G̉
CÔNG,
NƠI
PHÁT TÍCH CÁC D̉NG HỌ QUƯ TỘC
Nguyễn Phú Long
G̣
Công là nơi phát sinh các ḍng
họ Phạm, họ Nguyễn, đều là ngoại thích
các triều vua cận đại.
Theo
thuyết phong thủy, địa lư xưa, ông bà chúng ta
rất quan tâm đến cuộc đất an táng mồ
mả của tổ tiên. Chính cuộc đất ấy là
đă quyết định vận mạng của ḍng
họ, cải đổi từ cuộc sống lam lũ
trở lên hàng công hầu, khanh tướng. Nếu ở
miền Bắc có Bắc Ninh, Thiên Trường là nơi
phát sinh các vua nhà Lư (1010- 1225), nhà Trần (1225-1400), miền
Trung có Tống Sơn, Thanh Hoá là đất quư hương
của các vua nhà Nguyễn, th́ G̣ Công ở Nam Kỳ cũng
là nơi khởi nghiệp các ḍng quư tộc, ngoại thích
các vua thời cận đại.
Vào
năm 1834, bắt chước cách tổ chức hành chánh
của nhà Thanh, vua Minh Mạng cho đổi tên “trấn”
thành “tỉnh”, rồi lập thêm tỉnh mới An Giang,
như vậy Nam Kỳ lục tỉnh ra đời từ
lúc đó Huyện Tân Hoá gồm phần đất thuộc
tỉnh G̣ Công hiện nay, mặc dầu nằm sát nách
Định Tường, nhưng được sáp
nhập vào tỉnh Gia Định do t́nh cảm và ư muốn
của vua Thiệu Trị. Khi kư hàng ước 1862, cắt
phân nửa Nam Kỳ nhường cho Pháp, trong đó có G̣
Công, vua Tự Đức buồn rầu mất ăn
mất ngủ mấy tháng liền. V́ thế chúng ta không
lấy làm lạ khi triều đ́nh bất chấp mọi
tốn kém, gửi sứ giả (Phan Thanh Giản) qua Pháp
điều đ́nh xin chuộc lại. Năm năm sau,
Pháp xua quân chiếm 3 tỉnh miền Tây c̣n lại. Bất
chấp mọi tư cách pháp lư, Pháp tự ư chia Nam Kỳ
thành những đơn vị hành chánh nhỏ (lúc đó
gọi là sở tham biện) để cho dễ kiểm
soát.
Về
sau, Pháp đổi “Sở tham biện” thành “hạt” rồi
“tỉnh”. Ba tỉnh Tân An, G̣ Công, Mỹ Tho là do tỉnh
Định Tường cũ tách ra. Ngay khi mới
chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, G̣ Công, nhờ
vị trí hiểm yếu, nhiều sông rạch chằng
chịt, giao thông trắc trở, lại thêm rừng
rậm hoang vu đă trở thành những cứ điểm
kháng chiến cho các lănh tụ Trương Công Định,
Thủ Khoa Huân, tri huyện Đỗ Tŕnh Thoại...
Với
non 30 km
bờ biển, nép ḿnh trên biển Đông Hải, tỉnh
G̣ Công nằm lọt trong lưu vực sông Vàm Cỏ, phía
Bắc giáp tỉnh Chợ Lớn (huỷ bỏ sau năm
1945) trù phú và tỉnh Tân An lặng lẽ, phía Nam dựa vào
tỉnh Mỹ Tho. Hai sông Cửa Tiểu, Cửa
Đại (Tiền Giang) làm ranh giới thiên nhiên giữa G̣
Công với Bến Tre, tỉnh G̣ Công chiếm một
diện tích khiêm nhường khoảng 600 km2. Hai sông Vàm
Cỏ Đông (c̣n gọi là sông Bến Lức) và Vàm Cỏ
Tây (c̣n gọi là Tân An hay Vũng Gù) phát nguyên từ biên
giới Miên Việt, chạy qua Đồng Tháp Mười
śnh lầy, đun lát ngập phèn, nên ḍng nước trong
xanh nh́n thấy dưới đáy. Tới vị trí Bần
Quỳ (cây bần ngả có vị thế như
người đang quỳ gối) thuộc quận Cân
Đước, tỉnh Vĩnh Long, th́ cả hai sông
hợp lại chảy qua địa phận G̣ Công, Vàm Láng,
đổ ra cửa Soài Rạp. “Soài Rạp”, sử cũ
gọi “Lôi Lạp” là đất trước đây thuộc
vương quốc Phù Nam (thế kỷ thứ 1
đến thứ 6 sau Tây Lịch), rồi sáp nhập vào
Thuỷ Chân Lạp, tiền thân của Cao Miên ngày nay.
Tâm Bôn là đất Long An ngày nay. Chỗ hợp
lưu hai sông: Bần Quỳ, c̣n nhắc lại sự tích
ông Mai Bá Hương làm chức Xà-sai-ty dưới thời
các Chúa Nguyễn ở Nam Hà, trên đường vận lương
tiếp viện (1705), khi biết thuyền lương
sắp rơi vào tay giặc, bèn ra lịnh đục
thủng thuyền và chết theo thuyền. Để
kỷ niệm và lưu truyền cái chết của trung
nghĩa ấy, dân chúng gọi chỗ này là “sông Xá
Hương”. Theo các thương nhân đi ghe thương
hồ xuôi ngược Sài g̣n về miền Tây và
ngược lại, mỗi lần qua miễu Bần
Quỳ, thường hay bị cướp chặn
đường. Một nữ tướng cướp
nổi danh hồi nửa thế kỷ trước đây
c̣n gọi “Bà Nở” nghe đâu là con gái ông Quản Xô, cựu
nghĩa binh thất trận về hùng cứ nơi đây.
Hai bên bờ sông Vàm Cỏ từng in dấu vết chân
của nghĩa quân Trương Công Định, Thủ Khoa
Huân qua lại nhiều lần. Những địa danh
như Trường B́nh, Vàm Bao ngược, đám lá
tối trời, đồn Kiểng Phước...
đều nhắc lại những sự kiện lịch
sử, những chiến công của nghĩa quân kháng Pháp
hồi cuối thế kỷ 19:
Trên
trại đồn điền hoa khóc chủ,
Dưới
Vàm Bao ngược sóng kêu oan!
(Nguyễn
Đ́nh Chiều)
Dơi theo
bước Nam tiến, ông bà ta tới vùng đất
mới thường chọn những giồng đất
cao lập nghiệp: G̣ Sơn quy, G̣ Khổng tước G̣
Tre, G̣ Cát, giồng ông Huê, giồng Tháp, giồng ông Nâu...
Cuối thế kỷ 19, G̣ Công c̣n hoang vu, nhiều lùm
bụi, chưa khai phá. Dọc theo bờ biển từ Vàm
Láng xuống Tân Thành, Cửa Tiểu, là những rừng cây
ngập mặn như đước, vẹt, xú, lá dừa
đầy đặc, che khuất, kín đáo. V́ lẽ
đó, các cuộc khỏi nghĩa chống Pháp của các
sĩ phu miền Đông, sau khi thất bại đều
rút về G̣ Công để củng cố binh lực.
