh Antay), cách Kép 3km. Đảo rộng khoảng 2km2 và
có nhiều cây che phủ. Quân đội Campuchia chiếm
đóng đảo từ năm 1958.
- Ḥn
Tre Nam (đảo ở phía Bắc Koh Po). Đảo
này nằm cách đảo Pic khoảng 1,6 hải lư và quân
đội Campuchia cũng chiếm đóng từ năm
1958.
- Ḥn
Kiến Vàng (Koh Angrang), cách mũi Nai của Hà Tiên 8km
diện tích đảo nhỏ chừng 200m2 và từ năm
1960 nằm dưới sự chiếm đóng của
người Cămpuchia.
- Phía
Bắc của đảo Phú Quốc có hai đảo khá
quan trọng khác. Đảo Phú Dự (Koh Thmey), cách bờ
biển Kampot 0,5 hải lư. Diện tích đảo 25km2,
chỗ cao nhất là 175m. Đảo có tài nguyên phong phú, phía
Tây có đồng bằng khá ph́ nhiêu, trồng trọt
thuận tiện, phía Đông Bắc có sông nước
ngọt...
Các đảo ngoài khơi:
Đó là quần đảo Thổ Chu
của Việt Nam và Poulo Wai của Campuchia. Đảo Poulo
Wai cách mũi Tây Bắc Phú Quốc 59 hải lư, gồm hai
đảo có diện tích tương đương, cách
quần đảo Thổ Chu 45 hải lư. Quần
đảo Thổ Chu gồm 8 đảo, quần
đảo này nằm xa nhất trong vịnh, cách
đảo Phú Quốc chừng 55 hải lư, gần đường
hàng hải lại có diện tích từ 10m2 đến 1km2.
Dân cư sinh sống chủ yếu ở đảo
Thổ Chu làm nghề đánh cá và khai thác rừng.
2. Lịch sử vấn đề biên giới
biển Việt Nam - Campuchia
Cuối thế kỷ 17, vùng Hà Tiên là
một nơi ít người sinh sống nằm dọc theo
vịnh Xiêm, đường thông ra biển khơi có
nhiều đảo bịt kín. Ở đó chủ yếu
có ngư dân và cướp biển.
Vào đầu thế kỷ XVIII,
Mạc Cửu, xuất thân từ một gia đ́nh Trung
Quốc quí tộc có quyền thế ở Long Châu thuộc
tỉnh Quảng Đông do đối lập với nhà
Thanh phải lánh nạn sang Campuchia. Không bao lâu sau ông
chiếm được một vị trí quan trọng trong
triều vua Udong. V́ hiểu rằng vị trí của ḿnh
trong triều là bấp bênh (do bị ghen tỵ, kèn cựa)
ông đă chọn lập nghiệp tại một nơi sau
này có thể cho ông quyền độc lập. Đó là Hà
Tiên, một vùng đất giàu có thích hợp cho khai phá,
nằm giữa Lục Chân Lạp với Thủy Chân
Lạp, ngă tư của các tiềm năng kinh tế và
chính trị. ông được cử làm quan cai trị các
lănh thổ dọc theo vịnh Xiêm và bắt đầu khai
hoang và phát triển công việc cai trị, mậu dịch
và nền văn hoá Trung Quốc trong khu vực đất
đai của ḿnh.
Người Xiêm do ghen tỵ
trước sự trù phú nhanh chóng đó, đưa quân sang
xâm lược. Mạc Cửu và thuộc hạ của ông
bị bắt làm tù binh. Trước sự bất lực
của nhà cầm quyền Campuchia trong việc bảo
vệ ḿnh, sau khi thoát khỏi tù đầy, Mạc Cửu
xin tự đặt ḿnh dưới quyền bảo hộ
của Việt Nam vào năm 1708, lúc này do các Chúa Nguyễn
nắm quyền bính (vào thời điểm này lănh thổ
Hà Tiên gồm các vùng Long Cai [2],
Cần Vọt [3], Vũng Thơm [4],
Rạch Giá, Cà Mau và đảo Phú Quốc).
