Nam Kỳ 1945-1946
Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên
chuyển ngữ và phụ chú từ :
Ngô Văn. Viet Nam 1920-1945, révolution et contre-révolution sous la domination
coloniale. - Paris : Nautilus Éditions, 2000. – 448p. (partie V : chapitre 21,
22)
Lời nói đầu:
Hai năm 1945 và 1946 là những năm hết sức đặc biệt trong lịch sử cận đại
của Việt Nam, vì những việc vô cùng quan trọng cho tương lai của đất nước đã xảy
ra trong hai năm ấy như là:
-
việc Nhựt Bổn đảo chánh Pháp ở Đông Dương (9-3- 45),
-
việc thành lập Nội Các Trần trọng Kim (17 - 4- 45),
-
việc Nhựt Bổn thua Đệ Nhị Thế Chiến (tháng 8- 45),
-
việc xuất hiện và cướp chánh quyền của Việt Minh ngoài Bắc, đưa đến việc vua Bảo
Đại thoái vị và trao ấn với kiếm của nhà vua cho Trần huy Liệu (25-8- 45),
-
việc Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập VN Dân Chủ CộngHòa (2-9-45),
-
việc quân của Tướng Lư Hán vào Hànội và Bắc Việt (9-18-tháng 9-45) để giải giáp
quân Nhựt,
-
việc Đảng C.S.V.N. tự ý giải tán ( 11-11- 45) để thành lập Chánh Phủ Liên Hiệp
(24-12- 45), rồi bầu cử Quốc Hội (6-1- 46),
-
việc thỏa thuận giữa Hồ Chí Minh và Sainteny rồi quân Pháp đổ bộ lên Hải
Phòng(6-3-46),
-
việc Cố- Vấn Vĩnh Thụy được cử sang Trùng Khánh để gặp Tưởng Giới Thạch
(16-3-46) rồi ở luôn bên Tàu,
-
việc Tướng Pháp Leclerc vào Hà Nội không một tiếng súng (18-3- 46),
-
việc Hội Nghị ĐàLạt không có kết quả (16 tháng 4 tới 11 tháng 5- 46), rồi Hồ Chí
Minh sang Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau(6 tháng 7 tới 10 tháng 9-46) ký
modus vivendi (đêm 14-15-th.9- 46) và về Việt Nam trên tàu Dumont d’Urville
(18-9- 46),
-
việc Hải Phòng nổi dậy đánh Pháp (20-11- 46) và việc Toàn Dân Kháng Chiến chống
Pháp giành độc lập bắt đầu từ đêm 19-12-1946.
Tất cả những việc nói trên đã được nhiều sách Việt-ngữ, Pháp-ngữ hay Anh-ngữ
viết về Việt Nam kể lại khá đầy đủ. Nhưng trong cùng thời gian trên, còn có
nhiều việc đã xảy ra ở trong Nam mà, theo chỗ tôi được biết, ít có sách nói tới
một cách rõ ràng và đầy đủ như sách “Viêt Nam 1920-1945, Révolution et
contre- révolution sous la domination coloniale” của Ông Ngô Văn,
mà tôi sẽ lược dịch phần V, gồm hai chương 21 và 22 là những chương kể lại những
việc đã xảy ra ở trong Nam vào những năm 1945-46. Chúng tôi cũng nhân dịp có
thêm vài phụ chú để soi sáng thêm vấn đề..
Partie V: Révolution et Contre-Révolution d’Août 1945
(Cách Mạng và Phản Cách Mạng tháng 8-1945)
Gồm có hai chương XXI và XXII.
Chương XXI- Le Viet Minh au pouvoir (Việt Minh nắm chánh quyền.)
(tr.323-346).
Hồi tháng 8-1945, 230.000 dân Nhựt bị tiêu diệt vì bom nguyên tử ở Hiroshima
ngày 6, và ở Nagasaki ngày 9 tháng 8-1945. Ngày 16-tháng 8, hãng thông tấn Domei
công bố ở Hà Nội sắc-thư của Hoàng-đế Hirohito ra lịnh cho quân Nhựt ngưng bắn.
Từ
tháng 7-1945, trong Hội nghị Postdam, “tam cường” Truman, Churchill và Staline,
đã quyết định Đông Dương sẽ bị quân của Tưởng Giới Thạch chiếm phía Bắc từ
vĩ-tuyến 16, và quân của Mountbatten phía Nam của vĩ-tuyến, để nhận sự đầu hàng
của Nhựt-Bổn, và “tái lập trật tự và luật pháp”. De Gaulle không có tiếng nói.
Quân Trung Quốc vào Bắc-kỳ ngày 28 tháng 8, và cho tới ngày 9 tháng 9 mới tới
HàNội; quân Anh-Ấn của Tướng Gracey đến ngày 12 tháng 9 mới tới SàiGòn. Trong
thời gian đó, quân Nhựt phải giử trật tự.
1 -
Le
Sud “en révolution” avant l’arrivée des forces anglo-indiennes.
(Miền Nam “làm cách mạng” trước khi quân Anh-Ấn tới.)
(tr.327-328)
Kể
từ ngày 16 tháng 81945, Nhựt Bổn thất trận bắt đầu trả quyền cai trị trực tiếp
lại cho VN. Ông Minoda cử Ô.Trần văn Ân, trong đảng Phục Quốc, làm Chủ
tịch Hội Đồng Nam Kỳ, và Ô.Kha Vạng Cân làm thủ lảnh Thanh Niên Tiền Phong
thay thế ông Ida. Một cuộc “hội hợp tuyên thệ” được dự trù vào ngày Chúa Nhựt
19 tháng 8 trong công viên của thành phố. Và cũng ngày 19 tháng 8 ấy, đúng theo
thỏa hiệp giửa Tướng Nhựt Bổn Tsuchihashi và Thủ Tướng Trần trọng Kim, Ông
Minoda trao quyền (là quyền Thống Đốc NamKỳ Gouverneur de la Cochinchine) lại
cho Giáo Sư Hồ Văn Ngà.
Ông Hồ Văn Ngà, một người quốc gia nhiệt quyết, một trong những sinh viên hồi
năm 1930 đã bị tống cổ ra khỏi Pháp vì đã biểu tình chống việc xử “56 án tử
hình trong vụ Yên Báy”, là sáng lập viên với B.S. Phạm Ngọc Thạch của “Đảng
Quốc Gia Độc Lập” (PNI=Parti Nationaliste pour l’Indépendance), và
mới thành lập hồi 14-tháng 8 này “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt” (
FNU=Front National Uni) gồm có PNI và 6 phần khác là Thanh Niên Tiền
Phong (TNTP=JAG=Jeunesse d’Avant Garde ) Liên Đoàn Công Chức
(Fédération des Fonctionnaires), Phục Quốc (của Cao Đài), Hòa Hảo,
Nhóm Trí Thức và Tịnh độ Cư Sĩ (Phật Giáo).
Ngày 1 tháng 8, Ô. Trần văn Ân cho ra một tờ nhựt báo mới tên là Hùng VIệt
. Tờ báo này sẽ đăng tải những thông cáo của Mặt Trận và của các thành phần
trong Mặt Trận. Như ngày 16 tháng 8 đăng thông cáo của Liên Đòan Công Chức,
ngày 17 tháng 8, đăng tuyên cáo của Mặt Trận, với chử ký của cả bảy thành phần.
Nhóm La Lutte không có trong đó. Ngày 18 đăng thông cáo của Liên Đoàn Nhơn Viên
Bưu Điện, ngày 20 Tháng 8 đăng lời kêu gọi của Liên Đoàn Công Chức, tất cả “kêu
gọi mọi thành viên hảy động viên chống việc Pháp trở lại, hãy tham gia TNTP,
tuân lời cấp chỉ huy, để cùng nhau đối phó hữu hiệu hơn với tình hình”.
Việt Minh, nhờ có sự tham gia của những lực lượng hùng mạnh và có kỹ luật của
TNTP (des forces puissamment encadrées et obéissantes de la JAG) sẽ nắm được
chánh quyền (hồi tháng 8, theo B.S.Phạm Ngọc Thạch, TNTP có 200.000 hội viên
trong vùng Saigon-ChợLớn, trong đó đã có 120.000 trong các xí-nghiệp).
(Lời
bàn thêm của NLV: Về sau thiên hạ mới biết rằng B.S. Phạm Ngọc Thạch đã là đảng
viên của Đảng Cộng Sản Pháp (PCF) từ hồi còn là sinh viên du-học ở Paris. Sau
khi Ông qua đời, thì một trong những con đường đẹp nhứt của Saigon dưới thời VN
Cộng Hòa là đường Duy Tân, được chánh quyền C.S.V.N. đổi tên là “Đường Phạm Ngọc
Thạch”.(tức là để tưởng thưởng người quá cố đã có công lớn với Đảng). Vã lại nên
lưu ý rằng cờ của TNTP là “Cờ Vàng Sao Đỏ” dể đổi thành “Cờ Đỏ Sao Vàng” của
Việt Minh, nghe thuận chiều và êm tai.)
Ngày 20 tháng 8, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt (FNU) kêu gọi tổ chức vào ngày 21
một cuộc “biểu dương lực lượng” chống việc thực dân Pháp có thể trở lại.
Vã
lại trong những ngày đầu của quyền lực mới có trong tay, đại diện cho Khâm Sai
là Ông Hồ Văn Ngà (Khâm Sai chính thức là Ông Nguyễn Văn Sâm còn ở ngoài Huế)
đã cử Ông Kha Vạng Cân, một cán bộ của TNTP, làm Thị Trưởng SaiGon-ChợLớn,
đã hủy bỏ thuế thân, cho thả những tù nhơn trong Khám Lớn SàiGòn (53 người sẽ
tham gia cuộc tuần hành ngày 21 th.8) và cho thả những tù nhơn bị giam ở Côn
Sơn, nhờ Hải Quân Nhựt chở về đất liền (họ sẽ về tới SaiGon ngày 25 th.8).
2 -
Le
21 Août, manifestation du Front National Uni à Saigon.
(Ngày
21 th.8, cuộc biểu tình của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt ở SaiGon.)
(tr. 328-331).
Kể
từ năm 1926 đây là lần đầu tiên có một biển người, từ sáng sớm đã đứng chật Đại
lộ Norodom (sau này là Đại Lộ Thống Nhứt) từ Sở Thú cho tới dinh Quan
Tòan Quyền (sau nầy là Dinh Độc Lập), rồi tuần hành có trật tự theo các
đường lớn cho tới Cầu Ông Lảnh. Những thành viên của PNI (Mặt Trận Quốc Gia
Thống Nhứt), của Thanh Niên Tiền Phong (JAG), và của Cao Đài đi dưới cờ mới của
nhà vua ở Huế (là cờ Quẻ Ly: nền vàng ở giửa có Quẻ Ly đỏ -- -- ) Hòa Hảo
dưới cờ màu nâu của họ; tất cả biểu ngữ đều nói “Việt Nam Độc Lập”, “Đả Đảo Đế
Quốc Pháp”. Nhóm trốtkít đi dưới cờ Đệ Tứ Quốc Tế (là Ánh Sáng Cách Mạng làm
Sáng Rực Hòan Cầu) biểu tình với Mặt Trận PNI chớ không nằm trong Mặt Trận như
bọn xít-ta-lin vu khống.
Ngay chiều hôm 21 ấy, Việt Minh nhào vô sân khấu chánh trị của Nam Kỳ.
Một số xe hơi có máy khuếch-âm chạy quanh các đường phố SàiGòn hét lên “ Ũng
Hộ Việt Minh”. Thế là một tổ chức không ai biết, tự nhiên xuất hiện
và, trong một truyền đơn, tự giới thiệu như là tổ chức có khả năng hơn mọi tổ
chức khác, đem sự giải phóng lại cho nước ViệtNam.
Truyền đơn nói:”Việt Minh có liên hệ mật thiết với Đồng Minh để đánh Pháp
và Nhựt Bổn. Chúng tôi là bạn của Nga, Trung Quốc với chúng tôi như răng với
môi, Hoa-Kỳ mơ ước buôn bán chớ không mơ ước chiếm đất; bên Anh Attlee đã nắm
chánh quyền và khuynh tả, nên sẽ dể mà điều đình.
Và
trong viển ảnh chủ quan đó, mà kỳ thực là một sự khóac lác, Việt Minh kêu gọi
biểu tình vào ngày 28.
Ngày 22 tân Thị Trưởng SaiGon-ChợLớn Khá Văn Cân cho đập phá các tượng đồng
tượng trưng cho sự đô hộ của Pháp là tượng của Đức giám Mục Adran Pigneau de
Béhaine trước Nhà Thờ Đức Bà, tượng của Francis Garnier trước Nhà Hát Lớn, và
tượng của Rigault de Genouilly nhìn sông Saigon.
Cũng vào ngày 22 ấy, Mặt Trận FNU hợp các đại diện của 7 thành phần của Mặt
Trận; nhưng B.S.Phạm Ngọc Thạch, thủ lãnh của TNTP không đến, và vài giờ sau thì
biểu ngữ và truyền đơn được rải khấp nơi, nói rõ là kể từ chiều ngày 22 th.8 ,
TNTP không còn ở trong Mặt Trận Quốc Gia FNU nữa mà theo Mặt Trận Việt Minh.
(Lời
bàn: Rõ ràng là Cộng Sản đã cài “đồng chí” Phạm Ngọc Thạch vào làm thủ lãnh của
TNTP để ngay lúc này làm sụp đổ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt).
Như vây, Mặt Trận Quốc Gia FNU không còn lực lượng đông đảo và kỹ luật nhứt của
nhơn dân nữa, đành phải theo chiều, nên ngày 23, Chủ tịch của Mặt Trận, Ông Hồ
Văn Ngà, đại diện của Vua, bắt đầu thảo luận với Viêt Minh
ồ Văn NgáHồ tại trụ sở của Trung Ương
TNTP ở nhà số 14 Đại lộ Charner(về sau dưới thời VNCH là Đại lộ Nguyễn Huệ)
nói rằng Ông sẵn sàng rút lui nếu có người có khả năng hơn Ông chịu lảnh
trách nhiệm.