Khi
những đợt di dân đầu tiên từ miền ngoài
tới đây hồi cuối thế kỷ 17 t́m nơi cao
ráo, nơi sông sâu nước chảy dựng nhà, phá
rừng làm rẫy, làm ruộng. Địa danh “G̣ Công” c̣n
nhắc lại sự tích, một địa thế thiên
nhiên “G̣ đất cao ráo, có nhiều chim công làm ổ, sanh
sôi nẩy nở từ thế hệ này qua thế hệ
khác”. thuở đó, G̣ Công chưa có đường bộ.
Mọi việc giao thông, chuyên chở, đi lại
đều dùng thuyền, tam bản, xuồng ba lá và ghe chài.
Sông Tra, nối liền với sông Vàm Cỏ, là thuỷ
lộ quan trọng giúp người G̣ Công qua lại Tân An,
Thủ Thừa, Mỹ Tho, lên Chợ Lớn, Sài g̣n...
Vua
Tự Đức (1848-83) cho đắp “con đường
sứ” nối từ Gia Định xuống giồng
Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại.
Người lớn tuổi ở đây thường nói
rằng “nghe ông bà kể lại hồi đắp con
đường này, bắt dân chúng phục dịch lao
khổ để phá rừng, đào mương đáp
lộ, bắc cầu trong hoàn cảnh đất đai
hoang vu đầy muỗi ṃng, rắn rít, thú dữ và
sơn lam chướng khí, nên bị bịnh và chết
rất nhiều”. Giữa thế kỷ 20, di tích “con
đường sứ”, vẫn c̣n, là con đường
trải đá nối tỉnh lỵ G̣ Công ra bến Bắc
Mỹ Lợi để đi Cần Giuộc, Chợ
Lớn. Nhờ con đường sứ, nhiều công văn,
tin tức liên lạc với quư tộc họ Phạm,
được liên tục. Ngày nay, “con đường
sứ” đă trở thành liên tỉnh lộ 5, nối G̣ Công
với Chợ Lớn, qua phà Mỹ Lợi.
Theo
bản đồ hành chánh Nam Kỳ vào năm 1939, G̣ Công có 5
tổng và 40 làng. Lúc đó, địa danh “quận” chưa
xuất hiện. Nhiều tên tổng và làng c̣n tồn
tại tới ngày nay như Hoà Đồng hạ, Hoà
Đồng trung, Hoà Đông hạ... Tới những
thập niên đầu thế kỷ 20, G̣ Công h́nh thành các
chợ ở đầu mối giao thông đường
thuỷ, có những cửa hàng buôn bán cố định
thay v́ buôn gánh bán bưng và họp chợ phiên như trước
kia ở Trung và Bắc. Chợ tỉnh lỵ G̣ Công, có
từ năm 1897. Về mặt giáo dục, cùng năm
đó, Pháp mở trường tổng tại tỉnh
lỵ và 4 tổng khác trong tỉnh, đặt tại các
làng Tân Niên Tăng, Tăng Hoà, Vĩnh Lợi và Đồng
Sơn.
Đến
năm 1939, G̣ Công bắt đầu phát triển các chợ:
phố xá buôn bán sầm uất. Hàng hoá trao đổi
lưu thông dồi dào. Theo quyển “Cẩm nang thời
sự năm 1939”,
G̣ Công có các chợ sau:
-
Chợ Giồng ông Huê (làng Vĩnh Lợi)
- Chợ
Tổng Châu (Tân Niên Tây)
- Chợ Cửa
Khâu (Tăng Hoà)
- Chợ
Giồng Nâu (Hoà Nghị)
- Chợ Sáu Toàn
(B́nh Luông Đông)
- Chợ Giồng Trộm (Long Thạnh)
- Cho Mỹ Lợi (B́nh Thạnh Đông)
- Chợ Câu Ngang (Thạnh Nhứt)
- Chợ Vàm Láng (Kiểng Phước)
- Chợ Bến Vựa (B́nh An)
- Chợ B́nh Xuân (làng B́nh Xuân)
- Chợ Dinh (làng Đồng Sơn).
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà
(1955-1963), tỉnh G̣ Công sáp nhập vào tỉnh Định
Tường. Năm 1963, G̣ Công tách riêng thành lập
tỉnh cũ như dưới thời Pháp thuộc,
gồm 4 quận, đều bắt đầu bằng
chữ “Hoà” như Hoà Tân, Hoà Lạc, Hoà Đồng, Hoà
B́nh...
Căn cứ theo gia phả
của bà Từ Dụ Thái hậu (1810-1902) th́ tổ tiên
bà từ Quảng Ngăi vào lập nghiệp tại G̣ Công, th́
vùng này hồi đó là śnh lầu, rừng bụi hoang vu,
chạy thẳng ra tới mé biển... Những chỗ
trũng, thấp, nằm giữa các giồng đất
được khai phá thành từng khoảng để làm
ruộng, làm rẫy theo kiểu “tầm ăn lá dâu”.
Hồi trước chỗ nhiều đun, lát, bùn, lầy gọi
là “thảo điền”. Theo ông già bà cả kể lại
rằng vùng này hồi trước nắng khô, nứt
nẻ, nhiều hố sâu. Đến khi mưa xuống,
nước ngấm vào, đất mềm mới cày
bừa làm ruộng được. Mỗi lần cày
ruộng, phải lùa trâu đực, móng chân cao cho khỏi
mắc lầy, nếu không nhiều con trâu bị lún
xuống bùn đi không nổi.
Đọc
lại quyển “Địa bạ tỉnh Định
Tường” viết từ thời Minh Mạng (1820-40) do
ông Nguyễn Đ́nh Đầu dịch và in năm 1994, chúng
tôi thấy phần lớn đất đai ở G̣ Công
(giáp Định Tường) phần lớn do phụ
nữ giữ quyền sở hữu. Điều đó
chứng tỏ hồi xưa vai tṛ người phụ
nữ thực sự nắm quyền sở hữu
ruộng đất, quản trị kinh tế gia đ́nh,
là một nét đặc biệt trong vùng đất mới,
xa kinh đô.
Muốn
h́nh dung lại khung cảnh, sinh hoạt của G̣ Công vào
đầu thế kỷ, chúng tôi phải tham khảo nhiều
nguồn tài liệu khác nhau. Rất may mắn, chúng tôi
nhiều lần được hầu chuyện cùng các
vị cao niên hồi c̣n bên trại tỵ nạn và ngay trên
đất Mỹ thuộc lớp “cổ lai hy”, trong đó
có những người họ Phạm, họ Nguyễn
thuộc hạng danh gia thế tộc tại G̣ Công
nhiều đời. Chúng tôi cũng bày tỏ ḷng biết
ơn ông cựu giáo sư Trần Văn Mạnh đă
tặng quyển “G̣ Công cảnh cũ người xưa”
do tác giả Việt Cúc biên soạn rất quư.