Vào năm 1735 sau khi ông mất, các chúa
Nguyễn cử Mạc Thiên Tứ là con ông giữ chức
quan cai trị. ông này đă đánh bại và giết
Hoắc Nhiêu là kẻ cầm đầu giặc cướp,
và chiếm lại tất cả các đảo kể
cả đảo Kokong vào năm 1767. Các quan cai trị dân
sự và quân sự Việt Nam được cử
đến giúp đỡ ông hoàn thành nhiệm vụ. Năm
1858, lấy lư do vua Tự Đức, Hoàng đế
Việt Nam (1840-1885) ngược đăi các đoàn truyền
đạo Cơ đốc, quân đội Pháp đánh
chiếm Việt Nam. Việt Nam thua trận, phải kư
Hiệp ước 1874 nhường cho Pháp 6 tỉnh ở
Nam Kỳ, trong đó có tỉnh Hà Tiên, kể cả các
đảo thuộc tỉnh này.
Thực dân Pháp thiết lập chính
quyền thuộc địa và chính quyền bảo hộ
ở Nam Kỳ (1867) và Campuchia (1863), họ đứng
trước t́nh h́nh là tất cả các đảo trên vùng
biển giữa Nam Kỳ và Campuchia đều thuộc
chủ quyền của Việt Nam. Trong bản báo cáo tháng
1-1869, viên thanh tra Pháp Chessez đă viết "Ngay cả
đảo Phú Dự cách bờ biển Campuchia 0,5 hải lư
và đảo Tiên Mới cách đảo Phú Dự 1 hải
lư cũng đều thuộc một làng Việt Nam". V́
vậy, sau một thời gian khảo sát, ngày 25-5-1874
Thống đốc Nam Kỳ đă kư Nghị định
thành lập một quận biển trực thuộc chính
quyền Nam Kỳ bao gồm các đảo thuộc
trấn Hà Tiên.
Ngày 11-8-1863, Campuchia cũng kư một
hiệp ước với Pháp, theo đó, Pháp bảo
đảm việc bảo hộ bằng quân sự
nước Campuchia chống mọi cuộc tấn công
từ bên ngoài. Một viên Khâm sứ được bổ
nhiệm bên cạnh vua Campuchia để theo dơi việc thi
hành Hiệp ước. Về phía ḿnh, vua Campuchia bị
ngăn cấm không được có bất kỳ quan
hệ nào với các cường quốc bên ngoài nếu
không có sự thoả thuận trước của
nước Pháp. Sau đó để nhiệm vụ tiến
hành thuận lợi nhà cầm quyền Pháp quyết
định hoạch định rơ nước Campuchia và
lập một Uỷ ban Pháp - Khmer hỗn hợp có
nhiệm vụ nghiên cứu vạch đường biên
giới giữa Nam Kỳ và Campuchia và tŕnh bày các kiến
nghị của Uỷ ban lên các cấp cao nhất. Việc
vạch đường biên giới sau đó
được ấn định "dứt khoát"
tại Công ước 15-7-1873 giữa Vua Norodom và Chuẩn
đô đốc Cornulier Lucimière nhân danh Nam Kỳ. Nhưng
Công ước này không đề cập đến việc
quy thuộc các đảo. Cả các Uỷ ban phân
định ranh giới được thành lập vào
năm 1910 và năm 1935 cũng không đả động ǵ
tới vấn đề đảo, và đương nhiên
cũng không nói ǵ tới đường biên giới trên
biển giữa hai nước. Nhưng vấn đề
các đảo đă được giải quyết
dứt khoát kể từ Hiệp định ngày 15-3-1874.
Ngày 25-5-1874, hai tháng sau khi có Hiệp
ước, Chuẩn đô đốc, quyền Thống
đốc và Tổng tư lệnh [Jules François Émile] Krantz,
công bố Nghị định N°124 tách đảo Phú
Quốc và các đảo lân cận khác ra khỏi hạt Hà
Tiên để lập thành một quận riêng biệt.