Báo Hùng Việt ngày hôm sau 24 có đăng thông cáo như sau: «Sau những
cuộc thảo luận giữa Măt Trận Quốc Gia ( FNU) và các đại diện của Mặt Trận Việt
Minh, thì có sự thỏa hiệp để cộng tác nhắm ba mục tiêu là : Độc lập hòan tòan
cho ViệtNam ; thành lập một Cộng Hòa Dân Chủ ; và trao quyền cho Việt Minh»
Toàn thể Mặt Trận Quốc Gia (FNU) gia nhập vào Việt Minh và sẽ tham gia cuộc biểu
tình ngày 25.
Vì
Việt Minh được tăng cường nên quyết định biểu tình sớm hơn 3 ngày.
Vã
lại quyết định của Ông Hồ văn Ngà phù hợp với Công Điện số 1855GT của vua Bảo
Đại gởi cho các Khâm Sai Bắc Phần và Nam Phần bảo các vị này hảy liên lạc với
các nhà có trách nhiệm của Việt Minh mà nhà vua đã mời lập một chánh phủ
mới.
Trong nội bộ Đảng C.S. thì từ ngày 17 đã có thảo luận về việc cướp lấy chánh
quyền.
Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyên, Bùi Công Trừng thì lưỡng lự vì sợ sẽ có một
cuộc đổ máu như hồi 1940, B.S.Phạm Ngọc Thạch và Ngô Tấn Nhơn (trong đảng
Phục Quốc đi với Việt Minh) được cử đi dò ý của Bộ Tham Mưu Nhựt Bổn.
Thống Chế Terauchi Tổng Tư Lịnh Quân Nhựt ở Đông Nam Á Châu, hứa sẽ không can
thiệp.
Nhưng để “chắc ăn”, Việt Minh dò đường ở Tân An, bằng cách trong đêm 22
qua ngày 23 th.8, sau khi đã hỏi ý của đội Nhựt ở địa phương, chiếm lấy Tòa Bố
của Ông Chủ Tỉnh VN đã được Nhựt đặt lên đó sau khi Nhựt đảo chánh ngày 9
tháng3. Không có đổ máu chút nào.
Được yên trí về phía Nhựt Bổn chắc chắn sẽ không can thiệp, Việt Minh
quyết định tự thiết lập thành một chánh quyền thực sự trong Nam Bộ (s’ériger en
pouvoir de fait au Nam Bo).
Trong đêm 24, những đoàn tự-vệ của TNTP và của Liên Đoàn Công Chức, võ trang sơ
sài, tái diển kinh nghiệm ở Tân An. Nhơn danh Việt Minh, những đoàn tự-vệ
này chiếm lấy những công sở đã được người VN điều khiển kể từ ngày 9 tháng 3 như
dinh Quan Thống Đốc Nam Kỳ (palais du Gouverneur de Cochinchine), Kho Bạc, Nhà
Giây Thép (Bưu Điện), các sở Cảnh sát, sở Mật Thám (Sureté), sở Chữa Lửa, Nhà
Máy Điện Chợ Quán, Nhà Máy Nước, v.v. Những đoàn tự-vệ không hề “xung phong
chiếm lấy” dinh Quan Tòan Quyền, Nhà Băng Đông Dương (la Banque de l’Indochine),
sở Hỏa-Công (la Pyrotechnie), Hải-cảng (le Port),và Phi-trường (Aeroport),
Binh-Công-Xưởng (Arsenal), là những nơi mà Nhựt Bổn đang chiếm đống.
3 -
Le
25 Août, pouvoir autoproclamé du Viet Minh.
(Ngày
25 tháng 8, Việt Minh tự xưng là chánh quyền)
(tr.332-335).
Đêm 24, khi người nhà quê ở chung quanh vùng Saigon-Chợlớn tấp nập vào Saigon để
tham gia cuộc biểu tình ngày 25 thì một cuộc dàn-cảnh to lớn, công trình của
kiến-trúc-sư Huỳnh Tấn Phát (cháu của Huỳnh Văn Phương (là một nhà
cách mạng trốtkít đồng-chí của Tạ Thu Thâu trong nhóm La Lutte ) đã tiến
hành khá xa: một cột trụ tứ-giác bao bọc bằng vải mắt rây đỏ, được dựng to lớn
lên trước Nhà Hát Lớn Saigon, ở góc đường được chiếu sáng của hai đại-lộ Charner
và Bonard (là hai đại-lộ Nguyễn Huệ và Trần Hưng Đạo dưới thời VNCH).
Trên đó có ghi bằng chữ lớn tên của những vị trong chánh quyền thật sự
(gouvernement de fait) là Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ.
như sau:
Chủ tịch và Quân-sự Vụ: Trần Văn Giàu
Ngoại Giao: Phạm Ngọc Thạch
Nội Vụ : Nguyễn Văn Tạo
Lao Động: Hoàng Đôn Văn
Tranh Tra Chánh Trị Miền Tây: Nguyễn Văn Tây
Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (tức là An-Ninh quốc Gia): Dương Bạch Mai
Kinh Tế: Ngô Tấn Nhơn
Tuyên Truyền và Thah Niên: Huỳnh văn Tiểng
Tài Chánh: Nguyễn Phi Oanh.
Sáu chức-vụ chánh nằm trong tay của bọn Xít-ta-linít, những người quốc gia trong
Mặt Trận FNU (vừa mới nhường chổ cho Việt Minh ) bị gạt ra ngoài.
Như vậy thì trong có một tuần lễ, từ 18 đến 25 tháng 8, Hồ Chí Minh và bè lũ đã
làm chủ được cả Ba Kỳ; sự đầu hàng của Nhựt Bổn đã làm cho họ thăng tiến mau, vì
làm cho phe quốc gia bối rối bởi quá tin tưởng vào quân Nhựt. Nhưng tư-bản và
địa-chủ vẫn yên tâm vì tư sản chưa bị đụng tới, còn thợ thuyền và nông dân thì
chưa được biết là họ sẽ bị đập nát bởi chánh quyền mới này.
Đến đây phải nói tới Trần Văn Giàu, Chủ Tịch của cái tự xưng là Chánh Phủ Miền
Nam là ai. Ông sanh năm 1911 tại Tân An, cựu học sinh của Tạ Thu Thâu, học ở
Lycée de Toulouse bên Pháp năm 1928-1929, rồi lên Đại-học ở đó. Gia nhập Đảng
C.S. Pháp PCF. Bị đuổi ra khỏi Pháp sau vụ Yên Báy, người ta lại thấy Ông ở
Moscou trong Trường Stalin; tốt nghiệp trường ấy năm 1932 với một luận án bằng
tiếng Pháp tựa là “La question agraire et paysanne en Indochine” (Vấn-đề
ruộng đất và dân quê ở Đông Dương). Có một thời gian tập sự trong Hồng Quân
(Armée Rouge của Nga-Sô) (theo lời của ông thuật lại với tác giả hồi năm 1936
khi hai người cùng bị tù trong Khám Lớn Saigon). Rồi trở về quê với nhiệm vụ tái
lập Đảng C.S.Đông Dương PCI.
Ngày 19-4-1935, sau hội nghị ở Macao, Ông bị bắt ở Saigon và những lời khai của
ông với Ông Tòa Trần Văn Tỵ trong Biện- Lý- Cuộc đã giúp Sở Mật Thám Pháp bắt
167 cán bộ và cảm tình viên, trong đó 113 người sẽ được thả. Ngày 25 tháng 6 ông
bị kết án 5 năm tù và ngày 25-7-1935 ông được đưa ra Côn-đảo.
Hồ
Hữu Tường thuật lại trong tập san Hoa Đồng Quê rằng khi các bạn trong tù
trách ông đã nói quá nhiều với Sở Mật Thám, thì ông tự bào chửa như sau:
“Nếu Sở Mật Thám tra tấn tôi cho tới chết thì Đảng sẽ mất một nhà lãnh đạo;
những lời khai của tôi đã giúp tôi khỏi bị tra tấn; vài năm tù phân phát cho các
bạn khác là cái giá phải trả cho mạng sống của tôi.”
Được đưa về Saigon dưới thời Mặt Trận Bình Dân (Front Populaire) năm 1936, ông ở
trong Khám Lớn Saigon cho tới mản hạn tù, được thả ra hồi tháng 4- 1940, từ chối
không trở vào Đảng C.S. Nam Bộ đang chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa. Bị bắt giam
trở lại trong trại Tà-Lai (Biên Hòa) ở giữa rừng bên tã ngạn sông ĐồngNai, cách
Saigon 120 km, ông nói là đã trốn ra được hồi năm 1941. Người ta thấy ông xuất
hiện trở lại năm 1944 khi Ông chánh Sở Mật Thám Duchêne, người đứng đầu hệ thống
tình- báo “SR Norodom” của phe De Gaulle, bắt liên lạc với ông.
Theo lời chứng của ông này thì “ Trần văn Giàu chấp nhận đem phổ biến báo
và sách nói tại sao dân Đông Dương từ rài phải tin nơi Pháp dân chủ, và ông cũng
nhận thành lập nhũng nhóm đồng đảng để làm những công tác đặc biệt giúp cho
kháng chiến (của De Gaulle), như lấy tin tức, tiếp tế, phá hoại, giúp quân nhảy
dù, vô- hiệu- hóa quân Nhựt Bổn.
Giàu không bao giờ công khai cho biết những mối liên lạc mật của ông với Duchêne
và nhiệm vụ ông được giao phó. Ông Duchêne khi được Ô. Bernard Tasteyre phỏng
vấn để chuẩn bị viết một luận án năm 1977-78 về La Révolution d’Août en
Cochinchine nói ông đã trao cho Giàu vài khẩu súng sáu (revolvers) và một
máy phức- bản (duplicateur). Chi tiết này không có viết trong luận án nhưng được
nói với B.S.Hồ Tá Khanh khi Ô.Tasteyre gặp B.S.Khanh cũng về luận án ấy.
Năm 1945, Giàu lúc ấy là Xứ- ủy của Đảng C.S.Đông Dương PCI, thuyết phục được
B.S.Phạm Ngọc Thạch thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong (TNTP=JAG) nhập vào Việt
Minh và kể từ đó B.S.Thạch trở thành phụ-tá của Giàu trên con đường công
danh.
(NLV:
Giàu không cần phải “thuyết phục” đồng chí Phạm Ngọc Thạch mà chỉ ra lịnh rồi
bàn với nhau về phương thức hành động).
4
- La manifestation plébiciste du Viet Minh le 25 Août 1945.
(Cuộc biểu tình tòan dân biểu quyết của Việt Minh ngày 25 th.8-1945.)
(tr.335-338).
Khi tổ chức cuộc biểu tình ngày 25 th.8, mục đích của phe C.S. Đệ Tam là muốn
chứng minh sự chính thống (légitimité) của chánh quyền Việt Minh, một
chánh quyền tự xưng của họ (pouvoir autoproclamé) . Họ cũng biết rằng những cuộc
huy động rầm rộ to lớn luôn luôn kích thích và thúc đẩy quần chúng.
Giàu sẽ tập trung lời cổ võ của y vào nguyện vọng chung và giản dị của thời ấy
là quyền độc lập của quốc gia.
Từ
sáng sớm, dân của các khu nhà lá chung quanh Saigon, dân của những vùng lân cận
GiaĐịnh, GòVấp, Thị Nghè, KhánhHội, kéo về trung tâm Saigon đã đầy nghẹt dân có
tiếng “cứng đầu” của các vùng Bà Điểm, Hóc Môn, Đức Hòa và Chợ Đệm đã được bọn
cán bộ Đệ Tam huy động đến từ đêm trước. Họ kéo nhau đến Đại-lộ Norodom (Đại-lộ
Thống Nhứt dưới thời VNCH) mà ở phía sau Nhà Thờ Đức Bà đã có dựng lên một
cái bệ lớn. Một cảnh chưa bao giờ được trông thấy là một biển người dưới một
biển cờ đỏ sao vàng của Việt Minh . Không có một cảnh sát nào để can
thiệp nên mọi lo sợ đều biến mất. Nếu mỗi người đến biểu tình với một ước mơ
khác nhau, tất cả mọi người đều muốn sự chấm dứt của chế độ thuộc địa và mọi
người đều sẵn sàng nhảy vào một cuộc chiến mà kết quả chưa biết sẽ ra sao.
Từ
trên bệ diễn đàn, Trần văn Giàu, đeo súng lục bên hong, trút xuống dân chúng một
bài hùng biện có tánh cách quốc gia (nationaliste) gần như là tiếng vang của bản
Tuyên Ngôn của Mặt Trận Quốc Gia FNU, là: toàn dân đòan kết vì quốc
gia, để cải thiện đời sống, để giành độc lập và thực hiện dân chủ, trong một chế
độ Cộng Hòa (trong khi mà trong bản Tuyên Ngôn của FNU thì Hồ văn
Ngà nói thực hiện dân chủ trong một chế độ Quân Chủ Đế Quốc). Rồi Giàu thêm:
“Hôm nay toàn dân đã biểu quyết chúng tôi; thì toàn dân phải giúp chúng tôi tiêu
diệt bọn gây rối khiêu khích”. Giàu ám chỉ ai, ngoài bọn trốtkít mà chương
trình xã hội là cách mạng?
Giàu và đồng- lỏa của y là Dương Bạch Mai đã mộ cảnh sát và lính hộ- vệ bọn
cướp Bình Xuyên, là tên của một làng nhõ bé trong tỉnh ChợLớn nơi cư trú của bọn
vượt ngục, mà đầu đảng là Lê văn Viễn, tự là Bảy Viễn, đã cho họ một số vũ khí
cướp của Nhựt Bổn.[ Về sau Bảy Viễn sẽ chống lại Việt Minh và cùng với
Quân Đội Viễn Chinh Pháp truy nã bọn Cộng sản; năm 1952 Bảy Viễn sẽ được Bảo
Đại cho cấp bực Tướng và Pháp cho huy chương Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh
(Chevalier de la Légion d’Honneur) ].