Viết
về G̣ Công, chúng tôi tránh thói quen “lối ṃn để
đi”. Với chủ trương tân kiếm phát kiến
những điều mới lạ, chúng tôi t́m ṭi, ghi chép
những chuyện xưa tích cũ mà chúng tôi có dịp nghe
thấy, cũng những tài liệu rời rạc trong sách
báo cũ mới. Nhờ đó chúng tôi có khá đầy
đủ về “Trận băo năm Th́n (1904)”, chuyện
Cậu Hai Miêng là những biến cố, những
đề lài thời sự hấp dẫn trên dưới
một thế kỷ nay. Dĩ nhiên những tài liệu ghi
chép, hay “những quyển tự điển sống”,
kể lại không có dịp được kiểm
chứng, phán đoán, đánh giá như một người
viết sử. Chúng tôi chỉ làm công việc của
người kể chuyện mua vui cho độc giả mà
thôi.
Cho
tới những năm nửa đầu thế kỷ 20,
G̣ Công vẫn c̣n là một chỗ xa xôi, biệt lập v́
địa thế cách trở, mặc dầu nó chỉ cách
Sài g̣n, Chợ Lớn chừng 50 Km đường chim bay.
Ở miền Nam, ngoài Thủ Đức là quê hương
quư tộc họ Hồ (Bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh
Mạng), th́ G̣ Công được các vua nhà Nguyễn
đặc biệt chiếu cố. Hoàng đế Bảo
Đại là vị vua đầu tiên và duy nhứt vào Nam
nhiều lần, có đến thăm quê vợ G̣ Công vào
năm 1942. Ở đây nhiều ḍng họ dược phong
tước hiệu và đất ruộng theo chính sách
thời phong kiến: cứ mỗi lược (công,
hầu, bá, tử...) đều kèm thêm một sở
đất, ruộng, để ăn lộc và con cháu
thờ phượng. Trong một chỉ dụ trong
Đại Nam Hội Điền có ghi:
“Nay
trẫm theo chỉ xưa, nhớ người có công,
nghĩ đến người có công lớn th́ phải báo
đáp, vậy gia ơn ruộng đất cấp cho
họ làm tự điền, để con cháu đời
đời giữ lấy cày cấy, tế lễ, chi
dụng đèn nhang, làm cho sự ban thưởng
được kéo dài về đời sau, tỏ cái ư
ưu đăi và thương xót công thần”.
Dưới
chế độ nhà Nguyễn, ngoài “con đường
sứ” nối từ Gia Định về G̣ Công, tất
cả mọi sự giao thông khác trong vùng, phải vận
chuyển bằng đường thuỷ, Từ Gia
Định về G̣ Công, các ghe thuyền từ sông Vàm
Cỏ rẽ vào sông Tra, vào rạch Băng đến B́nh
Xuân trước khi tới tỉnh lỵ G̣ Công. Hồi
đó các ghe chở gạo, ghe cá, ghe củi chạy buồm
từ G̣ Công qua vàm Bao Ngược (vượt sông Vàm
Cỏ) để qua Cần Giuộc về Chợ Lớn.
Từ phía Mỹ Tho đi G̣ Công thường phải theo
sông Cửa Tiểu vô vàm Giồng, tới rạch Vểnh
Lợi, tiếp qua rạch G̣ Công. Đường bộ
nối G̣ Công với các tỉnh và Chợ Lớn mới
thành h́nh từ thập niên 1930 đều phải qua
bắc: Bắc Chợ gạo nối G̣ Công với Mỹ
Tho, bắc Mỹ Lợi nối G̣ Công với Cân Giuộc,
Chợ Lớn. Từ bắc Chợ Gạo, xe đ̣
phải chạy tiếp tới Thanh Thuỷ, Thạnh
Nhựt, G̣ Bầu trước khi vào tỉnh lỵ G̣
Công... V́ nằm trệch thuỷ tŕnh về miền Tây và
quốc lộ số 4, tỉnh lỵ G̣ Công chưa bao
giờ phát triển sung túc, sầm uất như Mỹ Tho,
Cần Thơ. Con đường quan trọng nhứt trong
tỉnh lỵ chạy từ Yên Luông Đông xuống
chợ, phải qua một cây cầu bắc ngang con
rạch nhỏ, phía trên lăng mộ của Đại
tướng Trương Công Định. Lâu ngày, con
rạch này cạn dần phải lấp đi, để
mở rộng châu thành, và từ đó chỗ này gọi là
“đường kinh lấp”, nay là đường Phạm
Đăng Hưng. Sách “Cảnh cũ người xưa”,
tác giả Việt Cúc là người cố cựu
đất G̣ Công kể lại:
“Như
đường Sơn Quy vào chơ, phải qua cái cầu
ngang, nằm phía dưới nhà Bà Phước sau này gọi
Cầu Phủ. Bên chợ đi qua bên vựa cây lá, củi
rào, đến đồn trân cũ, phải qua cái cầu
ngang khác, nằm gần trường Nam Tiểu Học bây
giờ, gọi là Cầu Quan. xóm Ngă Tư, từ phía
dưới lộ me lên chợ, phải qua Cầu
Huyện. B́nh Công đi qua chợ, có cầu dọc ở
phía trên gọi là cầu Lông Chiên (sau gọi là Long Chánh). Bên
chợ th́ cạn, nhiều bùn lầy, chạy từ
cầu Long Chánh đến Cầu Phủ, gần cầu
mới Tân Ban Nha. Những thuyền, tam bản từ các
nơi về đậu ở bên chợ dỡ hàng lên bán
như. gạo, củi, cây lá, tre, dừa chuối, khoai
bắp, cùng súc vật gà heo... Thỉnh thoảng có một
ít ghe thuyền từ Cần Giuộc hoặc Định
Tường đến mua gạo, gà heo... chở đi bán
các nơi khác...”. (Sách đă dẫn, trang 5).
Kinh
Chợ Gạo, làm ranh giới cho hai tỉnh G̣ Công, Mỹ
Tho là đường thuỷ chiến lược nối
từ sông Cửa Tiểu qua sông Vàm Cỏ. Kinh này
được đào dưới thời Thống đốc
Dupré, nên dược gọi “Canal Dupré”, rút ngắn thuỷ
tŕnh chuyên chở lúa gạo từ miền Tây về Chợ
Lớn để thay thế cho kinh Bảo Định
vừa hẹp vừa cạn. Kinh Chợ Gạo
được đào ṛng ră 2 tháng, vét một triệu mét
khối đất, đấp cao hai bên bờ để
làm lộ xe đi lại. Ngày ăn lễ lạc thành
tổ chức hết sức trọng thể. Những nhà
ở hai bên bờ kinh có treo cờ, giăng đèn, kết
hoa, làm cổng chào và dặt bàn hương án. Chính Đô
đốc Dupré, Thống đốc Nam Kỳ đến
tham dự như một thách thức những sĩ phu
đang ngưỡng vọng triều đ́nh, cho rằng
Pháp sắp bỏ miền Nam. Khi chiếc tầu sắt
chở Dupré vừa đào kinh, hai bên có lính mă tà cỡi
ngựa đi song song. Lại có thả khinh khí cầu
để khoa trương kỹ thuật Tây phương.
