BÀ THỦ KHOA
NGHĨA
Lăng
Nhân
Khoảng 1820, ông
Nguyễn Văn Lư làm hộ trưởng ở tỉnh Biên
Ḥa, nhà cửa thênh thang làm ăn sung túc. Một hôm, một
thanh niên đến xin ở trọ để tiện theo
học trường thày đồ Hoành gần đó.
Thấy vẻ người tuấn tú, ăn nói lễ
độ, ông niềm nở mời ngồi. Hỏi lai
lịch th́ biết là Bùi Hữu Nghĩa, quê làng Long
Tuyền, tổng B́nh Thủy, Cần Thơ, cha làm
thuyền chài đă gắng cho theo đ̣i bút nghiên, ngặt
v́ quá nghèo nên định bỏ học th́ may có ông
người làng họ Ngô mến tính hiếu học giúp
tiền lương cho lên Biên Ḥa thụ giáo thày Hoành là nhà mô
phạm nức tiếng. Ông hộ trưởng vui vẻ
dành ngay một pḥng cho người thư sinh dễ.
thương, ngầm có ư chấm làm khách đông sàng v́ ái
nữ là cô Tốn tóc đă chấm ngang vai.
Từ
đấy, Bùi được yên chốn thong dong, cơm
dẻo canh ngọt, nên đèn sách chuyên cần, chẳng bao
lâu nổi tiếng văn hay chữ tốt. Năm 29 tuổi (1835, Minh
Mạng 16) thi hương trường Gia Định,
đỗ thủ khoa, nên thiên hạ thường gọi là
Thủ khoa Nghĩa. Đến khoa thi Hội, ông ra Huế
thi nhưng không đậu.
Song cũng được
bổ vào tập sự ở bộ Lễ, chờ ngày lănh
chức vụ chánh thức. Chỉ ít lâu sau, ông
được bồ nhiệm tri phủ phủ
Phước Long, Biên Ḥa.
Trên
đường phó quan, ghé chào thày Hoành xong ông vội vă lên
vơng để phu cáng về lối Phước Long, cáng
nhà nhấc lên để ra đi bỗng thấy cô Tốn
bước đến cản lại dịu dàng nói:
- Dám bẩm quan
lớn, ngài tài cao học rộng xin làm ơn coi dùm tấm
giấy này và giảng giải cho...
Ông thủ khoa
giật ḿnh vội vă xuống vơng tiếp mảnh giấy
nhỏ, thấy th́ đỏ bừng mặt, chắp
tay khẩn khoản:
-V́ phải tới
phủ cho kịp giờ ấn định nên chưa
đến được đằng nhà để tạ
ơn, xin thư cho ít bữa, chứ tôi đâu có quên...
Rồi ông lật
đật lên vơng và trong khi phu cáng lần bước lên
đường ông thủ khoa thở dài, nghĩ bụng:
quên sao được mà quên! Cái mảnh giấy này, trong khi
dùi mài đèn sách, ḿnh dă dúi cho cô nàng, tưởng chữ
viết dọc ngang thế chắc ǵ đă đọc
được. Ai dè cô đă lần ra mối:
- Đọc dọc từ trên xuống
dưới:
Đây lại
gửi thơ đặng em hay
- Từ dưới lên giữa rồi
quặt sang phải:
Hay em đặng
thơ bỏ Nghĩa này
Này Nghĩa bỏ
thơ chàng nhớ thiếp
- Từ trái đến giữa ngoặt
lên trên:
Thiếp nhớ
chàng thơ gửi lại đây
Và rồi: "Thơ
chẳng gửi lại, mà chính thiếp đă tới
trả lời khiến thiếp với chàng "nể ḷng
khôn lẽ
cầm ḷng"...
th́ giờ đây chàng nỡ phụ ḷng cho đang".
Quả nhiên khi
nhận việc xong, ông đón cha cùng đi tới nhà ông
hộ trưởng để cầu hôn. Lẽ tất
nhiên ông hộ trưởng hồ hởi như cởi
tấm ḷng và sau tiệc cưới linh đ́nh, vợ
chồng ông phủ “vơng ông đi trước vơng bà theo sau”
vinh hoa bơ lúc phong trần...