Điều 1 của Nghị
định này và bản đồ mô tả nội dung
của điều 1 (bản đồ số 4) như sau:
"Đảo Phú Quốc và tất
cả các đảo nằm giữa kinh tuyến 100° và 102°
Đông và giữa vĩ tuyến 9° và 11°30’ Bắc (kể
cả quần đảo Nam Du) được tách ra
khỏi hạt Hà Tiên và tạo thành một quận riêng
biệt, được cai trị như mọi hạt
tham biện khác của Nam Kỳ".
Đây là lần đầu tiên
Nghị định nói trên nói rơ tính chất của các
đảo trước đây đă được An Nam
nhượng cho nước Pháp theo Hiệp ước Hoà
b́nh kư kết giữa hai nước ngày 15-3-1874. Thực
vậy, điều này cho thấy một sự liên tục
trong việc cai trị các đảo tiếp nối nhau
giữa Pháp và An Nam.
Sau đó, một Nghị định
thứ 2 ngày 16-6-1875, lại sáp nhập vào quận Hà Tiên,
hạt tham biện Phú Quốc, do [Charles-Marie] Duperré,
Chuẩn đô đốc, Thống đốc và Tổng
Tư lệnh kư tên.
Như vậy, và kể từ thời
điểm nói trên các ranh giới của lănh thổ Phú
Quốc đă được xác định rơ, do đó
chúng ta có thể xác định dễ dàng và với tất
cả sự chính xác cần thiết danh mục các
đảo đă bị Pháp thôn tính khi họ đóng vùng
Hạ Nam Kỳ để thi hành Hiệp ước 1874.
Về phía người Campuchia, họ
không có yêu cầu nào đối với bất kỳ
đảo nào và chủ quyền của các đảo
đă không được nêu ra khi kư Hiệp ước 1907
giữa Pháp và Xiêm, theo đó đại diện nước
Pháp với tư cách là Toàn quyền Đông Dương
chứ không phải là với danh nghĩa bảo hộ
Campuchia, nhường cho Xiêm tất cả các đảo
ở phía Bắc mũi Lemline, kể cả đảo Koh
Kut. Về sau Uỷ ban được giao trách nhiệm vào
năm 1910 tiến hành phân định các biên giới Nam
Kỳ và Campuchia cũng không nhận được
kiến nghị nào của bên Campuchia yêu cầu xác
định các đảo của mỗi nước.
Tranh chấp chỉ bắt đầu
vào năm 1931, khi Công sứ Pháp ở Kampot nhận
được một đơn xin đặc
nhượng một miếng đất trên đảo Koh
Tang. Ngoài ra, ông Fournier, Tỉnh trưởng Hà Tiên, trong ṿng
không đầy một tháng đă nhận được 14
bản khai về chu vi các mỏ chỉ liên quan đến
các đảo trong vịnh. Các mỏ này chứa những
vỉa rất giàu phốt phát, sắt khiến nhiều nhà
thăm đ̣ lưu tâm. Lấy lư do các đảo gần
bờ biển Campuchia, Khâm sứ Campuchia kiến nghị
Thống đốc Nam Kỳ giao các đảo đó cho
chính quyền Campuchia v́: “vị trí địa lư của các
đảo này gắn bó chúng một cách tự nhiên vào
Campuchia là nơi việc giám sát có thể tiến hành tốt
hơn do gần nhà đương cục Campuchia". Theo
yêu cầu của Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ
Campuchia bằng thư đă trả lời rằng:
"Mặc dầu đă tiến hành t́m kiếm tỉ
mỉ, vẫn không thể thu thập được các
yếu tố nghiêm chỉnh cho phép xác định một
cách tuyệt đối các quyền tương ứng
của Nam Kỳ và Campuchia đối với các đảo
trong vịnh Xiêm". Về việc này, ông Khâm sứ đưa
ra một bản can vịnh Xiêm, trong đó có một ranh
giới giả định được Pḥng Địa
bạ Campuchia tŕnh bày mà theo ông có thể thích hợp v́
đường ranh giới đó có tính đến vị
trí địa lư, các ảnh hưởng tương ứng
của Nam Kỳ và của Campuchia và các sắc tộc
của vài làng có các ngư dân định cư tại
đó". Đường phân chia đó chạy gần
như song song với vĩ tuyến 10°30’, ở phía Bắc
đảo Phú Quốc, có thể cho Campuchia vài ḥn
đảo gần bờ biển của nước này;
đó là các đảo Phú Dự, đảo Tiên Mối và
đảo Dừa.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh ở
đây là người Campuchia đă chỉ đưa ra yêu
sách đối với nhóm các đảo gần Réam, và không
yêu sách ǵ cả về đảo Phú Quốc lẫn nhóm các
đảo Hải Tặc, hay nhóm các đảo ở ngoài
biển khơi. Thống đốc Nam Kỳ không chấp
nhận kiến nghị nói trên và vấn đề bị
treo lại cho đến năm 1936.