Hai năm sau, số lượng lúa gạo chở lên Sài g̣n
gia tăng gấp đôi, gấp 3 lần. Vào những
năm cuối thế kỷ 19, hàng ngày có hàng trăm ghe chài
qua kinh Chợ Gạo. Dọc theo thuỷ tŕnh về
miền Tây trong phạm vi tỉnh G̣ Công có nhiều chỗ
giáp nước, những vị trí thuận lợi
được h́nh thành các chợ để ghe
thương hồ ghé mua bán, trao đổi hàng hoá như
Chợ Gạo, chợ Mỹ Lợi, chợ Trường
B́nh. Hồi năm 1949, tôi được thân phụ cho theo
ghe chài chở lúa từ Vũng Liêm về Chợ Lớn,
tôi đếm được 24 cái chợ lớn nhỏ
nằm trên thuỷ tŕnh ghe chúng tôi đi ngang qua! Vàm Bao
Ngược, thường có sóng lớn vào buổi
chiều, thường gây mối ám ảnh cho các ghe thương
hồ lục tỉnh. Câu hát xưa c̣n nhắc:
Anh
đi ghe lúa G̣ Công
Vô vàm Bao
Ngược, bị giông (gió lớn) đứt buồm!
Vàm Bao
Ngược là chỗ nhận ch́m biết bao nhiêu ghe
xuồng qua lại mỗi khi chèo ra giữa sông bị sóng
gió nổi lên th́nh ĺnh. Chỗ khúc sông này tạo ra nhiều
thảm cảnh thương tâm cho những người
sống trên sông nước:
Thuyền
anh cao, nhưng sóng cả nhận ch́m,
Em trông
sông bao nhiêu khúc, nỗi niềm ruột đau.
Ḥ...
ơi!
Vàm Bao
Ngược là chỗ gặp gỡ của các ḍng
nước: nước sông Vàm Cỏ từ Tân An, Bến
Lức đổ ra, kinh Chợ Gạo từ Mỹ Tho
chảy xuống hợp với sông Tra từ G̣ Công, tạo
ra một khúc sông sâu, rộng minh mông. Bên này vàm Bao
Ngược là bến phà (bắc) Mỹ Lợi đưa
các xe đ̣, xe hàng và hành khách qua sông để đi Cần
Giuộc, Chợ Lớn. V́ khúc sông nguy hiểm, nên mỗi lần
sắp qua sông, bạn chèo ghe phải sửa soạn
dầm, chèo, quai chèo, buồm cho vững chắc. Vàm Bao
Ngược cũng là khúc sông lịch sử. Sau khi hạ
đồn Kỳ Hoà (Chí Hoà), Pháp xua binh xuống đánh
Mỹ Tho (lúc đó gọi là Định Tường). Các
chiến thuyền theo cửa Sói rạp vô vàm Bao
Ngược, rẽ vào sông Tra đánh G̣ Công. Nghĩa quân
của ta mai phục sẵn, đắp những mô
đất cao tại dập Bà Thái, phía ngoài B́nh Xuân
chống trả mănh liệt”. Vượt vàm Bao
Ngược đă tới cửa ngỏ “đất kinh
kỳ”. Nửa thế kỷ trước, đi ghe thường
phải chèo hoặc chạy buồm nhờ sức gió, không
có máy móc nhiều như bây giờ, do đó bạn chèo
rất mệt mỏi, trông cho mau tới chỗ để
được nghỉ ngơi, ăn uống, mua sắm và
đợi con nước để tiếp tục lên
đường.
Hồi
trước, ghe thương hồ xuôi ngược lục
tỉnh phải qua Chợ Đệm, nằm ở phía
dưới cầu B́nh Điền ngày nay. Qua khỏi
Bến Lức, men theo con nước thuận, các ghe chèo
luôn một mạch tới “ba Cụm”. Tại chỗ này là
nơi giáp nước: sông Chợ Đệm chảy ra,
sông Bến Lức chảy vào. Hai ḍng nước gặp
nhau, là cái bến tạm để ghe xuồng đậu
nghỉ, chờ con nước sau. Ba Cụm nổi danh
với “bối”, một thứ ăn cắp vặt trên
sông. Theo kinh nghiệm, những người chèo ghe theo
nước lớn vô Ba Cụm, phải “canh” làm sao cho khi
vừa tới chỗ giáp nước, th́ nước phía
bên kia cũng “giựt ṛng”, để chèo luôn cho nhẹ. Các
ghe buôn từ lục tỉnh, mỗi lần qua Chợ
Đệm thường ghé lại mua đệm may
buồm, mua bao cà ṛn, mua nóp để ngủ thay mùng.
“Ghe
Cần Đước” một thời nổi tiếng
cả Nam Kỳ, có mũi quệt cao, cản nước,
đi chậm, cặp mắt xách ngược như
mắt Quan Công. Tương truyền ghe Cần
Đước do thợ người Minh Hương, con
cháu đám di thần nhà Minh Dương Ngạn
Địch, Huỳnh Tấn ở Vũng Gù, Cù Úc, Mỹ
Tho đóng. Ghe chài Cần Đước đi từ
từ, đi tới đâu cũng nh́n thiên hạ như
thách thức, du côn! Khi việc chuyên chở đường
sông c̣n thạnh hành, bạn chèo ghe chài Cần
Đước thường là dân tứ chiếng, giỏi
vơ nghệ. Một lần đoàn ghe chài Cần
Đước “đụng” với đám cướp ở
Tân Châu để cứu giá đoàn ghe thương hồ
lục tỉnh, làm cho giới sống trên sông nước
miền Nam c̣n nhớ măi.
BÀ
TỪ DỤ
Như
ai nấy đều biết, thành phố Sài-G̣n Việt-Nam
có hai bảo sanh viện công lập. Một ở góc
đường Hồng-Thập-Tự và Cống-Quỳnh;
một ở trên đường Hùng-Vương trong
vùng Chợ-Lớn, từ Ngă Sáu đi qua khỏi
trường trung học Chu-Văn-An mới tới, nó
nằm ngay ở bên phía tay phải.
V́ tọa lạc trên
đường Hùng-Vương nên cơ sở tương
đối mới mẻ này, thành lập năm 1956,
được đặt tên là Bảo Sanh Viện Hùng-Vương.
C̣n bảo sanh viện về phía Sàig̣n lâu đời hơn
đă hân hạnh mang mỹ hiệu TỪ-DŨ (1) Một
phần danh xưng cao quư nhất của bà Phạm-Thị-Hằng,
quư phi của vua Thiệu-Trị, nguyên quán tỉnh G̣-Công nam
phần, do vua Đồng Khánh tôn phong nhân dịp lên ngôi
năm 1885.