Ở Biên Ḥa
một thời gian, ông phủ Nghĩa được
thăng đi trấn nhậm phủ Trà Vang (Trà Vinh),
tỉnh Vĩnh Long, ṭng sự dưới quyền tồng
đốc Trương Văn Uyển và bố chánh
Truyện.
Tính cương
trực, ông không chịu luồn cúi và cũng không tư
vị một người nào. Bấy giờ em vợ
bố chánh Truyện hay có thái độ hỗn
xược, ông chẳng nể nang ǵ một hôm cho đánh 5
roi, lại đánh thêm 5 roi nữa gửi về phạt
phụ huynh v́ không biết dạy con em. Do đó bố chánh
đem ḷng thù, t́m dịp hăm hại. Trước kia,
Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi, lương
thực thiếu hụt, ở Trà Vang người Thổ
quyên giúp rất nhiều, thêm một số lớn t́nh
nguyện ṭng quân, nên khi tức vị vua nhớ ơn,
xuống chiếu miễn thuế thủy lợi rạch
Lang Thé cho dân Thổ. Thấy thủy lợi đó quan
trọng, một người Tàu lo lót với tổng
đốc Uyển và bố chánh Truyện giành lấy
độc quyền và đắp đập để khai
thác. Các hương mục Thổ kéo nhau đến
kiện ở dinh tri phủ Bùi Hữu Nghĩa; tri phủ
xử ràng:
“Việc tha
thuế thủy lợi là ơn riêng của vua Thế
Tổ ban cho dân Thổ, nay ai nhỏ hơn vua Thế
Tổ mà đứng bán rạch ấy th́ có chém đầu
nó cũng không sao!”
Dân Thổ
được lời xử ấy bèn phá đập
của người Tàu. Giữa hai bên xảy ra huyết
chiến, phía Trung Hoa chết mất tám người.
Nhiều dân
Thổ bị bắt khai ra lời xử của Bùi.
Tổng đốc và bố chánh Vĩnh Long bắt luôn ông
giải về Gia Định rồi đệ sớ lên
triều đ́nh, buộc vào tử tội: xúi giết
người và làm loạn.
Đứng
trước nỗi oan t́nh, bà thủ khoa Nghĩa quyết
lặn lội ra Huế minh oan cho chồng.
Bấy giờ,
Phan Thanh Giản đang làm thượng thư bộ
Lại. Bà thủ khoa t́m đến tư dinh Phan để
tŕnh bày sự lộng quyền của các quan tỉnh
Vĩnh Long, rồi đến Tam pháp ty khua ba hồi
trống “kích cổ đăng văn”. Tam pháp ty gồm có
nhân viên cao cấp của bộ H́nh, Đô sát viện và
Đại lư, dân gian gọi là “Ba toà quan lớn” tự
họp xử không định kỳ, chỉ có những
phiên nhóm bất thường để xét các vụ
đặc biệt, mỗi vụ họp theo tiếng
trống của người bị oan khuất tự
đến dóng lên.
Bà thủ khoa
vừa rung trống th́ một thày đội chạy
đến thâu tờ trạng đem vào tŕnh viên quan
chực. Ông này giao lại Tam pháp ty nghị án rồi chính
vua chung thẩm như sau:
“Tha tội tử
h́nh cho Bùi Hữu Nghĩa, song phải quân tiền hiệu
lực, lập công chuộc tội.”
Bà Từ Dũ,
mẹ vua Tự Đức, nghe tin này lấy làm cảm
thương cho người liệt phụ đồng
hương, bèn cho vời vào ban một tấm biển
trạm bốn chữ vàng: “Liệt phụ khả gia”.
Cứu
được chồng, bà thủ khoa từ giă kinh đô,
thẳng đường về Biên Ḥa ít lâu sau thọ
bệnh rồi mất tại làng Tân Hiệp, tổng Chánh
mỹ thượng.