Buổi trưa, đến giờ Ngọ, thì B.S.Phạm ngọc Thạch từ bao- lơn Nhà Hát Lớn, đọc lên
những tên của thành phần Chánh Phủ “trên thực tế” (gouvernement “de facto”) đã
được niêm yết từ hôm trước. Vỗ tay như sấm.
Liên Minh (tức là nhóm trốtkít) với những khẩu hiệu mạnh “ Đất cho người cày”,
“Xưởng cho người thợ” được quần chúng hoan nghinh triệt để, và trong lúc mà bọn
Đệ Tam đòi “ Tòan quyền cho Việt Minh”, thì nhóm Đệ Tứ phản lại đòi “
Tòan quyền cho các Ủy Ban Nhơn Dân” và hát bài L’Internationale chói tai
với bài Lên Đàng của Thanh Niên Tiền Phong (JAG) đã làm cho thanh niên
say mê cái “anh hùng muôn thuở của dân Việt”
[NLV.:Tôi
không được biết bài “Lên Đàng” nhưng tôi chắc chắn 100%, vì đã tham gia trực
tiếp và đã dạy cho thanh niên hát, là bài hát chính thức của TNTP là bài “Tiếng
Gọi Thanh Niên” (Này thanh niên ơi , Đứng lên đáp lời sông núi….)
lấy từ bài “Tiếng Gọi Sinh viên” của sinh viên Y-khoa Lưu Hữu Phước
trong đó mọi chữ “sinh viên” được thay thế bằng chữ “thanh niên” Rồi về sau sẽ
thành bài “Tiếng Gọi Công Dân” (Này công dân ơi, quốc gia đến ngày
giải phóng….) là bài Quốc Ca của Quốc Gia VN (với Quốc Trưởng Bảo
Đại), của Đệ Nhứt Cộng Hòa (với Tổng Thống Ngô Đình Diệm) và của Đệ
Nhị Cộng Hòa (với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu)].
Nhóm La Lutte thì dè dặt hơn. Chúng tôi (là tác giả) không tìm lại được
những số báo Tranh Đấu tháng 8,9-1945, nhưng chúng tôi có thể tóm tắt
lập trường của nhóm La Lutte là nhóm ấy không muốn đứng ngoài một mặt
trận chống đế quốc, nên cố gắng cho đảng C.S. Đông Dương PCI chấp nhận mình
trong một hành động quân- sự chung, nhưng vẫn giữ sự độc lập chánh trị của mình
hướng về một cuộc “cách mạng liên tục”. Vì trong những năm dài của cuộc chiến
tranh (Đệ Nhị Thế Chiến) không có một cuộc cách mạng vô sản nào xẫy ra trên thế
giới, nên nhóm La Lutte phải giới hạn khẩu hiệu tranh đấu hiện giờ của mình
trong việc giành độc lập và việc cải cách ruộng đất; nhóm La Lutte tránh né Liên
Minh (trốtkít) và tuyên bố không có liên hệ với nó, thành lập một đòan quân tự
vệ thợ thuyền nhưng từ khước sự giúp đở của Cao-đài trong cuộc chiến đấu
võ trang chung (Cao Đài cho 900 cây súng, 4 đại bác 5mm của Nhựt Bổn để lại),
và của Hòa Hảo, mới tổ chức thành đảng Dân Xã .
Gần như một cách ngẫu nhiên, nhiều Ủy-Ban nhơn dân xuất hiện ở trong vùng
Saigon-Chợlớn. Từ ngày 17, thợ thuyền ở khu Phú Nhuận đã bầu Ủy ban của họ tự
xưng là “chánh quyền duy nhứt của khu”.
Ngày hôm sau khu Bàn Cờ theo gương. Như vậy những phôi thai chánh quyền đia
phương mọc lên cùng hết, chưa rõ theo đường hướng nào, nhưng động lực hăng hái
của dân không thể chống cự được. Liên Minh (trốtkít) cố gắng phối hợp các ủy ban
nên mở trong khu Tân Định một trụ sở ở số 9 đường Duclos, để cho các ủy-viên hợp
lại và thử ra một thông cáo chung. Thông cáo ngày 26 tháng 8 xác nhận muốn giữ
sự độc lập của họ đối với các đảng phái chánh trị, việc cần thiết lập một mặt
trận chung chống tư-bản không thể làm trở ngại quyền tự do hành động của quần
chúng, cho nên phải kết án mọi vi phạm vào sự tự do hành động của thợ thuyền và
dân quê, là động- cơ của mọi cải cách xã hội.
5
- Les paysans de l’ Ouest et le pouvoir Viet Minh.
(Dân quê Miền Tây và chánh quyền Việt Minh)
(tr.338-339).
Ở
dưới tỉnh, những người quốc gia đã được Nhựt Bổn giao cho một chút quyền sau
ngày 9 tháng 3 cũng làm như ở Saigon. Nhơn danh Độc Lập phải giành lại, họ
nhường quyền cho Việt Minh tự hô hào là đứng về phe Nga-Tàu-Anh-Mỹ, là
phía thuận lợi để đem dộc lập lại cho đất nước. Họ giao hồ- sơ và văn- khố, ấn
triện và kho bạc cho các ủy ban Việt Minh xuất phát từ Thanh Niên Tiền
Phong (TNTP=JAG); họ ra lịnh cho lính và cảnh sát giao võ khí lại cho chánh
quyền mới.
Từ
ngày 25 đến ngày 28 th.12, Dương Bạch Mai tổ chức lại bộ máy đàn áp theo mẩu Mật
Vụ Guepeou của Nga-Sô, dưới tên là Quốc Gia Tự Vệ Cuộc .
Để
được dân quê hoan nghinh, các ủy ban Việt Minh đem xử bắn một số
nhân-vật địa phương ác ôn, những cảnh sát tra tấn người, những kẽ chiếm đoạt và
buộc các địa chủ phải giảm địa- tô, nhưng vẫn giữ chế độ quyền sở-hửu. Trong các
tỉnh MỹTho, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, hay Châu Đốc, dân quê không ruộng, nhớ
lại khẩu hiệu của đảng C.S.Đông Dương hồi năm 1930-1931, tưởng là ngày chấm dứt
phận nông-nô của mình đả đến nên không cần chờ chánh quyền Việt Minh đã
tự động tấn công vào những chủ điền quá lạm-dụng và tài sản của chúng. Lịch sử
chính thức kể lại rằng: Ở Tràvinh, dân quê đã bắt đầu phân
phát ruông đất, trâu bò, và nông-cụ. Nhưng để mua lòng chủ điền, Việt Minh đã
chận việc đó lại và buộc dân quê phải trả lại cho sở-hửu-chủ những gì họ đã lấy.
Cho nên Việt Minh bị dân nghèo nhà quê rất ghét.(theo sách “Cách Mạng tháng
Tám” q.II, tr.279)
Trong tỉnh MỹTho, dân quê đã nhờ nhà trắc-địa (géomètre) Thu, đảng-viên của nhóm
La Lutte, giúp họ chia đất điền cho đồng đều, thì ông Thu bị Việt Minh
bắt. Ủy-viên Nội Vụ Nguyễn Văn Tạo can thiệp và tuyên bố những lời đe dọa các
người trốtkít đứng về phe dân quê không ruộng đất và các nhà báo. Trong một cuộc
kinh lý ở tỉnh ông đã tuyên bố: “Những kẽ xúi giục dân quê chiếm đất sẽ bị
trừng phạt nặng nề. Chưa phải là cách mạng cộng sản để giải quyết vấn-đề ruộng
đất . Chánh phủ của chúng ta là một chánh phủ dân chủ và tiểu tư-sản tuy rằng
đảng-viên C.S. nắm chánh quyền”. (theo báo Tín Điển, Saigon, 12 th.2-1946).
Tạo muốn quên rằng việc chia ruộng đất cho dân quê vô sản, theo thuyết của đảng
C.S.Đông Dương PCI hồi năm 1930, là việc của cách mạng tư- sản- dân-chủ, phải
được thực hiện trước khi có cuộc cách mạng vô-sản. Tức là ông đã trở về thời
Thanh Niên, “ cách mạng quốc-gia” (liên minh quốc- gia tranh đấu cho độc
lập) trước mọi cải cách điền địa.
6-
Tractations stalino-gaullistes et mise en cause du pouvoir Viet Minh
autoproclamé.
(Những
cuộc giằng co giửa phe C.S đệ Tam với phe De Gaulle và việc đặt lại câu hỏi về
chánh quyền tự-xưng của ViệtMinh) (tr.339-340).
Xin nhắc lại là hai tuần lễ sau cuộc đảo chánh của Nhựt Bổn, thì De Gaulle,
người không quan niệm được nước Pháp phải mất Đông Dương, đề nghị ban cho Đông
Dương một chế độ “ Liên Bang Đông Dương trong Liên Hiệp Pháp” trong cái được gọi
là “Lời Tuyên Bố ngày 24-tháng 3-1945”. (Déclaration du 24 Mars 1945).
Năm tháng sau, một quan cai trị thuộc địa cũ là Đại Tá Cédile, được Hàng Không
Hoàng Gia Anh (RAF) thả dù xuống vùng Tây Ninh, di đến Saigon, như vị đại diện
của “Nước Pháp Mới” (la “France Nouvelle”) cũng với một đề nghị ấy, mà
M.Hertrich gọi là “ một kiệt-tác về sự nhu-nhược, về sự cẩn-thận mù mờ, về sự
khó hiểu”. Danh từ độc lập cũng không có trong đó, và De Gaulle còn nói tới
«những thuộc địa của chúng ta» (nos possessions).
Ngày 27 tháng 8, Cédile được gặp Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo và B.S.Phạm Ngọc
Thạch, nghĩa là Việt Minh Miền Nam. Cuộc khởi đầu của những giằng co bí
mật ấy bị các thành phần quốc gia khác kết-án. Vã lại nó cũng thất bại, vì nền
tảng của cuộc thảo luận không thể chấp nhận được.
Trong lúc bấy giờ Trần Văn Giàu và bọn của y còn phải lo nhiều chuyện khác. Được
ở trong dinh quan Thống Đốc Nam-kỳ ( là Dinh GiaLong dưới thời VNCH) họ
đang chuẩn bị một cách “quá lễ phép” việc đón rước một “Phái Đòan Các Đồng
Minh”, (kỳ thực là một ủy ban kiểm soát của Đồng Minh). Thông cáo ngày 29
tháng 8 của họ khuyên đồng bào “cộng tác với chánh phủ để tiếp đón một
cách hết sức long trọng “Phái Đòan của Đồng Minh” : “mỗi công-thự và biệt –thự
đều phải treo các cờ của Anh, Mỹ, Nga, và Trung-Quốc, với cờ đỏ sao vàng của VN
ở giữa”.
Ngày 30 th.8, ở tại thị-sảnh của Saigon, Trần Văn Giàu kiểm điểm thành quả của
năm ngày nắm chánh quyền. Có mặt, báo chí và đại diện của nhiều xu hướng chành
trị. Ký-giả Nguyễn Kỳ Nam thuật lại cuộc đấu-khẩu sôi nổi giữa Trần Văn Giàu và
Trần Văn Thạch, một trốtkít, trong sách Hồi-Ký của Ông (Saigon, 1964).
Thạch hỏi: «Ai bầu Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ ?» thì Giàu trả lời lạc đề
và đe dọa : “Chúng tôi tạm thời nắm chánh quyền trong giai đọan này, rồi
chúng tôi sẽ trả lại cho các người. Còn câu trả lời chánh trị của tôi (y vừa nói
vừa lấy tay vỗ vào cây súng sáu đeo bên hong) thì tôi sẽ gặp anh ở chổ khác.”
7-
Démonstration de force Viet Minh du 2 Septembre
(Việt Minh phô trương lực lượng ngày 2 tháng 9) (tr.340-342).
Đến ngày thứ chín trong chánh quyền, thì Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ tổ
chức một cuộc biểu tình để nghe Hồ Chí Minh từ Hà Nội tuyên bố Việt Nam độc lập
từ Bắc chí Nam. Cuộc biểu tình cũng là một dịp để phô trương lưc lượng của Giàu;
mặc dầu y không kiểm soát được hết các nhóm võ trang nên từ ngày 28 th.8, đã kêu
gọi những nhóm ấy hãy hiệp nhau lại thành một “quân đội nhơn dân”(une armée
populaire).
Cụộc tập hợp bắt đầu từ 9 giờ sáng ở Đại-lộ Norodom được cải tên là Đại- Lộ
Cộng- Hòa. Cái bệ diển-đàn dựng sau Nhà Thờ Đức Bà được dùng hồi ngày 25, thì
hôm nay chứa đầy những nhơn vật của chánh phủ. Sau khi nghe xong bài diển văn
của Hồ Chí Minh truyền bằng radio, thì sẽ có cuộc diễn hành trước bệ diển đàn
ấy. Ngoài đám người tham dự rất có trật tự, còn có bốn sư-đòan (gọi là sư-đoàn
cho kêu của bốn nhóm người võ trang) của “quân đội nhơn dân”nói trên, mỗi sư
đoàn dưới bộ chỉ huy riêng của mình. (NLV.: Bốn cái gọi là “sư-đoàn”
là bốn nhóm người, võ trang khác nhau, không có đồng phục, dưới quyền
chỉ huy riêng biệt : Sư-Đoàn Một của Kiều Công Cung, Sư-Đoàn Hai của Nguyễn Văn
Đẩu, Sư-Đoàn Ba của Nguyễn Hòa Hiệp, và Sư-Đòan Bốn của Lý Huệ Vinh.)
Chỉ có Sư-đoàn Một, là lực lượng của Việt Minh gồm những đội lính “khố
xanh” cũ ( la garde indigène) là có đủ súng ống và đã được huấn luyện; sư-đòan
Hai là những đơn-vị bán-quân-sự của Cao Đài ; sư đoàn Ba dưới quyền chỉ
huy của Nguyễn Hòa Hiệp, có học Trường võ-bị Hoàng Phổ bên Tàu, và là đảng-viên
của VNQDĐ, thì gồm những “nghĩa dũng quân” (Giyutai) của quân đội Nhựt
Bổn tuyển mộ hồi tháng 7, và đã được giải ngũ; sư đòan Bốn thì gồm những quân
tự-vệ của Hòa Hảo, được võ trang rất là sơ sài.