Khác với cuộc tranh căi năm 1913,
nguồn gốc cuộc tranh chấp trong thời kỳ
1936-1937 do các lư do về thuế khoá tạo ra. Chính quyền
bảo hộ Campuchia lấy lư do thu thuế các ngư dân
trong vùng nêu ra việc cần thiết phải giải
quyết dứt điểm vấn đề quyền
sở hữu về các đảo đó.
Thực vậy, ngư dân Campuchia
thường qua lại các đảo và các mỏm đá
thuộc chủ quyền của Nam Kỳ để
tiếp tế nước ngọt và để ẩn náu
khi thời tiết xấu. Cho đến năm 1935, ngư
dân Campuchia vẫn đóng một phần thuế cho
Campuchia. Tuy nhiên, do việc Nam Kỳ đặt các trạm
thuế quan trên một số đảo và mức thuế
lợi hơn nhiều so với tiền thuế do nhà
đương cục Campuchia thu, nên dần dần họ
từ chối không nộp thuế cho tỉnh Kampot, và
họ muốn nộp thuế cho Nam Kỳ. Tất nhiên,
sự thay đổi đó làm thiệt hại cho ngân sách
địa phương Kampot. Khâm sứ Campuchia liền
đề nghị với Thống đốc Nam Kỳ
một tạm ước "V́ lư do quy chế đặc
biệt của các lănh thổ đó, là những lănh thổ
mặc dầu nằm trong lănh hải của Campuchia,
về pháp luật là thuộc chủ quyền của Nam
Kỳ, đối với tôi sẽ có ích nếu chấp
nhận đối với vấn đề thu thuế các
vùng đánh cá một tạm ước modus vivendi tính
đến t́nh h́nh thực tế hơn là t́nh h́nh pháp
luật,, - Thư của Khâm sứ Campuchia gửi Toàn
quyền Đông Dương.
Để giải quyết dứt
điểm vấn đề thuế khoá, Tỉnh
trưởng Hà Tiên đề ra việc lấy tiêu
chuẩn là nơi cư trú hợp pháp của thuộc dân.
Người địa phương ghi tên và cư trú ở
Nam Kỳ, đánh cá ở các vùng ngay gần các đảo
của Nam Kỳ sẽ chịu chế độ thuế
áp dụng tại thuộc địa này; trái lại, quy
định đang thi hành ở Campuchia sẽ áp dụng
đối với những người thuộc quốc
tịch Campuchia và đóng thuế thân ở Campuchia. Tuy nhiên
chính quyền bảo hộ Campuchia từ chối đề
nghị hợp lư đó lấy lư do là nơi cư trú
hợp pháp của ngư dân trước đây khó xác
định chính xác v́ ngư dân là đám cư dân sống
bồng bềnh trên mặt nước, những
người "chỉ có thể t́m đến chỗ
họ bằng cách dùng ca nô đi đến những nơi
họ đánh cá, và họ trước hết luôn t́m cách
lẩn tránh các nhân viên thu thuế”. Công sứ Kampot gợi ư
một giải pháp khác ấn định một ranh
giới gần như song song với bờ biển, cách
bờ biển 5km (3 hải lư); phía trong đường nói
trên phân định, các vùng đánh cá sẽ được
đặt dưới quy định của Campuchia, phía
ngoài đường, chúng sẽ chịu các khoản
thuế áp dụng ở Nam Kỳ.