Khi bà mất,
thủ khoa Nghĩa đang trấn nhậm ở Châu
Đốc Hay tin vội về nhưng tới nhà th́
việc tống táng đă xong, ông sụt sùi đọc bài
văn tế có những câu thống thiết như sau:
Nơi kinh
quốc mấy hồi trống dóng, biện bạch này oan
nọ ức; đấng hiền lương mắt
thấy thảy đau ḷng.
Chốn tỉnh
đường một tiếng hét vang, hẳn ḥi lẽ
chánh lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe
đều mất vía.
Công danh lỡ v́
mang bệnh quỉ, em chẳng phải như vợ Măi
Thần ngày trước, thời chưa thông làm thói dể
duôi
Khó hèn cam nào dám
trách trời, bậu chẳng phải như vợ Tô
Tần thuở xưa, vận chưa đạt đem ḷng
khinh bạc...
Ăn cần,
ở kiệm, giầu không khoe, khó cũng không đua.
Mua nghĩa, chác
nhân, trước chẳng phai, sau cũng chẳng lạt.
Ôi!
Sông Lệ vàng
ch́m.
Non Côn ngọc nát.
Cảnh giai lăo
trách ḷng trời đất, khó có nhau, giầu cũng có
nhau.
Quỉ vô
thường gây cuộc bể dâu, vật tráo chác,
người sao tráo chác.
Con sáu tuổi
thơ ngây một bóng, em sao đành nhắm mắt qui tiên.
Chồng trăm
bề lo lắng một ḿnh, bậu sao nỡ sấp
lưng cưỡi hạc.
Ai mượn lăo
Diêm phù rước khách, mẹ ĺa con v́ gă khiến ức
oan.
Ai mượn
ngươi quỉ bá đưa đàng, chồng xa vợ
ở ngươi nên bạc ác.
Chữ
đại đức tất đắc kỳ thọ,
đọc tới phát buồn.
Câu tích
phước tắc hữu dư khương, nghe càng thêm
chán.
Qua đề
bậu chẳng bằng tiên đũa, phận phấn
gương chẳng kịp nửa giờ.
Trời giết
người chi sá gươm đao, chứng nghèo ngặt
không đầy một lát.
Đêm khuya hăy
nưng niu một trẻ, nghĩ từ cơn ruột
tựa kim châm.
Ngày dài thêm
vắng vẻ không em, nhớ từ chặng, gan
dường muối xát.
Cuộc long
hổ lấp rồi ba thước đất, ôi thôi
rồi má phấn hồng nhan.
Bạn phụng
loan phân rẽ một phương trời, lo đáo
để duyên đơn phận bạc...
- Đôi liễn thờ vợ ông
viết như sau:
“Ngă bần,
khanh năng trợ; ngă oan khanh năng minh, triều dă giai
xưng khanh thị phụ.”
“Khanh bệnh,
ngă bất dược, khanh tử ngă bất táng, giang
sơn ưng tiếu ngă phi phu.”
(Ta nghèo, ḿnh hay giúp
đỡ; ta tội, ḿnh biết kêu oan, trong triều ngoài
quận đều khen ḿnh mới thật là đáng vợ;
Ḿnh bệnh, ta
không thuốc thang; ḿnh chết ta không mai táng; non sông cùng
cười ta chẳng xứng gọi là chồng.)
Vợ mất ba
năm, ông mới lại có dịp về thăm nhà, nhân làm
bài thơ:
Đă chẵn ba
năm mới đặng thăm,
Màn loan đâu
vắng bặt hơi tăm.
Gió nào đưa
thấy h́nh dương liễu,
Đêm quạnh ai
hoài tiếng sắt cầm.
Chồng nhớ
vợ, ḷng tơ bối rối,
Con thương
mẹ, lụy ngọc tuôn dầm.
Có linh chín suối
đừng sao lăng,
Thỉnh thoảng
về thăm lúc tối tăm.
Được ít
lâu ông chán nản việc đời, xin từ quan, trở
về quê quán tại B́nh Thủy, làm thuốc và dạy
học, vui thú điền viên, thường ngày uống rượu
ngâm thơ với bạn là cử nhân Phan Văn Trị.
Ngày 21 tháng giêng
Nhâm Thân (1872) ông từ trần, thọ 65 tuổi.