Máy radio bị hư, nên chính Trần Văn Giàu, lúc 2 giờ chiều, đứng lên hô hào dân
chúng; không những y kêu gọi dân hãy vui mừng ngày độc lập, mà còn hăm dọa: “Một
số người phản-quốc đang tăng cường hàng ngũ để phục vụ kẻ thù, …phải trừng trị
bọn đang gây rối cho Cộng Hòa Việt Nam Dân Chủ, họ giúp cho địch có cơ hội xâm
chiếm chúng ta. “
Những lời đe dọa ấy tức nhiên nhắm vào nhóm trốtkít, nhưng cũng nhấm vào những
phần tử không hoàn toàn phục tùng như Hòa Hảo, Cao Đài, VNQDĐ.
Rồi đến giờ diễn hành. Trên đám người di chuyển, là cờ đỏ sao vàng của Việt Nam,
xen với cờ của Đồng Minh, và những biểu-ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng
Tàu, tiếng Nga, và tiếng Việtnam, nói: “ Đả đảo thực dân Pháp”, “Thà chết còn
hơn nô-lệ”, “Welcome to our Allies” , “Việt Nam hoàn tòan độc lập”. Lại
còn có một bản khác thường ghi: “ Ban ám sát xung phong” của một nhóm
người ở trần, mình xăm : đó là bọn giết mướn (sicaires) của Dương Bạch Mai, mà
phần lớn là bọn cướp Bình Xuyên, đóng ở gần cầu chũ Y, kiểm soát phía Nam
Saigon, và gần như hết cả đô- thị ChợLớn.
Lối 4 giờ chiều, khi làn sóng người, đang hát và hô khẩu hiệu, đi vòng qua Nhà
Thờ, thì có tiếng súng nổ, hình như từ phía “Nhà Dòng”của Hội Truyền Giáo (la
Maison des Missions). Dân chúng sợ hoảng chạy tán lọan, nhưng nhiều nhóm võ
trang xung phong tới. Cha Tricoire, cha tuyên-úy nhơn đức của Khám Lớn, bị đâm
và giết chết bằng súng lục trên sân trước giáo-đường. Nhóm La Lutte có mặt ở đó
với cờ của Đệ Tứ Quốc Tế, và cả ngàn đảng viên và tình cảm viên. Một “lảo tướng”
của La Lutte là Ông Lê Văn Long tóm cổ một người Pháp, dẫn xuống cầu thang của
Nhà Dòng và giao cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc của Dương Bạch Mai. Nó sẽ được thả ra
ngày hôm sau cùng với những người Pháp khác đã bị nghi và bị bắt.
Nhiều tiếng súng được nghe lọan xạ tứ phía, từ Đại-lộ Bonard (Trần Hưng Đạo),
từ Chợ Bến Thành. “Quân đội nhơn dân” (dân quân) bắn trả lại cũng loạn xạ. Sự
yên tịnh chỉ được trở lại với trời mưa tầm tã. Kết quả: năm ngừơi Pháp bị chết,
vài chục bị thương. Phải chăng sự phô trương của Giàu đã khiêu- khích bọn Pháp
trở thành táo bạo hơn khi thấy quân Anh sắp đến, không thua gì những lời hô hào
tuyệt vọng của nhóm trốtkít là phải võ trang quần chúng ?
8-
Les illusions du Viet Minh sur les “alliés britanniques” s’effondrent
(Những ảo-vọng của Việt Minh về “các đồng-minh Anh” bị tan vở.)
(tr. 342-343).
Giàu tự cho mình quan trọng: ngày 3 tháng 9, ông ta cấm mọi người mang võ khí,
gươm đao, dao gâm, súng, ra đường, trừ “quân đội nhơn dân”, và cảnh sát Việt
Minh . Nhưng mọi người ai cũng chỉ làm theo ý của mình.
Liên Minh (trốtkít) biểu tình ở Chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi
tăng cường các Ủy Ban Nhơn Dân, kêu gọi võ trang quần chúng để đánh bọn đế-quốc
không phân biệt phát-xít hay dân-chủ. Các nhà lãnh đạo trốtkít vẫn giử khẩu hiệu
“Ruộng đất cho dân quê. Cơ xưởng cho thợ thuyền. Hoàn tòan Độc Lập cho Đông
Dương”.
Báo Cộng sản Dân Chúng gọi những người ấy là “Việt gian” và
Nguyễn Văn Linh đến văn phòng của họ để phản đối việc “ kêu gọi sát nhân” ấy.
Tướng Gracey (của Anh), người cầm đầu Ủy Ban Kiểm Soát của Đồng Minh, cho tới
ngày 6 tháng 9 mới tới Saigon. Những biểu ngữ tiếp đón, chuẩn bị từ ngày 29
tháng 8, được căng ra trên các đường phố, “Welcome to our Allies”, pha
lẫn với những biểu ngữ nói lên ý nguyện chung “Independence or Death” .
Về sau Gracey trong một bản báo cáo nói một cách lơ là rằng “Tôi được Viêt
Minh hoan nghênh khi tôi đến, nhưng rồi tôi đá đít họ ra” (“I was
welcomed on arrival by Viet Minh, I promptly kicked them out”) (trong
Journal of the Royal Central Asia Society , July-October 1953 vol. XI, p.213).
Ông (Gracey) trách Tổng Tham Mưu Nhựt sao đã để cho có loạn. Thì có kết quả ngay
là Bộ Chỉ Uy Nhựt Bổn biểu chánh quyền trên thực tế giải tán “quân đội nhơn dân”
, cấm mọi họat động chánh trị có tánh cách phá hoại, cấm mọi cuộc biểu tình
không có giấy phép trước, cấm đeo khí giới kể cả dao mác.
Trong một thông cáo ngày 7 tháng 9, Giàu tuyên bố: “Một nhóm người vô
trách nhiệm đã kêu gọi dân chúng biểu tình ở Chợ Bến Thành, đòi “võ
trang quần chúng” …….Hiện giờ, bọn gây rối vô tình hay hữu ý ….. đã cho ngoại
bang có cơ hội để xúc phạm đến chủ- quyền quốc gia của chúng ta, …..Những tự do
dân chủ mà chúng tôi, Ủy Ban Hành Chánh đã ban hành bị một nhóm người vô trách
nhiệm lạm dụng để làm hại quốc gia và xứ sở của chúng ta.”
Cũng vào ngày 7 tháng 9 đó, nhóm La Lutte mới được biết là Tạ Thu Thâu đã bị bắt
ở Quảng Ngải và yết thị tin ấy ở trước trụ sở của mình ở góc đường Garros và
Lagrandìere. Cả Saigon đều xúc động. Nhóm La Lutte chất vấn Giàu về vụ ấy.
9 -
Dissensions entre Viet Minh Nord et Viet Minh Sud
(Những mối bất hòa giữa Việt Minh Miền Bắc và VIệt Minh Miền Nam)
(tr.343-345).
Vài ngày trước, hai thám-tử của Hồ Chí Minh đã đến Saigon, là Hoàng Quốc Việt
(trong Trung Ương Đảng C.S. và là người đã cho theo dõi Tạ Thu Thâu trong suốt
thời gian Ông này đi ra Bắc), và Cao Hồng Lãnh (ủy-viên của Tổng Bộ Việt Minh).
Hai ông này khiển trách Giàu đã hành động trái với đường lối của Đảng: “Chúng ta
chủ trương đánh cả Pháp lẫn Nhựt, còn đồng chí thì dựa vào lực lượng của Nhựt
Bổn”. (về sau, năm 1989 ở Paris, Giàu phẩn-uất nói trước một nhóm Việt-kiều “Tôi
thành người theo Nhựt Bổn,và người ta kết án tôi” )
Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lảnh ra lệnh cho Giàu phải dẹp bỏ Thanh Niên Tiền
Phong(TNTP) và tổ chức lại thành Thanh Niên Cứu Quốc (TNCQ) :
luôn luôn những sữa đổi nho nhõ để giữ thể diện, luôn luôn những quanh-co chiến
thuật.
(NLV.:
Hồi lúc ấy, ở nhiều nơi dưới Miền Hậu- Giang, TNTP quốc gia và TNCQ cộng sản, đã
bắt đầu choảng nhau; rồi khi Tây đến, thì TNTP xung phong đánh Tây với tầm vông
vạt nhọn, còn TNCQ thì biến đâu mất).
Ngày 8 tháng 9, hai ông ấy còn buộc Giàu phải mở rộng Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời
Nam Bộ
(CEPN=Comité Exécutif Provisoire du Nambo) thành Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ
(CPN=Comité Populaire du Nambo) bằng cách lấy thêm những đại diện của tất cả mọi
nhóm chánh trị ở Miền Nam. Mục đích là để cho có một bộ mặt dân chủ. Luật sư
Phạm Văn Bạch, không đảng phái, sẽ là Chủ Tịch. Một danh sách mở rộng cho có
nhiều ủy-viên hơn gồm có Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo) Phan Văn Hùm và Trần Văn
Thạch(La Lutte) Hồ Văn Ngà, và đến cả Dương Văn Giáo (trong nhóm Hiến
Pháp) nữa.
(Ngày hôm sau Phan Văn Hùm mới biết là mình chỉ được làm dự-khuyết (suppléant)
nên từ chối.) Gần như tất cả người trong Ủy Ban Hành Chánh cũ (CEPN) đều được
vào Ủy Ban Nhơn Dân(CPN); chỉ có ba nhơn vật mới, trong đó có “Ông Đạo Khùng”
(Le Bonze Fou). Nhưng Giàu chống đối việc đề cử “Ông Đạo Khùng”, vì Ông này tố
cáo với Hoàng Quốc Việt rằng : “Tôi có những bằng chứng cho thấy rõ ràng sự thỏa
hiệp giữa Giàu với Pháp”. (Theo Savini trong sách “Notes sur le Phat Giao Hoa
Hao” ở tr. 18: “Trần Văn Giàu không chịu Huỳnh Phú Sổ vì ông này biết những mối
liên lạc của Giàu với người Pháp”).
Cho nên Giàu ra lịnh lục- soát trụ-sở của Hòa Hảo ở đường Miche. Huỳnh
Phú Sổ chạy thoát được nên không bị bắt. Sự căng thẳng giữa Việt Minh với
Hòa Hảo trở thành một cuộc chiến võ trang ở Cầnthơ, khi tín đồ của “Ông
Đạo Khùng” muốn có phần sáng kiến và trách nhiệm của mình, thì họ bị Việt
Minh diệt. Nguyễn Xuân Thiệp, tự là thi-sĩ Việt Châu, mà Viêt Minh
cho là trốtkít, Huỳnh Phú Mậu, anh ruột của “Ông Đạo Khùng” và Trần Ngọc Hoành,
con của một nhà lãnh đạo Hòa Hảo địa phương đều bị bắn chết. Hồi ngày 27 tháng 8
ở Châu đốc Việt Minh cũng đã bắt lối 300 tín đồ Hòa Hảo (bắn chết
một người) và ngày 30 bắt những người lãnh đạo địa phương.
Ngày 9 tháng 9, sau cuộc giả bộ cải tổ chánh quyền, Giàu trả lời sự chất vấn của
nhóm La Lutte trong một thông cáo trong báo như sau: “ Việc
bắt Tạ Thu Tâu ở Quảng Ngải không do Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời. Ủy Ban Nhơn Dân
có thể và có quyền xét xử Tạ Thu Thâu”. Thì chắc là Thâu đã bị ám sát.
Ngày 10 tháng 9 Tướng Gracey mời Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ rời khỏi Dinh Thống Đốc
(tức là Dinh Gia Long) và ông đến ở đó với ban tham mưu của ông. Ủy Ban
Nhơn Dân dọn về Tòa Đô Chánh (Hôtel de Ville), rồi lập lên một Hội Đồng đặc cách
liên lạc với Đồng Minh. Được cử vào đó bốn nhơn vật mà một tháng sau sẽ bị Việt
Minh ám sát là Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương và Bà Hồ Vĩnh Ký
(NLV.: tức là chị Bác sĩ Nguyễn Thị Sương, học trên tôi hai lớp).
Nhiều quân Anh- Ấn và Đại- đội 5e RIC của Pháp lần lượt được thả dù xuống. Ngày
12, Tướng Gracey cho quân Anh-Ấn Gurkhas chiếm các sở cảnh sát quan trọng, rồi
đến Ngân Hàng Đông Dương và Kho Bạc, Sân bay, các nhà máy điện nước, còn quân
Nhựt thì giao lại cho người Pháp việc quản trị bến tàu, binh-công-xưởng
(Arsenal) và hỏa-công xưởng (Pyrotechnie).
Ở
Saigon những nhóm võ trang của Việt Minh vẫn giử Tòa Đô Chánh (Hôtel de
Ville) và các bót cảnh sát lân cận.
Liên Minh (trốtkít) và các Ủy Ban Nhơn Dân phát truyền đơn chống đường lối chánh
trị liên hiệp quốc gia của Cộng Sản không nhắm tới viễn cảnh giải phóng thợ
thuyền và dân quê. Ngày 14, Dương Bạch Mai cho bao vây trụ sở của họ, bắt
ủy-viên của họ, tịch thâu vài khẩu súng nghèo nàn của họ, và một máy in thô sơ
với một máy đánh chữ. Ông Lữ Sanh Hạnh sẽ tố cáo Dương Bạch Mai chỉ muốn “tiêu
diệt đội tiền phong của vô sản cách mạng”. May phước cho họ khỏi bị ra “tòa án
nhơn dân” của Việt Minh và bị xử tử hình nhờ có quân Anh đến chiếm Khám
Lớn và giao họ cho Mật Thám Pháp.