Nam phần là một vùng
đất rất được cảm t́nh của các vua
chúa nhà Nguyễn. Điều đó cũng dễ hiểu.
Từ lúc thiếu thời, Thế Tổ nhà Nguyễn
đă lưu lạc vào nam, đích thân cầm quân, lênh
đênh trên các sông rạch, trăng nước
Đồng-Nai, gịng giă trong hai mươi bốn năm,
kể từ năm 1778, mới dứt hẳn nhà
Tây-Sơn, thu phục đất đai cũ của tổ
tiên khi xưa, rồi hợp cả nam bắc về
một mối, đặt quốc hiệu là Việt-Nam,
chọn kinh đô Phú-Xuân (Huế bây giờ), xưng
đế hiệu Gia-Long,ngụ ư đă thống nhất
sơn hà từ Gia-Định tới Thăng-Long.
Có lẽ chính do sự
gần gũi ấy, sự quen thuộc ấy mà nhân tài
gốc miền nam được trọng dụng, Cây trái
miền Nam được ưa thích, người đẹp
miền Nam được ân sủng. Riêng tỉnh G̣-Công có
tới ba bà hoàng-hậu. Bà Đinh-thị-Hạnh ở
Tân-Ḥa G̣ Công lấy Thiệu-Trị rồi sau đó lại
giới thiệu cháu ḿnh là cô Phạm-thị-Hằng, con
thượng thư Phạm-Đăng-Hưng (2). C̣n
một bà hoàng-hậu nữa quê quán G̣ Công đó là bà Nam
Phương lấy vua Bảo-Đại sau này.
Nam-Phương Hoàng Hậu la tên do Phạm Quỳnh
đặt ra, chính tên của hoàng hậu này là Mariette Jeanne
Nguyễn-Hữu-Hào tức Nguyễn thị Hữu Lan, cháu
ngoại nhà giầu số một Nam Kỳ cuối thế
kỷ 19 là ông Huyện- Sĩ Lê Phát-Đạt
(Nhất Sĩ, nh́ Phương, tam Xương, tứ
Định.)
Phạm-thị-Hằng
(Từ-Dụ) sinh ngày 19 tháng 5 năm Canh-Ngọ
(1810) quê quán giồng Sơn-Quy, G̣ Công. Thượng thư
Phạm-Đăng-Hưng đặt tên cho con gái là
Hằng v́ đang lúc lâm bồn bà mẹ đă như
thấy một vầng trăng thật lớn từ trên
trời sa xuống đất.
Phạm-thị-Hằng
"về miền Trung" từ năm 14 tuổi,
chắc chắn là rất lưu luyến nơi chôn rau
cắt rốn. Thỉnh thoảng người ta gửi ra
cho bà ít hũ mắm tôm xay, một đặc sản
của G̣-Công để bà thưởng thức và cũng
để hănh diện làm món quà vương giả tặng
người xa lạ. Bà thọ tới năm 93 tuổi,
mất ngày mồng 5 tháng 4 năm Tân Sửu, là một
người đàn bà hiền đức, thông hiểu
sử sách, biết nhiều việc đời, có ảnh
hưởng phần nào đến vua Tự-Đức v́
Tự-Đức là con-trai-bà-một-ḷng-hiếu-thảo, và
bà th́ hiện diện trong suốt thời gian trị v́
của vị vua này lâu tới 36 năm.
Như đă nói trên, bà
"lấy" Miên-TÔng là con trưởng vua Minh-Mạng và
bà Thuận-Đức-Nhân Hoàng-Hậu Hồ-thị-Hoa, con
gái Hồ-Văn-Vui nguyên quán Thủ-Đức
Gia-Định.
Tiện đây xin nói thêm, tên
bà Thuận-Đức-Nhân Hoàng-Hậu cũng là nguyên do
một hai thay đổi. Sau điện Thái-Ḥa trong Tử
Cấm Thành có một cái sân lát đá, hai bên dựng hai
cửa phượng môn, bên tả là cửa Nhật-Tinh, bên
hữu là cửa Nguyệt-Anh, cửa này xưa gọi
là cửa Nguyệt-Hoa, từ năm Thiệu-Trị
thứ nhất v́ kiêng chữ Hoa nên mới đổi ra là
Nguyệt-Anh. Cũng cùng một lư do như thế,
chợ Đông-Ba ở hữu ngạn sông Hương, ngay
chân cầu Tràng-Tiền, trước tên là Đông-Hoa sau
phải đọc trại ra là Đông-Ba v́ kiêng tên bà Hồ-thị-Hoa.
Đó là tại Kinh-Kỳ,
Ở đàng trong chuyện kỵ húy này cũng ảnh
hưởng, tuy ít hơn. Theo cuốn Sàig̣n năm xưa
của Vương-Hồng Sển thời gian những
năm 1815 th́ cầu Bông trước kia gọi là cầu
Cao-Mên sau đổi ra cầu Hoa v́ đây có hoa viên của
tả quân Lê-Văn-Duyệt, nhưng rồi người ta
lại thấy v́ trùng tên một bà phi tần của vua
Minh-Mạng nên gọi cầu Bông cho đến ngày nay.
Hoàng tử Miên-Tông sinh năm
Bính Dần (1806) vừa chào đời được 13
ngày th́ mẹ chết v́ bệnh hậu sản. Bà nội là
Thuận Thiên Cao Hoàng-Hậu thương cháu đích tôn
sớm côi cút, đem về tự tay nuôi dưỡng,
dậy dỗ trong cung …chính bà Thuận Thiên Cao chọn
vợ cho cháu ḿnh, cô Phạm-thị-Hằng được
bà triệu vào hầu hoàng tử Miên Tông tức vua
Thiệu-Trị sau này.
Qua bốn mùa xuân đầu
tiên sống ở kinh thành Huế bà sinh hoàng tử
Hồng-Nhậm, (3) nhưng măi tới năm 1841 khi Miên-Tông
lên ngôi đặt niên hiệu là Thiệu-Trị bà mới
được phong làm cung tần, hai năm sau cất
nhắc lên làm thứ phi, qua đầu năm
Thiệu-Trị thứ sáu bà trở thành quư phi rồi hoàng
quư phi là hàng cao nhất trong cửu giai biên chế của
các triều nhà Nguyễn. Đến khi Thiệu Trị
băng hà bà được vua Tự-Đức phong là Nghi
Chương Thiên Hoàng Hậu, về sau lúc Đồng Khánh
lên ngôi lại tôn bà là Từ-Dũ Bác Huệ Thái Hoàng
Hậu.
Lịch sử và nhất là
lịch sử Trung Quốc, đă để lại rất
nhiều bài học về các mỹ nhân thường ỷ
sắc lũng đoạn gây ra biết bao thảm
trạng vô cùng tai hại cho nhà cho nước. Do đó rút
kinh nghiệm, để tránh trước những tàn
khốc có thể sảy ra, khi vua Thế Tổ lên ngôi đă
cảnh tỉnh đăt ra những điều gọi là
“tứ bất lập” để đề pḥng, ngăn
chặn những đổ vỡ, rắc rối cho
triều chính. Mấy điều cấm kỵ “tứ
bất lập” đó là :
Không lập hoàng hậu.