Cần lưu ư là nếu kiến
nghị này được chấp nhận, các đảo
Phú Dự, Tiên Mới và đảo Dừa sẽ nằm
trong lănh hải của Campuchia và "Campuchia, nước
bảo hộ, sẽ được kiểm soát một
phần lănh thổ Nam Kỳ, xứ có chủ quyền
đầy đủ. Tất nhiên nhà cầm quyền Nam
Kỳ không muốn như vậy. Nhưng v́ cho rằng
giải pháp này sẽ gây ra những trở ngại đáng
kể, Khâm sứ Campuchia kết luận là nên giữ nguyên
trạng và đề nghị Thống đốc Nam Kỳ
đồng ư. Do đó, nhà cầm quyền Campuchia có thể
tiếp tục như trước đây thu thuế
của một số ngư dân Campuchia, sống trên các
đảo của Nam Kỳ gần bán đảo Réam và bờ
biển Campuchia. Bằng bức thư N°13124 ngày 8-12-1936,
Thống đốc Nam Kỳ cho biết là ông đồng ư
với quan điểm của Khâm sứ Campuchia về
việc nên duy tŕ nguyên trạng, với điều kiện
là chính quyền bảo hộ:
"1. Nhân danh nước Bảo
hộ, đồng ư là các đảo có liên quan,
được nêu tên cụ thể, là thuộc chủ
quyền Nam Kỳ;
2. Quyết định các khoản
thuế đang thu hiện nay không v́ lư do ǵ sẽ có thể
mở rộng sang các đảo khác;
3. Quyết định rằng
khoản bồi hoàn nguyên tắc 100$ mỗi năm sẽ
được tỉnh Kampot trả cho tỉnh Hà Tiên".
Sau đó, chính phủ Bảo hộ
Campuchia cho rằng phải đưa cuộc tranh chấp
lên người đứng đầu thuộc địa,
lợi dụng thời điểm bổ nhiệm Toàn
quyền Đông Dương mới là Brévié mà tên tuổi
gắn liền với lịch sử các quan hệ trên
biển giữa Campuchia và Việt Nam.
Như vậy là Khâm sứ Pháp ở
Campuchia đă đặt ra vấn đề chuyển giao
một số đảo từ trước đến
năm 1937 thuộc Nam Kỳ sang cho Campuchia. Theo sắc
lệnh của Tổng thống Pháp ngày 20-9-1915 th́
"mọi sự chuyển dịch lănh thổ giữa các
xứ trong Đông Dương thuộc Pháp được
thực hiện bằng một nghị định của
Toàn quyền Đông Dương, được Hội
đồng Chính phủ Đông Dương thông qua, sau khi có
ư kiến của Hội đồng Bảo hộ, Hội
đồng Thuộc địa. Các Nghị định
đó chỉ có hiệu lực khi được các Bộ
trưởng Thuộc địa chuẩn y". Chấp
hành quy định đó, Toàn quyền Đông Dương
Brévié đă gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia và
Thống đốc Nam Kỳ bản dự thảo nghị
định vạch một đường xuất phát
từ biên giới đất liền giữa Campuchia và Nam
Kỳ, chạy ra biển ṿng qua Bắc đảo Phú
Quốc cách các điểm nhô ra nhất của bờ
Bắc đảo Phú Quốc 3km, coi đó là
đường biên giới giữa hai bên. Các đảo
phía Bắc đường này được sát nhập
vào Campuchia, các đảo phía Nam đường này tiếp
tục thuộc Nam Kỳ.
Hội đồng bảo hộ
Campuchia đă đồng ư với dự thảo, nhưng
Hội đồng thuộc địa Nam. Kỳ trong phiên
họp ngày 26-1-1938 đă nhất trí không đồng ư
với dự thảo và đề nghị: xét về
cả ba mặt lịch sử, chính trị và dân tộc
“các đảo đó cần được tiếp tục
thuộc Nam Kỳ".