Ngày 16, trong lúc một chiếc tàu dầu và 25 chiếc ghe biển cập bến ở Côn-Sơn để
đem về đất liền những tù chánh trị ( trong đó có Tôn Đức Thắng, vì tội ở đường
Barbier, Phạm Văn Thiện tức Phạm Hùng thoát chết hồi năm 1933, Lê Duẩn, Nguyễn
Văn Linh trong Đảng Cộng Sản Đông Dương PCI) thì Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ trong
một buổi hợp báo tỏ ra phẩn uất vì uy-quyền của mình bị phỉ báng: những biện
pháp đưa ra từ ngày 1 tháng 9 không được tuân theo, tiệm buôn, hảng xuỡng do
Pháp nắm đều cố ý đóng cửa, hoặc hoạt động nữa chừng; tiền bồi thừơng thợ bị sa
thảy không được chủ nhân đóng góp.
Uy
Ban Nhơn Dân hâm dọa sẽ quốc-hữu-hóa những xí-nghiệp của Pháp bướng bỉnh. Không
có kết quả gì hết.
Ngày hôm sau, Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ kêu gọi người Việt Nam tổng- đình- công,
người nào không theo sẽ bị coi là “việt gian” . Saigon bị tê liêt. Thiệt hại lớn
cho bọn thực dân: không có bồi bếp trong khách sạn, không có xe kéo ngoài đường;
bến tàu vắng hoe, sự chuyên chở bị ngưng hẳn, tiệm buôn và cửa hàng đóng cửa vì
không có người bản-xứ đến làm.
10 -
Gracey prépare la reconquête francaise
(Tướng Gracey chun bị cho Pháp tái chiếm)
(tr.345)
Cũng ngày 17, lối 100 lính Pháp ra khỏi Binh-Công-Xưỡng (Arsenal) trên những xe
camion chở đầy súng ống đạn dược. Ngày 19, Cédile (đại-diện của De Gaulle) cũng
hợp báo; “Việt Minh không đại-diện cho dư luận của quần chúng, nó không
có khả năng gìn giử trật tự và tránh cướp bóc. Trước nhứt phải có trật tự, rồi
sau chúng ta sẽ thành lập một chánh phủ đúng như Bản Tuyên Ngôn Ngày 24 Tháng
Ba (La Déclaration du 24 Mars). Ngày 20, Tướng Gracey tăng cường biện pháp :
Ông cấm mang khí giới, cấm báo chí Việtnam, cho xé các bản tuyên ngôn của
Việt Minh còn dán trên các tường của thành phố, và nhắc cho cảnh sát địa
phương nhớ là họ “chỉ là người phụ trợ của quân đội Anh”. Ngày 21, ông ra lệnh
thiết-quân-lực, những kẽ phá hủy và trộm cướp sẽ bị xử tử. Ngày 22, quân Anh
chiếm Khám Lớn Saigon, thả quân nhảy- dù Pháp đã bị Việt Minh bắt trong
tuần trước và giao cho Sở Mật Thám Pháp đã trở về chổ ở cũ, những cán bộ của
Liên Minh (trốtkít) đã bị Dương Bạch Mai bắt.
Tướng Gracey lại cho phép Đại tá Rivière tái võ trang 1500 lính Pháp của Trung
Đoàn 5e RIC, khi trước là tù-binh của Nhựt Bổn.
Nhóm La Lutte kêu gọi dân không phải chiến sĩ nên di cư ra khỏi thành phố vì sắp
có đụng độ và truyền đơn của Ủy Ban Nhơn Dân (CPN) mời dân chúng tản cư về nhà
quê và “hãy bình tỉnh vì chánh phủ hy vọng sẽ điều đình được.”
Chương XXII- La Reconquête Coloniale. Le Visage de la «Nouvelle France»
(
Việc Tái Chiếm Thuộc Địa. Bộ Mặt Của «Nước Pháp Mới ») (tr.347-372)..
Saigon là nơi bắt đầu, hồi tháng 9-1945 của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, và
chỉ kết thúc sau khi quân thực dân Pháp rút đi hồi năm 1954 và sau khi Mỹ rút đi
hồi năm 1975.
1-
Offensive franco-anglaise (Cuộc tấn công Anh- Pháp)
(tr.347-349).
Ngày Chúa Nhựt 21, lối 4 giờ sáng, với sự hỗ trợ của quân Anh-Ấn Gurkhas, lính
Pháp đã dược tái võ trang, tái chiếm những bót cảnh sát quan trọng, Sở Mật Thám,
Kho Bạc, Bưu điện, và Tòa Đô Chánh, là trụ sở tạm của chánh quyền VIệt Minh.
Ông Harold Isaacs viết: “Lính gát an-na-mít bị đánh thua. Chúng bị giết
hay bị bắt làm tù nhơn. Sổ sách bị lấy và bị phân tán. Vài chục người Annam bị
cột tay và dẩn đi. Sáng hôm đó nhiều nhơn chứng ngoại quốc đã thấy máu chảy và
nhiều người bị trói và bị hành hạ” (Sách Harold R.Isaacs No Peace for Asia The
MIT Press, Massachusetts, 1967, tr.153)
Một nhơn chứng khác là J.-M Hertrich kể lại vài giờ sau: “ Lối 8 giờ
sáng, đường Catinat reo mừng một cách làm chúng tôi phẫn uất ngay. Tất cả mọi
người, mà mới ngày hôm qua còn rung sợ đều nói là sẽ bắt bọn annamít trả một giá
rất mắt (đắt) vì đã làm cho họ phải sợ…[..] Nhiều người annamít chỉ có tội là
còn tiếp tục di chuyển trên đường, thì bị nhửng công dân dũng cảm (Pháp) tóm cổ,
đánh đập, rồi đem giao cho lính (Pháp) trói họ, sau khi đánh cho vài cái. Tất cả
chuyện ấy đâm ra kỳ quái, nếu không nói là ghê tởm, và tất cả mọi thông-tín-viên
chiến tranh (correspondants de guerre) đều phẫn uất.” (sách J.-M. Hertrich: Doc
Lap (“L’independance ou la mort”) Paris, 1946,tr.79).
Báo Daily Express ngày 26 có lời bàn về các vụ ấy như sau: Bốn giờ
sáng, là một giờ khác thường, đã được chọn để đánh bất ngờ, với hy vọng tránh
được những cuộc biểu tình chống đối của quần chúng. Nhưng, vài phút sau những
tiếng súng đầu tiên, thì tiếng nổ dòn rang của liên thanh được nghe trong nhiều
khu của thành phố. [..] Lúc 6 giờ rưởi sáng thì hết nghe bắn.[..] Trận chiến
giữa Việt Minh và Pháp hình như là chấm dứt [..] những công sở được trả lại cho
người Pháp [..] Giải pháp cho vấn- đề của chánh phủ bây giờ là dựa trên sự khéo
léo của Pháp làm cho có tinh-ý (tact) và trong tinh thần hòa nhả.[..] Trong cuộc
chạm súng đêm qua có hai người Pháp bị chết và bốn bị thương, một người annam bị
chết và một số không rõ, có lẽ vài chục, bị trấn-áp nặng hay nhẹ. [..] Sáng nay
ngày 23, một không khí khích động xẩy ra khi nhiều lính Pháp đi tuần trong thành
phố “hốt” những người đi lang thang, đập bể chốt và khóa của những nhà bị nghi
là có chứa võ khí. [..] Trong Tòa Đô Chánh có lính Pháp, lính Âu châu, lính Phi
châu đóng. Tôi thấy lối năm chục tù-nhơn an-na-mít ngồi chồm hổm dứoi đất, cổ
tay bị cột trói laị chung với nhau. Ở Nhà Giây Thép (Bưu Điện) có cả trăm người
an-na-mít ngồi dưới đất, tay bị cột chặt trên đầu. [..] Khó mà tưởng tượng được
tại sao còn những người đàn bà và thiếu niên bị giữ trói, ngồi bẹp dưới đất, như
vậy mấy tiếng đồng hồ sau khi không còn tiếng súng nữa ở trung tâm Saigon. Cái
này tôi dã thấy; đối xữ như vây hòan toàn trái với lịnh của Ông Cédile và Đại tá
Riviere.
Ngày 26 Đảng Lao Động trách Thủ Tướng Anh Attlee có trách nhiệm trong những biến
cố đã xẩy ra:”Những điện tín từ Saigon nói rằng lính Anh Ghukhas, lính với
cảnh sát Pháp và Nhựt Bổn được dùng để trừ khử những cuộc tập-hợp chánh trị,
những cuộc biểu tình và báo chí, và quân đội Pháp được phép lật đổ chánh phủ
cộng hòa an-na-mít.[..] Dân Á-Đông sẽ nghĩ rằng Anh-Quốc và Đồng Minh chống đối
sự giải phóng quốc gia dân chủ của họ.
Báo Daily Telegraph ngày 8 tháng 9 đăng câu trả lời của Thủ Tướng Attlee:
“ Một phong trào (movement) tự cho mình là dân chủ, không thể chấp nhận là
dân chủ được, nếu chỉ dựa vào bản tuyên ngôn của nó.”
Ông “cáo già” Attlee không thể bị gạt được bởi việc thay thế Giàu bằng luật sư
không đảng phái Phạm Văn Bạch trong chức vụ Chủ Tịch “chánh phủ trên thực tế “
của Nam Bộ ngày 8 tháng 9.
2
- Soulèvement de Saigon le 23 Septembre 1945
(Cuộc khởi nghĩa của Saigon ngày 23 th.9-1945)
(tr. 349-353)
Đêm 23 rạng 24 tháng 9, dân annamít chuẩn bị trả đủa. Trong những khu nghèo, cây
bị đốn xuống, xe bị lật đổ, bàn ghế chất ra đường, chướng-ngại-vật được dựng
lên; phong trào lan ra khấp các vùng ngoại-ô, Khánh Hội, Cầu Kho, Bàn Cờ, Phú
Nhuận, Tân Định, Th ịNghè; bót cảnh sát bến tàu bị tấn công. Phía tây-nam khói
lửa cuồn cuồn nổi lên, chắc là từ các kho dầu ở Nhà Bè bị đốt cháy.
Từ
ngày hôm qua lính-bộ và lính-thủy Pháp đã đi lục soát từng nhà để kiếm những nơi
chứa khí giới, họ tịch thâu và bắt bớ. Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ đã chạy ra Chợ Đệm
ở ngoại-ô tây-bắc ChợLớn.
Thành phố Saigon bị dân địa-phương bao vây. Những khu ở phía Nam và Tây-Nam, hết
cả ChợLớn, dọc theo Kinh Xáng (arroyo chinois) cho tới sông Saigon nằm trong tay
bọn Bình Xuyên, do Bảy Viển chỉ huy. Ở phía Tây-Bắc thì Cao-Đài nắm giữ đường
lên TâyNinh và đường lên sân bay TânSơnNhứt. Về phía Đông, dọc theo bờ sông Thị
Nghè (Avalanche) trong khu ngoai-ô TânĐịnh, và trong vùng Tân Bình, Phú Nhuận và
GiaĐịnh, dân kháng chiến nằm dưới quyền chỉ huy của Tổ Ký và của “chef ” việt
minh Hòang Quốc Việt. Về phía Đông, thì những phần tử Thanh Niên Tiền Phong
đã thoát khỏi cuộc tấn công của Pháp đêm trước, được sát nhập với dân quân của
Việt Minh.
Lối 4 giờ chiều quân Bình Xuyên, đóng dài theo Kinh Xáng (Arroyo
chinois) và ở trong ChợLớn, nổ súng. Một nhóm chui vào Saigon theo đường Verdun,
chiếm Chợ Bến Thành và Đại-lộ Bonard, nắm trong tầm súng của mình trung tâm
thành phố, đường Catinat (về sau là đường Tự-Do) nhà hàng Continental (về
sau là Eden) . Từ KinhXáng một nhóm khác theo đại-lộ de la Somme (về sau
là đại-lộ Hàm Nghi) hướng về Chợ Bến Thành.
Đến đêm, họ lại giật mìn phá hũy nhà máy điện, nhà máy nước, ở Chợ Quán. Saigon
gần như không còn điện nước. Sự phong-tỏa Saigon có vẽ có hiệu lực.
Trên Kinh Xáng nhiều thây ma đã trôi lình bình theo chiều nước lớn rồng, và tác
giả sách này, núp trong một chiếc ghe cột ở gần đó chờ nước lớn để ra khỏi thành
phố, thì thấy trên bờ người ta rượt bắn nhau, nên đạn rớt xuống như mưa quanh
chiếc ghe.
Ngày 25, lối năm mươi thường dân Pháp, phần lớn là đàn bà và vài đứa bé, bị bắt
cóc ở gần Nhà Thờ Đức Bà, với hy vọng vô lý và ngu xuẩn là để làm cho Pháp nãn
chí. Chỉ có lối ba chục người được vớt lên từ Kinh Xáng, phần lớn là đàn bà và
trẻ con.
Cũng trong ngày đó, người ta phát giác được ở trong khu gia-cư Cité Hérault,
trên Tân Định, nhiều thây ma của thường dân Pháp, người lớn và trẻ con, đàn ông
và đàn bà, bị hủy-hoại một cách dã man; có hơn trăm người chết và mất tích. Đó
là công trình của bọn côn đồ của Tổ Ký do Việt Minh tuyển mà người ta đã
thấy đi diển hành ngày 2 tháng 9 dưới biểu ngữ “ Ban Ám Sát Xung Phong”.
Đêm 25, Chợ Bến Thành cháy và lửa đe dọa hết trung tâm Saigon. Nhiều cửa hàng
gạo của Pháp ở ChộLớn bị đốt cháy.
Ngày 26 tấn công mạnh vào bến tàu, các kho hàng bóc lửa. Quân nổi lọan luôn luôn
mơ ước tiêu diệt thành phố bằng nạn đói và có một lúc làm chủ các lò heo. Trên
đường lên sân bay TânSơnNhứt, do nhóm Cao Đài kiểm soát, Đại-tá Mỹ Peter Dewey,
trong OSS (về sau là C.I.A.), bị hạ. Ông ấy đến Saigon ngày 2, để lo việc hồi
hương lính Mỹ bị Nhựt bắt làm tù-binh. Người ta không tìm được xác của Ổng.