Không
chấm đỗ trạng nguyên
Không
phong tể tướng
Không
lập thái tử
Những chức tước
hoàng hậu của các bà trên đây chỉ được
phong khi vua đă băng hà hoặc khi chính các bà đă từ
trần. Nó có tính cách tỏ ḷng tôn kính, hiếu thảo
của hậu bối, mang danh nghĩa tượng trưng
chứ không thể ảnh hưởng ǵ dến sơn hà
xă tắc. Riêng bà Nam-Phương đă được phong
hoàng hậu ngay trong ngày cưới, đó là một
biệt lệ, v́ hoàn cảnh, thời thế,quan niệm
đời sau đă đổi khác.
Dù không ảnh hưởng ǵ
đến sơn hà xă tắc, nhưng v́ bà Từ-Dũ là
nhân vật cao niên, được tôn kính, là nhân chứng
trải dài cả mấy triều đại nên h́nh ảnh
bà không thể nào không thấp thoáng, dính dấp đâu đó
ít nhiều. Thí dụ như trong Việt Nam Sử
Lược ta đọc :“Phao ra rằng bà
Từ-Dũ đă đồng ư rồi nên Tường và
Thuyết sai một phái đoàn đem kiệu ra Kim-Long
rước Lă-Quốc-Công Hồng-Dật vô
Đại-Nội làm lễ đăng quang trở thành vua
Hiệp-Ḥa.”
Lại nữa, “Lấy
chữ kư vào biên bản Tường và Thuyết sai đem
tŕnh Thái-Hậu Từ-Dũ, một mặt sai các vơ sĩ
bức tử vua Hiệp-Ḥa và giết
Trần-Tiến-Thành.”
Nguyễn văn Thành và Tôn
Thất Thuyết là hai quan phụ chính lúc bấy giờ làm
rất nhiều điều ngang ngược, chuyên
quyền. Thuyết là quan văn làm tướng vơ, h́nh dáng
không được thanh tú, đi đứng không chững
chạc, giao thiệp đối đáp không rành, xưa nay
chỉ lấy quyền thế mà đè nén, chém giết làm
oai. Tường là tay giao thiệp giỏi, có nhiều
mưu cơ tài nghệ ứng biến. Thuyết đánh
Pháp không lại, bỏ chạy sang Tầu cầu cứu,
việc chẳng thành, sau ôm hận bỏ xác quê
người. C̣n Tường bị tất cả các quan
ngoài Bắc ghét nên xúi người Pháp đầy sang
hải đảo Haiti và cũng chết ở bên đó.
Nước
Nam có bốn anh hùng,
Tường gian, Viêm dối, Khiêm
khùng, Thuyết ngu.
Vua Hiệp-Ḥa tên
Hồng-Dật em ruột vua Tự-Đức là con thứ
29 và là con út của vua Thiệu Trị lúc đó đă
trưởng thành, khuôn mặt tuấn tú, đẹp trai,da trắng,
không c̣n ngụ trong cung , tách ra ở riêng tại một
phủ lớn nơi thành Kim-Long với tước
Lạng-Quốc-Công, lấy sự ngao du phong cảnh làm thú
phong lưu, chiều chiều vai mang chiếc đăy
gấm, trong đựng thuốc điếu c̣n bên vai kia
th́ vắt chiếc khăn mầu hồng điều
dạo chơi ngắm hồ sen để cho bà công chúa
Đồng-Xuân có cảm t́nh mà đặt ra câu hát:
Chiều
chiều lại nhớ chiều chiều,
Nhớ người đăy gấm
khăn điều vắt vai.
Hồng Dật nghe câu hát
lấy làm đắc chí những mong sẽ sống như
vậy suốt đời, thấy cảnh phế lập
trong triều và sự chuyên quyền của hai ông
Tường và Thuyết th́ rất sợ bị làm vua mà
tránh cũng không nổi.
Cũng may là xem nhừng ḍng
sử trên đây ai nấy đều dư biết là bà
Từ-Dũ không thực sự can dự ǵ vào những
chuyện như thế. Trong suốt đời nhân
đức, hiền ḥa của bà, bà chẳng hoạt
động ǵ, có chăng chỉ là những cố gắng
đem lại niềm vui nho nhỏ, sự tốt
đẹp thoải mái, nhẹ nhàng cho mọi người
gần gụi chung quanh, thí dụ, khi bà
Nguyễn-thị-Tồn, người Lục-Tỉnh
lặn lội ra tận đất thần kinh, vào ty
Tam-Pháp,khuya ba hồi trống, “ Đội trạng”
khiếu oan cho chồng là Bùi Hữu Nghĩa, lập
tức vua Tự-Đức cho họp các quan
đại thần ở bộ H́nh và Đô Sát Viện
để chung thẩm bản án,kết quả là
Bùi-Hữu-Nghĩa nhờ vậy mà thoát bị tử h́nh.
Đức Từ-Dũ hoàng thái hậu,cũng người
Lục Tỉnh thấy vậy bèn cho vời “người
đồng hương” vào bệ kiến, tặng bà
Tồn tấm biển đề bốn chữ vàng “Liệt
Phụ Khả Phong.” Cùng một cái vơng….(theo Sự Muôn
Năm Cũ của Trần-Văn-Tích).
Thời gian Tự
Đức tại vị nước Nam bị giặc Pháp
đánh chiếm nhiều nơi, đất đai bị
mất dần dần, nhất là ở G̣ Công, quê
hương của mẹ ngài, nhà vua lúc nào cũng buồn
rầu lo nghĩ, lầm lỳ, ít nói. Bà Từ-Dũ
thấy thế đă truyền giao rằng hễ ai làm nhà
vua bật cười sẽ được trọng
thưởng !
Hôm ấy, lúc vua ngồi xem
diễn tuồng tại duyệt thị đường
(rạp hát trong cung) một kép hát tên Đội-Vung thủ
vai hoàng đế, thấy Tự-Đức đang hút
thuốc bèn chạy lại gần vua nói:
C̣n thuốc cho tớ hít
một hơi !
Nghe vậy nhà vua bật
cười:
My táo gan hè!
Rồi Đội-Vung
chẳng những không bị bắt tội bất kính mà
c̣n được bà Từ-Dũ ban thưởng như
đă hứa.
Sử chép vua Tự-Dức
thờ mẹ rất có hiếu. Lệ thường cứ
ngày chẵn th́ chầu cung, ngày lẻ th́ nghị triều,
trừ khi đi vắng hay khi se ḿnh. Trong suốt 36 năm
làm vua thường vẫn như thế, không sai chút nào.
Khi chầu cung th́ ngài tâu lên
chuyện này chuyện kia, việc nhà việc nước,
tích xưa tích nay….Bà Từ-Dũ lắng nghe, thỉnh
thoảng ban câu chi hay, ư nghĩa th́ ngài biên ngay vào một
cuốn giấy gọi là Từ-Huấn-Lục.