Trước t́nh h́nh đó, Toàn
quyền Đông Dương không ra Nghị định
về chuyển dịch lănh thổ giữa hai xứ mà dùng
một h́nh thức thấp hơn hẳn là gửi một
bức thư ngày 31-1-1939 cho Thống đốc Nam Kỳ
vạch một đường kinh tuyến Bắc một
góc 14°G, đường đó ṿng qua Bắc đảo Phú
Quốc cách các điểm nhô ra nhất của bờ phía
Bắc đảo Phú Quốc 3km (trong thư không nói rơ
đường đó chấm dứt ở đâu). Tất
cả các đảo ở phía Bắc con đường
này từ nay sẽ do Campuchia quản lư; tất cả các
đảo phía Nam con đường này, kể cả toàn
bộ đảo Phú Quốc sẽ tiếp tục do Nam
Kỳ quản lư (trong thư dùng hai từ khác nhau:
đối với Campuchia là “từ nay", c̣n đối
với Nam Kỳ là "tiếp tục"). Bức thư
nói rơ: "Đương nhiên là ở đây chỉ
đề ập đến vấn đề hành chính và cảnh
sát, c̣n vấn đề quy thuộc lănh thổ của các
đảo này hoàn toàn được bảo lưu. Bức
thư này được đồng gửi cho Khâm sứ
Pháp ở Campuchia. ông này cho đăng bức thư trong
Công báo Campuchia trong mục thông tư (nên về sau có
người lầm lẫn gọi là thông tư Brévié), khi
đăng đă có cắt câu của bức thư
khẳng định việc hoàn toàn bảo lưu vấn
đề quy thuộc lănh thổ. Thống đốc Nam
Kỳ đă không cho đăng bức thư Brévié trong Công
báo. V́ bức thư không được đăng trong Công
báo Đông Dương và Công báo Nam Kỳ, bản
được đăng ở Công báo Campuchia lại không
theo đúng nguyên bản nên cho đến nay cả ta và
Campuchia đều chưa t́m thấy sơ đồ
của đường Brévié đính kèm theo bức thư
của Toàn quyền Đông Dương. Cũng v́ vậy
hiện nay có nhiều cách thể hiện về
đường Brévié. Ví dụ:
Trong luận án tiến sỹ của
Sarin Chhak, Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia thời
Sihanouk, đường Brévié được thể
hiện không phải là một đường liên tục
mà là một đường đứt đoạn với
4 đoạn cách nhau khá xa [5].
Bộ Tư lệnh Hải quân Sài G̣n
[Việt Nam Cộng ḥa] khi công bố đường ranh
giới tuần tiễu trên biển đă thể hiện
đường Brévié chấm dứt ngay ở Đông
Bắc Phú Quốc.
Tiến sĩ Mark J. Valencia thuộc
trung tâm Đông - Tây của Hoa Kỳ trong một cuốn
sách xuất bản năm 1985 đă thể hiện
đường Brévié theo các đoạn thẳng, cách các
điểm nhô ra nhất của đảo Phú Quốc 3km.
Đây cũng là cách mà Nicholas Prescott, giáo sư người
Australia thể hiện trong một cuốn sách xuất
bản năm 1981.
Cách thứ tư là cách vẽ của
chính quyền Pol Pot khi công bố bản đồ
nước Campuchia tháng 8-1977. Đây là cách thể hiện
xa rời câu chữ của bức thư Brévié nhất:
trong thư viết đường Brévié ṿng qua Bắc
đảo Phú Quốc, cách điểm nhô ra nhất của
bờ Bắc đảo Phú Quốc 3km th́ sơ đồ
này đă thể hiện đường Brévié ṿng từ
phía Bắc đảo rồi trở lại về phía Đông
Nam đảo theo một đường liên tục,
điểm nào cũng cách bờ biển Phú Quốc 3km.