Ngày 27, người Pháp có quân Anh-Ấn Gurkhas hỗ trợ, cố gắng phá vở vòng vây thành
phố sắp bị thiếu lương thực. Họ đốt hết các nhà lá trong những khu ngoại ô, mà
từ đó đã có các cuộc tấn công đêm.
Nhóm La Lutte viết:” trong vùng ngoại ô, kháng- chiến- quân chú ý nhứt đến các
đầu cầu, nên có những cuộc đụng độ ác liệt, trong đó có nhiều lính Nhựt đào ngủ
tham gia. […] Trong những trận đầu ở ĐaKao, BànCờ, CầuKho, NgãSáu, ChợQuán,
VĩnhHội, ChánhHưng, ThủThiêm, ThịNghè, PhúNhuận, Giađịnh, CâyQuéo, GòVấp,
NhàBè, công nhơn và cán bộ trốtkít đánh dưới cờ của Đệ Tứ Quốc Tế. Nhưng những
chiến sĩ ấy đã tự động nên Giàu không hề giúp cho võ khí đạn dược hay lương
thực. Trong khu ThịNghè, trong số 214 chiến sĩ, tất cả là trốtkít, thì có 210
người bị chết. Đến ngày thứ ba của cuộc chiến thì Trần Văn Giàu ra lịnh giải
giáp tất cả chiến sĩ của La Lutte mà chiến đấu không có lịnh của chánh phủ.
(Rapport du groupe La Lutte, avril 1948, BDIC, Fo. 455).
Lối sáu chục chiến sĩ trong đòan công-nhân của Sở Xe-điện GòVấp (Tramways de
Govap) do Liên Minh (trốtkít) tổ chức, tham gia cuộc nổi dậy, với các nhà lãnh
đạo được bầu của họ là Trần Đình Minh và S. mà không theo lịnh của chánh phủ. Họ
từ chối không chấp nhận cờ của Việt Minh, và không chịu được gọi là
Công Nhân Cứu Quốc , họ chiến đấu dưới lá cờ đỏ, miệng hát Bài Ca Quốc Tế
(L’ Internationale) và bài ca
Hành Khúc Của Công Dân, Nông Dân và Chiến Sĩ ( La Marche des Ouvriers, Paysans
et Soldats).
Người bị chết đầu tiên là Hồ Văn Đức, thợ may, quê ở MỹTho; Trần văn Nghị,
trong “Đoàn cảm tử số 1” bị thương ở AnPhúĐông (GiaĐịnh).
Ngày 29, những đòan thủy-thủ mà người ta tưởng là trung thành với Pháp, đánh
chìm một chiếc tàu 400 tấn, 2 chiếc tàu kéo (remorqueur), và một cái cầu nổi
(ponton) của cái phà trên sông Saigon, chưa tới 800 thước cách Tổng Hành Dinh
của quân Đồng Minh.
Đến cuối tháng 9, thì tổng số nạn nhân là : về phía Pháp 21 người chết, 134 mất
tích, về phía Việtnam, ít nữa 200 người chết, 200 bị thương và 23 bị bắt có súng
trong tay.
Tướng Gracey ra lịnh cho Terauchi phải tái lập trật tự cho Đồng Minh: “Tất
cả vùng Thủ Dầu Một và BiênHòa phải được quét sạch không còn thấy An-na-mít võ
trang, những cái ụ trong vùng Đông-Bắc và Tây-Nam phải được phá hũy. Bọn chiến
sĩ an-na-mít phải bị lột súng và bắt giữ, bắn chết nếu kháng cự. Đường xá phía
Bắc Saigon phải được hòan toàn an-ninh cho quân Đồng Minh và cho việc vận tải
thực phẩm và mọi vật dụng. Bải nhiệm tức khắc và xữ bắn ngay những người Nhựt
quân-nhơn hay tư-nhơn đã cộng tác với bọn phản-lọan an-na-mít.” (theo
sách của J.M. Hertrich, tr.165-166).
Đã
cộng tác cách nào? Tham Mưu Trưởng Nhựt Numata về sau có xác nhận rằng hơn một
trăm lính của Ông đã đào ngủ theo người An-na-mít, và nhiều lính khác bán súng
cho họ.
Báo The Daily Express ngày 14 tháng 10, thuật lại chuyện 50 người chết
trong số 500 người đã tấn công vào phía Bắc của Saigon như là câu trả lời bằng
võ lực của quân kháng chíên đối với sự đàn áp của Nhựt Bổn.
Báo The Manchester Guardian ngày 27 tháng 10, cho là việc dùng quân Nhựt
để càn quét một số vùng là một chuyện kỳ-lạ, nhưng cũng nhấn mạnh là quân Đồng
Minh không đủ để tái lập trật tự.
Sự
trinh-thám bằng máy bay báo cáo có cả ngàn kháng chiến quân tụ hợp trên đường
Saigon-MỹTho, và báo The Daily Telegraph ngày 1 tháng 10 đăng tựa là “Không
quân sẽ giải quyết xong việc nổi lọan”.
Tuần lể chót của tháng 9 là tuần lể đẩm máu, kết thúc với ý nghĩ là sẽ có một
cuộc hưu-chiến. Cuộc hưu–chiến ấy gần như là đã xác-thực ngày 2 tháng 10.
3-
La trêve ( Cuộc hưu-chiến.)
(tr.353-358).
Ngày 3, khi tại tổng hành dinh của quân Đồng Minh, Tướng Anh Gracey, Ông Cédile
đại-diện của Tướng Pháp Leclerc, và 3 đại diện của Vịêt Minh là L.S.Phạm
Văn Bạch, B.S.Pham Ngọc Thạch và Ô.Hoàng Quốc Việt có một cuộc hợp mặt đầu tiên,
trong khi ở đường Catinat dân chúng Pháp, rất khoan khoái, hoan nghinh “toán
đánh úp”(commandos) của Đoàn Quân Viển Chinh Pháp đang diễn-hành, trong lúc mà
các tàu chở hàng (cargos) đang đổ lên bộ nhiều toán quân khác. Không có bóng của
một người địa phương nào hết, làm cho phải nhớ lại cái cảnh của ngày 23 tháng 9
. Ký giả Hertrich, có đi ngang qua đó, viết : “ Phải chăng chúng ta đang ở trong
một xứ Đông Dương không có nguời Đông Dương ?”
Cùng ngáy hôm ấy nhóm trôtkít La Lutte, thường phát báo Kháng Chiến cho
vùng tỉnh ChợLớn, kêu gọi dân chúng đừng có nuôi hy vọng về thiện-chí của Pháp,
mà phải sẵn sàng để tái chiến- đấu ngay với bọn đế-quốc.
Ủy
Ban Nam Bộ còn mong “đi đến một cuộc điều đình” có kết quả như Giàu đã hứa hồi
ngày 22 th.9 chăng ? Mổi bên ra điều kiện của mình. Cédile đòi phải trả những
con tin và nộp xác của đại-tá Dewey; Việt Minh đòi phải nhìn nhận Việt
Nam độc lập. Saigon vẫn còn bị bao vây và sắp chết ngộp; lịnh bãi công bãi thị
chưa được hũy bõ. Những cuộc đàm phá sẽ thất bại.
Trong lúc đó thì ngày 5, Tướng Leclerc đến Saigon. Ông đến ở trong dinh quan
Tòan Quyền và cho biết tàu của Hải Quân Pháp sắp tới, với xe thiết giáp, xe gắn
liên-thanh (automitrailleuses) và quân lính, với thêm 12.000 lính Anh-Ấn Gurkhas
nữa. Tướng Leclerc cũng tiên-đoán sẽ tái lập tình hình trong vòng một tháng.
Ngày 11 tháng 10, một sĩ quan Anh, một Ấn , và ba lính Gurkhas rơi vào một ổ
phục-kích ở Thạnh Mỹ Tây,về hướng Đông-Bắc của Saigon. Cuộc hưu-chiến chỉ có
được một tuần lễ.
Ngày 12, dân bị đánh thức dậy vì tiếng ồn ào càng ngày càng tăng của tiếng súng
liên-thanh, của tiếng lựu đạn nổ, của tiếng súng cối bắn đi. Một đại-đội lính
Gurkhas chiếm GiaĐịnh và Gò Vấp, ngoại-ô Đông-Bắc và Tây-Bắc của thành phố
Saigon, họ bắt lối 50 người Việt, trong đó có một nữ y-tá. Và trong lúc mà Tiểu
đòan 5e RIC của Pháp tấn công Phú Mỹ, ở phía Tây, thì một chi-đội quân Anh-Ấn cố
gắng giải tỏa khu ChợLớn vẫn do Bình Xuyên nắm giữ. Chúng dùng côn đồ đốt
hết nhà lá của các xóm lân cận, không biết phải trái.
Báo Daily Express ngày 15 và báo Times ngày 16, thuật lại cuộc
phản-công của dân địa phương như sau: từ ngày 13, ba toán quân an-na-mít, đã
vào được Saigon nhưng không có kết quả lắm, một từ phía Nam, một từ phía
Tây-Nam, và toán thứ ba từ phía Đông-Bắc; họ bị quân Gurkhas trang bị đầy đủ hơn
đẩy lui. Quân Pháp núp dọc theo sông Saigon bắn chận đòan thuyền đến tiếp viện.
Mặc dầu vậy quân kháng chiến cũng đến được tới Chợ Bến Thành, đốt cháy các cửa
hàng của chợ; một trận đánh ác liệc xẩy ra ở ngay trung tâm Saigon. Và lính
Gurkhas đã chiếm được tổng hành dinh an-na-mit ? chỉ là tin đồn.
Cũng là ngày 13, lúc nữa đêm, người bản xứ đột ngột xuất hiện từ các đám ruộng
quanh sân bay Tân Sơn Nhứt đang có nhiều máy bay chuyên chở của Hàng Không Hòang
Gia Anh (RAF), chiến đấu cơ Spitfires, và máy bay của Nhựt Bôn, họ bò đến lối
300 mét gần đài kiểm soát (tour de contrôle) rồi bị đẩy lui. Nhiều tóan khác
đánh vào đài vô-tuyến-điện (TSF) ở PhúThọ, nhưng họ không cắt được sự liên lạc
của Đồng Minh với thế giới bên ngoài vì đến sáng sớm họ bị xe thiết giáp của 300
lính Gurkhas có lính Nhựt bị bắt buộc phải yễm trợ đẩy ra xa tới 3km.
Bố-ráp (khủng-bố và rafle) của Pháp và Ấn trong các ruộng và các làng kế cận.
Hai sĩ-quan Nhựt, không mặc đồng-phục Nhựt, chiến đấu cho phía an-na-mít, bị xữ
bắn tại chổ.
Lối 7 km về phía Đông-Bắc Saigon, ở cầu BìnhLợi, lính Gurkhas và lính Pháp gặp
phải một cuộc kháng cự tuyệt vọng của lối một trăm kháng chiến quân. Thì xóm bên
cạnh bị đốt ra tro, một cái chùa bị sụp đổ. Dân làng bỏ nhà của họ bị đốt cháy
để chạy trốn và 800 người bị bắt. rồi bị đưa về Saigon để xữ.
Nhà văn Harold Isaacs có dự một buổi xử của Tòa Án Binh. Đến trước cái gọi là
tòa-án, ngay lúc trước khi bước vào, ông đã thấy bất bình trước cái vô-dụng của
tên sĩ quan Pháp đứng gát ở đó; nó chỉ biết có một chuyện là Saigon không còn
những cô An-na-mít đẹp nữa và tỏ ra thờ ơ với cái cảnh bi-thảm của những
tù-nhơn, tay bị xích, mình trần, ngồi giữa đám lính canh cằm súng có gắn lưởi
lê:
“
Tên sĩ quan chỉ vào các tù nhơn, và nói:
- Đấy là những mẫu (spécimen) của da vàng.
Tôi nhìn tên gác Pháp đứng cạnh Ông và nghĩ: “Đây là những mẫu của da trắng”.
[..]
Ở
phía trong tòa án, những người bị-cáo đứng trước các quan tòa sẽ xử họ, là năm
ông sĩ-quan Pháp ngồi dưới bóng ba cây cờ. Ông chánh-án là đại-tá Rougier, người
cao lớn, vẻ khô khan và nóng nảy, không ngưng lấy kiếng ra rồi đeo kiếng trở
lại, mắng nhiếc tù nhơn, mà có vẻ như họ không hiểu người ta chờ đợi cái gì nơi
họ. Thông ngôn, một người lai, cũng la hét gần như lọan thần kinh, giống như
ông chánh án. Còn can-phạm thì nói thật nhõ, rất khó nghe. Không có ai được cho
nhiều thì giờ.[..] Tám phút cho mỗi người trong năm người đầu. Không có
nhơn-chứng, không có đối chất.[..] Hai thanh niên được dẫn tới trước tòa là Phạm
Văn Tâm 18 tuổi và Trần Duy Gian, 19 tuổi. Chúng nó bị cáo về tội đi phát
truyền đơn. Chúng nó đứng ngay thẳng và ăn nói rõ rệt. Trần (Duy Gian) nói tiếng
Pháp rất giỏi. và trả lời không cần thông ngôn. Cả hai nhìn nhận có thuộc vào
một nhóm đột-kích tuyên truyền (un groupe de choc propagandiste). Cả hai nhìn
nhận có đi phát truyền đơn. Ông tòa nhìn chúng nó một cách xấc xược, đeo kiếng
lại và đọc một tờ truyền đơn: “Các anh không được đánh người Anh, người Ấn hay
người Nhựt” …( và hỏi:) “ Vậy còn người Pháp thì anh làm gì ? “
-
Thưa tôi không biết, tôi chỉ nhận được lịnh đi phát truyền đơn và tôi chỉ làm
việc đó.
-Nhưng anh nói anh thuộc vào một nhóm đột kích (un groupe de choc) nghĩa là đánh
phải không ? Nếu anh không phải đánh người Anh, người Ấn, người Nhựt thì anh
đánh ai ?
-Cái gì tôi đã làm là phát truyền đơn.
Ông biện-lý còn ít lời hơn bình thường. Tù nhơn đã thú nhận, tức là chúng nó có
tội.