Một hôm rảnh việc
nước , ngài ngự săn bắn tại rừng
Thuận-Trực gặp phải khi nước lụt, c̣n
hai ngày nữa th́ có kỵ Đức Hiến-Tổ mà ngài
chưa ngự về. Bà Từ-Dũ nóng ruột sai quan
đại thần Nguyễn-Tri-Phương đi
rước. Nguyễn-Tri-Phương đi được
nửa đường, vừa gặp thuyền ngự
đang chèo lên, mà nước th́ chẩy mạnh, thuyền
không đi mau được. Gần tối thuyền
ngự mới tới bến, khi ấy trời đang mưa,
mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng sang cung,
lạy Từ-Dũ xin chịu tội. Từ-Dũ
ngồi quay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi
cả. Ngài lấy một cây roi mây, dâng lên để trên
ghế trát kỷ rồi ngài nằm xuống xin chịu
đ̣n. Cách một hồi lâu, bà Từ-Dũ xoay mặt ra,
lấy tay hất cái roi mà ban rằng: “Thôi tha cho, đi
chơi để cho quan quân cực khổ th́ phải ban
thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi
hầu kỵ”
Từ-Dủ ở trong cung
Gia-Thọ, cung này xây năm Gia-Long thứ hai (1803) mới
đầu có tên là cung Trường Thọ,
Tự-Đức cho sửa sang lại với những hành
lang dài có mái che để vua qua thăm mẹ và để
bà có thể đến duyệt thị đường xem
hát …v..v….rất tiện nghi v́ ở Huế về mùa
đông nhiều lúc mưa dầm cả hỏn tuần
lễ.
Thường các mệ là
những bậc cung nữ khi xưa lúc trở về già hay
xin vào ngụ trong lăng, tiện việc trông nom
hương lửa hôm mai. Thời gian Tự-Đức
băng hà, tất cả phi tần, có người mới
mười sáu mười bẩy tuổi đều t́nh
nguyện lên Khiêm Lăng để ở và thờ
phượng ngài suốt đời. Những trường
hợp t́nh nguyện trên đây có thể sẩy ra v́ các cung
nữ già th́ sống ở ngoài đời đôi khi cũng
gặp khó khăn, chán nản.; trẻ th́ nông cạn
chả biết làm sao để sống thực với
những ǵ ḿnh cần, ḿnh muốn và như đứng
trước đoạn đường cùng đă sống
theo ư của mọi người chung quanh muốn, của
xă hội cổ hủ muốn nên mới dấn thân vào
chỗ tối tăm thầm lặng, vô ích, giết
chọn cuộc đời xuân sắc.. Thật tội nghiệp
cho những người này, những người từ lúc
tiến cung cho đến khi vua băng hà có thể chưa
được “ḿnh rồng” ấp ủ lần nào !!!
Bi kịch nơi thâm cung u
uất phần lớn do sự hoang dâm vô độ của
vua chúa thời phong kiến xa xưa mà chắc chắn các
cung nữ rất nhiều người không muốn.
Chứng cớ là nỗi ḷng uẩn ức oán hận
của họ đă được giải tỏ phần
nào trong “Cung Oán Ngâm Khúc”:
Tay
nguyệt-lăo chẳng xe th́ chớ,
Xe thế này có dở dang không!
Đang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực ḿnh muốn đạp tiêu
pḥng mà ra
Nên thực tế nếu có
cơ hội để vượt khỏi cảnh
sống tù ngục chung thân này th́ họ cũng thoát ly ngay
chứ đâu thương tiếc ǵ , chẳng thế mà
khi việc đánh Pháp thất bại năm 1885 lúc vua Hàm-Nghi
xuất bôn, trên đường di tản, các bà phi cũng
bỏ chốn khá nhiều.
Bà Từ-Dũ th́ thật là
đặc biệt, may mắn. Vị trí của bà không
giống hẳn như các cung nữ già trẻ vừa
kể trên đây. Theo cách tổ chức xếp đặt
của triều đ́nh, bà có dinh cơ riêng để ở
bên trong hoàng thành. Thư kư riêng của bà là Lễ Tân
Nguyễn-Nhược-Thị nguyên là một cung phi của
vua Dực-Tông, tác giả tập Hạnh-Thục-Ca, ghi chép
những chuyện ở trong triều lúc bấy giờ, nên
đời nay nhớ ơn đặt tên cho một bến
sông dọc theo con kinh bên quận 8 Sàig̣n : Bến
Nguyễn-Nhược-Thị. Bà c̣n có riêng một du
thuyền lộng lẫy do một đoàn chèo gồm
các thị nữ đặt tên là du thuyền Yến Dư để
tham dự vào dịp lễ hội du xuân hàng năm trên sông
Hương mục đích cho vua và hoàng gia đi thăm
lăng mộ của các vua chúa tiên triều nằm ở
phía tây kinh thành Huế.
Từ sau Thiệu-Trị
Băng hà, bà c̣n cả khoảng thời gian trên dưới
50 năm rảnh rỗi cũng không thấy bà có hoạt
động nào về xă hội đặc biệt,
hoặc tạo dựng một cái ǵ để làm
kỷ niệm lưu lại đời sau như xây
một kiểng chùa chẳng hạn, lại nữa, con bà,
vua Tự-Đức tại vị trong 36 năm nếu bà
muốn làm một cái ǵ th́ đâu đến nỗi khó
khăn.
Khi vua Thánh-Tổ lên ngôi ngài
đă có ư không cho người ngoại quốc vào giảng
đạo ở trong nước, bởi v́ :” Đạo
phương tây là tà đạo làm mê hoặc ḷng
người và hủy hoại phong tục , cho nên phải
nghiêm cấm để khiến người ta phải theo
chính đạo.” Về sau việc cấm đạo
cứ giai dẳng măi đến khi nước Pháp sang
bảo hộ mới thôi. Bà Nam Phương Hoàng Hậu
của Bảo-Đại là người sùng đạo, khi
lấy chồng đă được thỏa thuận
những điều kiện vẫn giữ đạo
gốc, các con sinh ra phải được rửa tội
theo đạo Thiên Chúa Giáo, hoàng đế và hoàng hậu ai
giữ đạo nấy, không ai ràng buộc ai. Bà
Từ-Dũ sống giữa khoảng thời gian này
nhưng nhiều phần chắc chắn bà được
kể là một phần tử không theo đạo Thiên chúa
bởi v́ bà nằm trong phe chủ trương cấm
đạo.