Như vậy, từ đầu
thế kỷ XVIII cho đến trước năm 1939,
về lịch sử và pháp lư toàn bộ các đảo
giữa Việt Nam và Campuchia thuộc chủ quyền
của Việt Nam. Chỉ từ năm 1939, Campuchia mới
chính thức quản lư về mặt hành chính và cảnh sát
các đảo ở phía Bắc đường Brévié. Tuy
vậy, chính quyền Nam Kỳ và sau đó là chính quyền
Sài G̣n không chấp nhận, vẫn coi các đảo Wai, Phú
Dự, Tiên Mối và nhóm Bắc Hải Tặc thuộc
chủ quyền của Việt Nam. Đến năm 1956,
Campuchia đưa quân ra chiếm đảo Phú Dự,
chiếm nhóm đảo Bắc Hải Tặc năm 1958 và
đảo Wai năm 1966.
Trong năm 1972, chính quyền Lon Nol ra
Sắc lệnh về ranh giới thềm lục
địa (số 439-72/PRK, ngày 1-7-1972) và Sắc lệnh quy
định hệ thống đường cơ sở và
lănh hải Campuchia (số 518-721PKR, ngày 12-8-1972) quy thuộc
các đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam vào
lănh thổ Campuchia.
Năm 1976, chính quyền Pol Pot đ̣i
lấy đường Brévié làm đường biên
giới biển giữa hai nước v́ theo họ
"đường này đă được sử
dụng như đường biên giới trong gần 40
năm qua". Cũng trong năm đó, Việt Nam đă
chính thức trao chủ quyền đảo Wai cho Campuchia.
Ngày 31-7-1982, Cộng hoà nhân dân Campuchia
đă ra tuyên bố hệ thống đường cơ
sở thẳng bao gồm cả các đảo nằm xa
bờ như đảo Wai.
Năm 1982, Việt Nam và Campuchia kư
Hiệp định về Vùng nước lịch sử
giữa hai nước, trong đó thoả thuận
"lấy đường Brévié được vạch ra
năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu
vực này" và "sẽ thương lượng vào
thời gian thích hợp… để hoạch định
đường biên giới biển giữa hai
nước". Đây là lần đầu tiên hai
nước thừa nhận chủ quyền của các bên
đối với các đảo giữa hai nước. Hiệp
định này đă nâng đường Brévié từ ranh
giới quản lư hành chính và cảnh sát thành
đường phân chia chủ quyền đảo giữa
hai nước nhưng cũng xác nhận giữa hai
nước chưa có đường biên giới biển.
Tài liệu tham khảo:
Raoul M. Jennar (2001), Các
đường biên giới của các nước Campuchia
cận đại, Tập 1, 2, Tài liệu tham khảo
Ban biên giới của Chính phủ, Hà Nội
Vụ biển, Ban biên giới của
Chính phủ, Lịch sử tranh chấp biên giới
biển Việt Nam -Campuchia, Hà Nội
Michel Blanchard, Việt Nam-Campuchia:
Một đường biên giới c̣n tranh căi [Vietnam-Cambodge.
Une frontière contestée, L’Harmattan, 1999], Tài liệu tham
khảo, Ban biên giới của Chính phủ, Hà Nội
Nguyễn Hồng Thao (1993), Việt
Nam - Campuchia vấn đề phân định biển,
Luận văn thạc sĩ khoa học, Paris
Khim Y, Nước Campuchia và vấn
đề mở rộng các vùng biển trong vịnh Thái Lan,
Luận văn tiến sỹ quốc gia về luật, Tài
liệu tham khảo Ban biên giới của Chính phủ, Hà
Nội
Tác giả là thạc sĩ tại
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
[1] Thuyết
này không rơ từ đâu. Thuyết sau đây đáng tin
hơn: Phú Quốc (富國) do người Hoa đến
đây lập nghiệp đặt, có nghĩa là "vùng
đất giàu có". (Tất cả các chú thích là của
talawas.)
[2] Long Kỳ?/Ream.
[3] Cần Bột?/Kampot.
[4] Hương Úc/Kompong
Som.
[5] Sarin Chhak. Les Frontières
du Cambodge. Tome I & II (Paris: Librairie Dalloz, 1966)
4/2008
Nguồn: http://www.vantuyen.net/