Ông luật sư thì hùng-biện hơn bình thường. Ông nêu lên tuổi trẻ của can phạm, và
ảnh hưởng không tốt của những cuộc gặp gỡ trong tù, [..] Khi luật sư dứt lới thì
ông tòa đứng dậy và mọi người đứng theo [..]. 15 phút sau tòa tái hợp. Các can
phạm bị kết án 5 năm khổ sai, còn Trần (Duy Gian) thì bị 7 năm. Tất cả tù nhơn
bị xích và dẫn đi.
-
Kế tiếp. Đại-tá Rougier hét lên có vẻ sốt ruột.
Ông luật sư nói nhõ với tôi, có vẽ hoàn tòan vừa ý “ đó là những hình phạt còn
nhẹ, trong 93 ca trước có 4 án tử-hình, 69 án từ 10 đến 13 năm khổ sai hay là
tù.”
(
theo Sách của H. Isaacs, đã nhắc, op.cit. tr.137-140).
Còn nhà văn Hertrich thì viết một cách chua chát: “ Rồi đây sẽ đến những công
chức thực thụ, là bọn tự-đắc, bọn tham lam, bọn bất tài, . Rồi đây sẽ đến nhiều
lính khác. Và cuộc giết chóc sẽ tiếp diễn phía bên này cũng như phía bên kia.
Chiến tranh tái chiếm (thuộc địa) đã bắt đầu.
Ngày Thứ Hai 15, nhiều chi đội mới của sư đòan thiết giáp của Tướng Leclerc được
đổ bộ. Những cuộc diễn hành của xe thiết giáp và xe có gắn liên thanh được tổ
chức đi trên đường Catinat dưới sự hoan hô nồng nhiệt của dân chúng Pháp. Đến
chiều, một tóan thiết giáp đi về phía ChợLớn. Đường xá vắng hoe. Thỉnh thoảng có
tiếng súng dài theo Kinh Xáng (Arroyo chinois).
Ngày 17, đụng độ dữ dội giữa quân kháng chiến giữ cầu Thị Nghè và thủy-quân-lục-
chiến với lính Pháp muốn chiếm lấy cầu ấy.
Ngày 21, trong lúc mà lính Anh-Ấn Gurkhas lục soát khu Phú Thọ, thì quân Bình
Xuyên làm sập được các cột trụ của đài Vô-Tuyến TSF rồi rút về phía Nam và
Đồng Tháp Mười.
Cuộc tái chiếm thuộc địa tiếp tục quy mô hơn: ngày 23 và 25, những trục giao
thông Thủ dầu một—Biên hòa--Saigon, làm cái tam-giác được gọi là “khu căn-bản”
(zône clé) được lính Anh-Ấn giải tỏa ; nhưng kháng chiến quân vẫn còn tồn tại
trong những vùng rậm rạp.
Ngày 25, xe thiết giáp phóng xuống MỹTho là nơi trú ẩn của Ủy Ban Hành Chánh
Nam Bộ :
Nhà văn Hertrich viết: “ Đoàn xe thiết giáp tiến tới chậm chạp. Chỉ có một cái
cầu đã bị sập, nhưng đường bị cắt bởi nhiều cái hố chống thiết giáp[..] Ở chổ
khác thì cây bị đốn được chất đầy đường.[..] Không có một tiếng súng. Nhưng trái
lại, vào buổi chiều, hai chiếc xe jeep đi bắt theo chúng tôi [..] bị hỏa lực của
một súng liên thanh. Thượng sĩ lái xe bị chết vì một viên đạn trúng ngay tim.
Đại-tá Mirambeau và Tướng Salan thì đầy máu. [..] Chúng tôi đi qua những làng
vắng hoe, vì dân đã chạy trốn hết từ vài giờ trước, bởi Việt Minh tuyên truyền
rằng người Pháp sẽ giết sạch hết [..]
Vào buổi chiều ngày thứ nhứt thì chúng tôi tới Tân An.[..] Thành phố không có
người, bị bỏ hoang.[..] Cờ Việt Minh còn bay phất phới.[..] Từ Tân An tới MỹTho
chúng tôi còn 30 km nữa. Chúng tôi khởi hành hồi 7 giờ sáng, mà cho tới 9 giờ
tối mới tới nơi, vì những chướng ngại vật càng ngày càng nhiều.
(Theo sách của J.M.Hertrich tr.165-166).
Xe
cam-nhông của Sở Mật Thám, có tiếng ác ôn, chạy theo đoàn thiết giáp.
Ủy
Ban Hành Chánh Nam Bộ, mà trong đó chỉ còn có bọn Cộng Sản Đệ Tam, chạy thoát về
Cái Bè rồi về Bến-Tre. Mỹ Tho bị chiếm một cách dể dàng.
Philippe Devillers, tùy-viên báo chí trong ban tham-mưu của Tướng Leclerc, kể
chuyện nối tiếp như sau: ngày 28 đến phiên GòCông bị chiếm, ngày 29 là
VĩnhLong, và ngày 30 là CầnThơ. Con đường lúa gạo được mở ra.
Việc tái chiếm những trục giao thông và những trung tâm về phía Bắc sắp bắt đầu.
Thiết giáp đi về phía Tây Ninh, là Mecca của người Cao đài. Kháng chiến quân
Cao Đài mà mới đây có tham gia vào việc bao vây Saigon, rút sâu vào rừng
rậm của tỉnh TâyNinh. Họ phục kích, quấy rối đòan xe của Pháp, đánh trận hẳn
hoi. Đến ngày 8 th.11 họ mới buông súng.
Quân tiếp viện Pháp đến liên tiếp bằng đường biển, và cuộc tái chiếm lan ra
ngoài Nam-Kỳ, đến Ban Mê Thuốt, đến Lào, và Nhatrang ở Miền Trung.
Đến tháng Giêng 1946 các tỉnh lỵ miền Tây như Sa Đéc, (ở đó có tàn quân của Đoàn
Quân Thợ Thuyền GòVấp tham chiến) Long Xuyên, Châu Đốc, HàTiên, RạchGiá không
còn kháng cự nổi. Cuộc tái chiếm tiến đến Mũi Cà mau ngày 5 tháng 2- 1946.
Tướng Gracey rời Saigon ngày 28 th.1-1946, và nhiệm vụ của quân Gurkhas của Ông
chấm dứt ngày 5 tháng 3.
Quân của Việt Minh được phân tán và giảm bớt. Bọn C.S. Đệ Tam, vì muốn
độc quyền làm chủ, đã giết, lúc nào họ làm được, những nhà lãnh đạo quốc gia và
trốtkít, không cần biết tới việc làm của họ đã làm giảm sức của kháng chiến.
4 -
Les crimes staliniens en Cochinchine(
(Những tội ác của bọn Cộng Sản Đệ Tam ở Nam Kỳ.)
(tr.358- 359).
Xin nhắc lại là ngày 9 tháng 9 , Trần văn Giàu đã toan bắt Đức Thầy của Hòa
Hảo là Ông Huỳnh phú Sổ, lúc ấy là thành phần của Ủy Ban Nhơn Dân Nambộ;
ngày 14, thì Dương bạch Mai bỏ tù Ông trốtkít Lữ sanh Hanh với lối 30 ủy-viên
của các Ủy Ban Nhơn Dân đang hợp với ông ấy ở Tân Định; nhắc lại là Trần văn
Giàu lúc chạy ra Chợ Đệm với chánh phủ của ông ngày 22 tháng 9, sau khi phục
rượu cho tên Hai Râu sai mèm thì sai tên này giết Bùi quang Chiêu với Dương văn
Giáo trong nhóm “Lập Hiến” và cựu trốtkít Huỳnh văn Phương.
Cuối tháng 9, các nhà lảnh đạo của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt (FNU) rút về khu
Lò Gốm trong ChợLớn, có hợp lại với nhau để thảo luận thì một thiểu số (Hồ văn
Ngà, Nguyễn văn Sâm, Trần văn Ân, Lâm ngọc Đường, v.v.) chủ trương “đi chung mà
đánh riêng” với bọn C.S.Đệ Tam, còn đa số, (Kha vạng Cân, v.v.) thì chủ trương
sát nhập về quân sự với Việt Minh .Trần quang Vinh, mà vừa trước khi có
cuộc bao vây Saigon, đã không chấp nhận việc sát nhập ấy, nên đã trao quyền chỉ
huy của Ông cho Nguyễn văn Thành để cho ông này đem quân (Cao Đài) đi với bọn
C.S.Đệ Tam (theo Trần văn Ân).
Hồ
văn Ngà vào tháng 10 sẽ bị Nguyễn văn Trấn trong Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bắt, rồi
tới phiên Trần quang Vinh; nhưng ông này thoát được, sau 3 tháng ngồi trong tù
của Việt Minh với Hồ văn Ngà.
[NLV.:
Còn Hồ văn Ngà thì sau đó bị giết chết, (cùng với Nguyễn văn Sâm), ở dưới Khu
IX (CàMau.) khi quân Việt Minh bị dồn xuống đó trước khi được tập kết ra Bắc.]
Bây giờ trở lại với bọn trốtkít, mục tiêu chính của bọn xíttalinít.
Đêm 23 th.9 ở Đakao (Saigon), bọn giết mướn (sicaires) củ Dương Bạch Mai, đã ám
sát Thơ Ký của Ủy Ban Saigon-Chợlớn của La Lutte là Lê Văn Vững, trước nhà của
ông khi ông đi làm việc về. Vài ngày sau cô giáo Nguyễn thị Lợi – là người đã
cùng với ông Vững làm “sống lại” tờ báo La Lutte sau khi Nhựt đầu hàng- bị hạ
sát ở Cần Giuộc (ChợLớn).
Tháng 10 sẽ thấy trong khấp Nam Kỳ cực-điểm của tội-ác của bọn xíttalin- trong
sự ồn-ào và sự cuồng bạo- không những do bọn giết mướn của Dương Bạch Mai trong
các tỉnh Miền Đông, mà còn do bọn của Nguyễn văn Tây ở Miền Tây nữa. Ở Thủ Dầu
Một, BiênHòa, TâyNinh, cũng như ở MỹTho, Tân An, Cần Thơ, những trốtkít và cãm
tình viên đều bị tiêu diệt.
Ngay khi cuộc tấn công của quân Ấn Gurkhas vào ChợLớn bắt đầu vào ngày 12 tháng
10, Ủy Ban Nam Bộ đã rút về MỹTho và ở đó họ đã bắt đầu cuộc “thanh-trừng” có
hệ-thống.
Luật-sư Hình Thái Thông mà chúng ta đã thấy hoạt động để hồi-sinh báo La Lutte
hồi tháng 8, bị Tự-Vệ-Cuộc của Việt Minh bất ngờ bắt trong lúc ông đang chủ tọa
một buổi hợp của những đại-biểu của các ủy-ban hành động của các làng và tổng kế
cận. Ông bị bắt cùng với những đại-biểu và bị ám-sát. Đến năm 1951 người ta mới
tìm thấy ở Quơn Long (ChợGạo Mỹ Tho) xác của ông trong một mộ-địa cùng với thây
của cả trăm người đã bị tra tấn.
5 -
Il
faut abattre immédiatement la bande des trotskistes.
(Phải
tiêu diệt ngay bọn trốtkít.) (tr.359-361)
Đó
là lời kêu gọi ngày 23 tháng 9-1945, trong báo Cờ Giải Phóng, cơ quan
chính thức của Ủy Ban Trung Ương, lời kêu gọi ám sát được chứng ninh như sau:
Ở
Nam Bộ chúng nó (bọn trốtkít) đòi vừa sự võ-trang quần chúng là việc làm
kinh-hãi sứ-mạng của người Anh (épouvante la mission anglaise), vừa thực hiện
nguyên vẹn cuộc cách mạng tư-sãn dân chủ
(
révolution bourgeoise-démocratique) trong muc-đích chia rẽ mặt Trận quốc-gia (
nghĩa là Việt Minh) và làm cho địa-chủ chống đối cách mạng.
Trần văn Thạch, Phan văn Hùm, Phan văn Chánh, Ưng Hòa, Lê văn Thu, Nguyễn văn
Sổ, đã tụ hợp được ở Xuân Trường (ThủĐức) một nhóm người sẵn sàng chiến đấu.
Dương Bạch Mai bắt Thạch, Chánh và Sổ Những người này bị bắn ở Kiến An (Bến
Súc,ThủDầu Một) khi tỉnh này bị quân Ấn Gurkhas tấn công, cùng với lối ba chục
người bị giam khác trong đó có Nguyễn văn Tiến, cựu quản-lý báo La Lutte mới
được ở PouloCondor thả về và anh Ngôn, thợ của Arsenal.
Phan văn Hùm cũng bị giết chết một cách lạnh lùng hồi tháng 10-1945, với nhiều
tù-nhơn chánh trị khác, và cũng ở Biên Hòa Dương bạch Mai đem bắn Lê thành Long,
trưởng đoàn ThanhNiên TiềnPhong của Cap Saint-Jacques, cựu biên-tâp-viên của báo
La L:utte, và anh Vàng, một thành-viên khác của nhóm La Lutte ở Biên Hòa.
Lịch-sử chính thức của Hà Nội (sách Cách Mạng Tháng Tám. Quyển III, tr.319)
có đề cập tới việc bắt các người trách nhiệm của báo La Lutte với ba cái
sai lầm là: 1)- họ không có “trốn” mà rút về Xuân Trường chớ không phải Dĩ An,
trong cuộc đánh nhau với bọn thực-dân; 2)- trong thời Hưu-Chíến họ không phải
xuất bản báo Độc Lập (“Indépendance”) mà báo
Kháng Chiến (Résistance); và 3)-không nói gì tới việc họ bị ám sát.
Bị
đe dọa sẽ bị tiêu-diệt bởi những đám có võ trang của Việt Minh , nên Đoàn
Thợ Thuyền của GòVấp phải rút về ĐồngTháp Mười và nhờ có “Đệ Tam Sư-Đoàn” của
Nguyễn Hòa Hiệp mà không bị tiêu diệt. Trong lúc rút quân đó, Đoàn đã mất trong
những trận chiến với quân Pháp lối hai mươi người, trong đó có Chị Quý , nử
y-tá, các anh Đồng, Thiện, Trần văn Thanh, Nguyễn văn Hương, Trần quốc Kiểu, và
sáu đồng-chí đến từ các đồn-điền ở TâyNinh.
Nguyễn văn Linh, Lê Ngọc, Nguyễn văn Nam và Ngô văn Xuyết, hợp nhau ở nhà anh
này ở Tân Lộ, lối 4 km phía Đông Thủ Đức, thảo một bản văn chánh-trị, giải
thích lập trường chiến đấu của Liên-Minh (La Ligue) và của Đoàn Thợ Thuyền
(Milice Ouvrière). Nếu bọn chó săn của Dương bạch Mai đến bắt họ thì họ sẽ tự vệ
bằng võ khí. Bản văn viết xong, họ theo Đoàn rút về ĐồngThápMười, là con đường
rút lui của những kẻ bị gọi là “phiến-lọan” trong thế-kỷ trước, nơi mà xe
thiết-giáp của Pháp không đến được, và là nơi mà sau cuộc khởi nghĩa năm 1940,
một số không nhỏ người nhà quê đã không giấu-giếm theo đạo CaoĐài hay là
theo đạo của Phật Thầy Hòa Hảo để thoát khỏi sự khủng bố vì nghi là cộng
sản. Ở đó nghèo vô cùng, nhưng chúng tôi được đón tiếp với nhiều thiện cãm.
Trong lúc mà chúng tôi tiến về vùng bùn lầy vô tận này thì phi-cơ Pháp rượt theo
và bắn vào chúng tôi.
Đựơc giao cho nhiệm vụ tìm một máy thu thanh radio, Xuyết bị bắt trên sông Vàm
Cổ trong tỉnhTânAn mà thầy giáo Trọng được Việt Minh cho làm tỉnh trưởng.
Ông bị giam cùng với lối ba chục người “bị tình nghi” khác ở trong đình làng Mỹ
Phước, Ông được chứng kiến vụ hành-quyết không phán-xử của ba người công giáo đã
chạy trốn ra khỏi TânAn sau khi thành phố này bị quân Pháp chiếm, còn người
làng thị “được mời” vổ tay hoan nghinh vụ hành quyết này. Ông cũng được nghe
tiếng la hét kêu vang từ bên phòng kế cận của một gia-đình ngừơi nhà quê bị đánh
đập vì bị nghi là đi do-thám chỉ vì họ đi vô vườn gần đó lấy khoai lang.
Ông Xuyết lượm được một mảnh giấy và viết trên đó vài hàng chữ nói về dĩ-vãng
của ông và mục đích của sự tranh đấu hiện tại của ông, để nếu dời sống của ông
mà bị chấm dứt nơi đây, thì may ra có người đọc được và suy nghĩ.
(
NLV. bàn thêm: Phải chăng Ông Ngô Văn, tác giả của sách, đúng là Ông Ngô văn
Xuyết đựơc kể trong chuyện ở đây? Vì chỉ có như vậy người viết mới biết được
những ý nghĩ thầm kín của người trong chuyện, là một chuyện có thật được thụât
lại chớ không phải là một chuyện bịa đặt của tiểu thuyết.)
Được chuyển qua một nhà thờ lợp lá trong làng Song Xoài, cũng biến thành một
trại giam, thì ông Xuyết gặp lại được một số bạn cũ trong nhóm La Lutte trong đó
có nhà trắc-địa (géomètre) Thu ở MỹTho, là người đã giúp chia ruộng đất cho dân
quê. Cai ngục là một cựu “tù nhơn yêu quý” mới ở Côn Đảo về. May thay, Đệ Tam
Sư-Đòan của Nguyễn Hòa Hiệp đi ngang qua đây nên giải thoát được hết tù nhơn.
Trong khi mà Trần đình Minh bị chết ngày 13 tháng 1-1946 trong lúc đánh với đoàn
viễn-chinh Pháp ở Mỹ Lợi (SaĐéc) thì Việt Minh ám sát các công-nhân Lê
Ngọc, Lê Kỹ, và Lê văn Hương trong Đoàn Thợ Thuyền (Milice Ouvrière) của Hóc Môn
vì tội…“việt-gian”.
Như vậy thì từ cuối tháng 9-1945 đến tháng giêng 1946, vì những đòn liên-hợp của
thực-dân và bọn xít-talin Đệ Tam, nhóm người cách mạng quốc tế (trốtkít) bị lôi
cuốn trong cuộc gió lốc của cuộc chiến giành độc lập, dần dần bị tiêu diệt.
Khi Bảy Viễn biết được những vụ ám-sát Tạ Thu Thâu, Huỳnh văn Phương, bà Bác-sĩ
Hồ vĩnh Ký và chồng bà, với bao nhiêu người khác và cũng tự thấy mình bị đe dọa
thì ông dứt với Trần văn Giàu và treo giá đầu của y, nhưng Trần văn Giàu đã bị
gọi về Bắc hồi tháng 10, ngoài tầm tay.
6
- La “pacification” (Cuộc “bình định”)
(tr. 361-364).
Năm 1930 danh từ “Khủng bố trắng” đã được thông dụng. Cuối 1945 và đầu
1946 hai danh từ báo động được phát sanh ra trong các làng xã là: “Tây tới”
và “Tây đi bố”
(NLV thêm một danh-từ:” Coi chừng Bố-Ráp”
( là khủng bố và rafle=arrestation en masse faite à l’ improviste) . Bởi
vì đâu đâu ở nhà quê, những cuộc chinh phạt của Pháp cũng được tái diễn.
Một buổi tảng sáng sớm tháng giêng 1946, làng Tăng Phú ở sau lủy tre xanh cách
Thủ Đức 4 km về phía đông, bị đánh thức vì tiếng nổ rùng rợn của róc-kết, làm
tróc gốc các các bụi tre, nổ tung các bụi dứa, thì dân làng chạy đi trốn hay là
chạy đi núp, ví những tiếng đó báo hiệu sẽ có bố-ráp.
Rồi thì có hành động hung bạo của lính (soldatesque). Nhà lá nhà ngói gì cũng
đều bị lụt soát tới cùng, tủ nào cũng bị đập bể tung, đền thần của làng cũng
không được tha. Đàn bà, con nít, ông bà già bị dẩn ra bên lộ. Thanh niên bị bắt
dẩn tới cầu sắt, bắn chết tại chổ, rồi đạp xuống sông. Đến đêm một người thoát
chết trở lại ruộng dưa để lấy xác chết của em nó bị ném ở đó, thì bị tan xác vì
một trái lựu đạn gài ở dưới cái thây. Một người nhà quê không ngừng cuốc đất, bị
bắn chết thẳng đích (à bout portant); một người khác trong lúc chạy trốn bị bắn
xuyên đầu gối; nhiều ngừời khác trốn trong ruộng hay trong rừng bị bắt đem đến
đồn lính ở đài vô-tuyến TSF của Chợ Nhỏ ở đầu làng., nhốt trong một cái hầm
thiếu hơi thở và không ánh sáng, rồi một số bị bắn chết vì tình nghi. Ở Gò Dưa,
cách Thủ Đức 4 km về phía tây, vài cái đầu bị chặt được treo trên hàng rào của
đồn lính đối diện với chợ.
Bà
Jeanne Cuisinier, trong phái-đòan thổ-tục-học (mission ethnographique) của Bộ
Quốc Gia Giáo-Dục dẫn chứng cho sự dã-man của cuộc bình-định :
Bọn kháng chiến thường hoạt động nhiều cây số ( ít nữa 15 hay 20 km) xa làng của
họ, nhưng lính (Pháp) trả đủa vào làng gần nhứt chổ họ bị đánh, bằng cách hoặc
đốt hết làng, hoặc đốt một phần làng, hoặc bắt một số người, hoặc “quét sạch”
hết tất cả, nhà cửa và người. Ở Saigon tôi được nghe một thiếu-úy Lê Dương
(Légion étrangère) kể chuyện lại cho hai người bạn của ông cuộc tấn công ở Hóc
Môn, và kết thúc câu chuyện như sau:
“
Chúng ta có mất mát, nhưng chúng ta cũng trả đủa được và gây thiệt hại . Trong 6
km bề sâu, không còn gì hết, từ vịt đến trâu, từ đàn-bà đến trẻ con, chúng ta đã
quét sạch hết”(nguyên văn).
Bà kể lại “thành tích” của quân đội (Pháp) trong những tháng 8, 9,và 10 năm
1946:
Một y-sĩ Việt nam ở MỹTho cho tôi biết những việc sau đây: Trên đường từ MỹTho
qua BếnTre, ván lót của một cây cầu bị quân kháng chiến gở hết. Quân Pháp đến
đốt hết 20 cái nhà.
Một đòan xe nhà binh Pháp bị tấn công ở Cai Lậy, cách MỹTho 30 km-120 cái nhà bị
phá hủy (tháng 8-1946);
Ở
BếnTre một sĩ quan Pháp bị giết, 80 người bị bắt, trong số đó 5 người bị bắn
chết (tháng 9-1946);
Ở
Chí Hòa cái đồn bót bị quân kháng chiến tấn công, nhưng sau khi chúng nó bị đánh
lui, quân lính lại giết gần hai mươi người Việtnam và Tàu.
Bà
tả như là công việc thường xuyên hằng ngày, những vụ lạm-dụng và cướp bóc, những
vụ bắt bớ vô cớ và hành-quyết không xét xử :
Trong những đêm 13, 14, và 15 tháng 10, những vụ cướp bóc đặc biệt “có lợi”
(fructueux) ở Hóc Môn, Bà Điểm, và GòVấp, cho lính thực-dân (soldats de la
coloniale) […]
Những người bị Sở Mật Thám (la Sureté)[…] bắt thừơng được thả ra sau khi trả một
số tiền lớn. Nhưng việc bắt tù-nhơn chuộc tiền không phải là đặc-điểm riêng của
Sở Mật Thám. Ngừơi ta còn cho tên những công chức và số tiện họ thu được trong
vài tháng hay vài ngày. […]
Ở
MỹTho người quản-lý chợ là Ông Razzanti nói là vì trước kia nhà của ông bị
Nhựt-bổn cướp phá, nên bây giờ ông lấy bất cứ cái gì ông thích, bất cứ ở đâu, để
bù lại sự mất mát mà ông đã phải chịu . Người ta thấy ông xách ra khỏi nhà hai
bác sĩ Tươi và Cẩm ba va-li đầy đồ quý giá và hai cặp ngà voi.
Ở
Cai Lậy, ông chủ quận là ông Bé, trao cho một người bạn ở MỷTho một số tiền 12
000 đồng bạc sau hai tháng tại chức.
Ở
Ô Môn, ông chủ đồn bót là ông Retrosky đem về cho vợ ở CầnThơ 30.000 đồng bạc
sau có mười ngày nhậm chức.
Ở
CáiBè (tỉnh MỹTho) lối sáu chục điền-chủ bị bắt và được thả sau khi đóng từ
5.000 tới 10.000 đồng bạc. Trong số có hai anh em ông Liêm đã trả 15.000 đồng
thì cả hai được thả. Còn thầy giáo Mẫn không có số tiền đòi chuộc thì bị hành
quyết.
Ở
An Hóa (MỹTho) hai người Tàu bị nhà chứ-trách quân sự bắt, bang Hoa-kiều phản
đối với viên sĩ quan xin ông thả cho hai người đó. Khi nhận được thơ phản đối
thì viên sĩ-quan đem hai người ấy ra bắn, bắt cả gia-đình của họ và nói: “ Nếu
còn đứa nào phản đối nữa thì tao sẽ đem bắn hết. Tụi bây có thể báo cáo với
thằng c…chánh chủ tỉnh (informer ton c…administrateur)” .
Ông Nhường, thơ ký của chánh chủ tỉnh, kết luận: “Đây là cuộc thất bại thứ bảy
trong một tháng[…] Ở chỗ tôi trên Sa Đéc cũng vậy; ở chỗ anh họ tôi trên
VĩnhLong cũng vậy. Ở đâu đâu cũng là tâm-lý đó. (tháng 9-1946).
Cũng ở AnHóa một thầy giáo bị bắt, xét trong người có một tờ báo lậu. Trường hợp
của ông đáng lẽ phải được sĩ-quan ở Rạch Miểu (MỹTho) cứu xét, nhưng ông thanh
tra tiểu-học can thiệp và gởi cho viên sĩ-quan một cái thơ giải thích gì đó. Khi
nhận được thơ, viên sĩ-quan liền đem thầy giáo ra bắn (tháng 9-1946).
Ngày 19 tháng 9-1946, vào buổi chiều, một số lính lê-dương (légionnaires) của
quận Mõ Cày (tỉnh Bến Tre) xong vào nhà của một ông đồ 80 tuổi là Ông Dương Văn,
đánh đặp ông và bắt con gái của ông là cô Dương thị Long (30 tuổi, còn độc thân)
với một thanh niên khác ở đó […]. Họ lôi hai người ấy đến bót Mõ Cày hỏi cung và
tra tấn chúng trong hai ngày liền. Cô Lợi mới biết là mình bị buộc tội có người
em chồng đi trong bưng và mình “tuyên truyền cách mạng” cho lính lê-dương.[…].
Cô Lợi và người bạn của cô bị lôi ra gần bờ sông.[…]. Cô cởi sợi dây chuyền có
một mề-đay trang sức (un médaillon) cô đang đeo trên cổ, đưa cho tên lính và
nói: “ Hãy giữ cái nầy làm kỷ-niệm để nhớ tới một người con gái đã chết vì yêu
nước mình.” Hai cái thây được bày trên bờ sông cho tới ngày hôm sau thì bị đạp
xuống sông. (tài
liệu:
CEMTRI, Paris, Fonds G.Bloch).
Như vậy một cái chết bất ngờ đến cho làng mạc, những cuộc chinh phạt thường tái
diển ở cùng một nơi; sự ghê-tởm và sự kinh-hãi đẩy thanh niên chạy trốn ra bưng.
(le dégôut et la peur poussent les jeunes à s’enfuir dans le maquis.)
NLV. tháng 7-2005.