Hầu như suốt
đời bà Từ-Dũ ở trong cung, ngoại
trừ một lần, lúc đó khoảng 75 tuổi,
khi đêm 4 rạng 5 tháng 7 năm 1885 Tôn-Thất-Thuyết bất
th́nh ĺnh đánh úp đồn Mang Cá của Pháp rồi
thất bại khiến bà phải theo phái đoàn vua Hàm Nghi
xa giá “tản cư” tới làng Kim-Long, qua chùa Thiêng
-Mụ, trở về Tràng
Thi ra thành Quảng-Trị… đến đây bà nhất
định không chịu “chạy” nữa. Mặt khác
lại nhận được sớ của Nguyễn-Văn-Tường
từ Huế gửi ra , nên sau gần nửa tháng nổi
trôi, vất vả, Tuần phủ Trương
Quang-Đản đă hộ tống rước xa giá
để bà hồi cung c̣n vua Hàm Nghi th́ bị
Tôn-Thất-Thuyết tiếp tục đưa lên
Tân-Sở.
Cũng như các cung tần
mỹ nữ, mặc cho thời gian lặng lẽ trôi,
mặc cho không gian thay đổi, bà Từ-Dũ sống
như hờ hững với thế giới bên ngoài, nên bây
giờ kể ra đây đoạn tường
thuật đặc biệt buổi yết kiến bà
của đám người ngoại quốc nhân dịp toàn
quyền VIAL thăm Huế do F. Baille ghi lại
tưởng cũng là điều nên biết.
“Sau khi đi quanh co hơn hai
mươi phút, qua những khu vườn bài trí thật
rắc rối, có nhiều hành lang ngang dọc, chúng tôi
được dẫn đến một mảnh sân khá
rộng, giữa bốn bức tường cao. Hai toán
nữ nhạc đứng ngang nhau, ḥa tấu những âm
thanh kỳ lạ. Chúng tôi cần thưa thật rằng
tuổi tác và dáng điệu của hầu hết các
nhạc sĩ này khiến chúng tôi phải có ḷng tôn kính, và
theo quan niệm của người dân Paris hết sức
ham thích t́m hiểu những việc lạ lùng, cũng
phải giá lạnh cả tâm hồn. Vài phút chờ
đợi trôi qua, chúng tôi vào một gian pḥng hơi
thấp. Phía trong pḥng chúng tôi thấy một bức sáo làm
bằng thanh tre, vót thật mỏng, vẽ h́nh rồng
nhiều mầu. Đức vua mặc y phục đại
triều, quỳ gần đó, hai tay khoanh trước
ngực. Hoàng thái hậu ngồi phía sau bức sáo giữa
cảnh nửa tối nửa sáng như trong đền
thờ. Nhà vua ngỏ lời vấn an bà rồi đến
chúng tôi. “
“Tiếp đó chúng tôi nghe
tiếng nói, đúng hơn là một giọng nói thầm,
khó có thể phân biệt đáp lại. Th́nh ĺnh bức sáo
được chậm chạp kéo lên như bức màn trên
sân khấu, chúng tôi thấy người ngồi bên trong im
ĺm, không động đậy, ḿnh mặc áo dài mầu vàng
của hoàng tộc, mặt nh́n thẳng, nước da
trắng vàng như mầu ngà của bức
tượng chúa…H́nh bóng thoáng qua như một ảo
ảnh không có ǵ thêm. Bức sáo hạ xuống lập
tức thật nhanh và khô khan, nhiều lời chúc
tụng tiếp tục tung hô. Đức vua hướng
vào bức màn lạy rất lâu.”
Buổi yết kiến
đến đây là chấm dứt. Buổi yết
kiến chỉ có vậy. Tuy là thời xưa, tuy là
giữa những người khác mầu da, tiếng nói, từ
phương trời xa lạ, buổi yết kiến
thật nghèo nàn, nghe như nó vẫn c̣n thiếu sót rất
nhiều xă giao, nó vẫn c̣n quá ngăn cách cho dù bà
Từ-Dũ có ban vài lời. “Tiếp đó chúng tôi nghe
tiếng nói, đúng hơn là một giọng nói thầm khó
có thể phân biệt đáp lại.” F. Baille nói đúng ! Mà
ông là người ngoại quốc th́ làm sao nghe, phân
biệt, hiểu mà đáp lại được ! Nên ông
cũng chẳng ghi lại được, khiến cho không
những ông mà ngay cả mấy người Việt-Nam ṭ
ṃ về sau đọc bài tường thuật của ông
cũng lấy làm tiếc là không biết lúc đó bà Từ-Dũ
đă nói ǵ, c̣n nói giọng địa phương Nam
kỳ hay v́ thời gian, v́ gần gụi đă pha giọng
quê chồng.
Biết làm sao khác
được, một cách khách quan, cả chủ lẫn
khách, vậy cũng là cởi mở và thiện chí lắm
rồi. Cái phong cách lề lối hành động của xă
hội ấy cần phải có thời gian mới từ
từ thay đổi. C̣n về phía “ những người
dân Paris” tuy không thỏa măn hoàn toàn nhưng chắc cũng
hài ḷng và hiểu rơ cái đặc ân mà Hoàng Thái Hậu đă
dành cho.
Thực ra th́ bà Từ-Dũ
cũng chỉ là một người b́nh thường, sinh
ra trong một gia đ́nh cao quư, sang trọng, rồi hoàn
cảnh lại đưa đẩy vào một vị trí
cao quư sang trọng hơn. Trong lịch sử Việt-Nam
cũng đă có nhiều người đàn bà như
thế. Bà là người đẹp! Dĩ nhiên! Là một
h́nh ảnh lư tưởng, mơ ước của xă
hội bấy giờ. Với các đức tính hy sinh,
mẫu mực trung trinh, đức hạnh…đă làm hănh
diện cho quê hương bản quán và cho tộc họ măi
măi về sau.
Và c̣n măi măi về sau, nơi
thế miếu trong hoàng thành Huế, với những cây
tùng vạn niên, với chín chiếc đỉnh đồng
xếp hàng ngạo nghễ thi gan cùng tuế nguyệt,
thần vị của bà Từ-Dũ đă được
đặt thờ trên án cùng với thần vị của
vua Thiệu-Trị bên cạnh những án thờ các vị
vua và các hoàng hậu khác của triều đại nhà
Nguyễn, những người thiên cổ, những
người đă viết nên lịch sử Việt-Nam
từ hơn hai trăm năm cũ cho tới thời
cận đại bây giờ.
Đến đây để
kết thúc về bà Từ-Dũ xin ghi lại bài
thơ Đường luật của thi sĩ
Chiêu-Đăng, bạn với kẻ viết bài tiểu khảo
này, một người cùng gịng họ với thượng
thư Phạm-Đăng-Hưng ngày trước.
G̣
Công Quê Mẹ.
Quê mẹ đông bằng cạnh
biển đông
Là g̣ khổng tước lắm
chim công
Thần tiên nẩy nở trang hào
kiệt
Thánh địa luân lưu sử
Lạc Hồng
Trương-Định lừng
danh cùng đất nước
B́nh Tây nổi tiếng khắp non
sông
Đức bà Từ-Dũ kề
thiên tử
Tên tuổi muôn đời rạng
tổ tông.
Chiêu-Đăng.
Chú-thích (1)
Chữ Dũ nguyên thủy từ tiếng Trung-Hoa : Yu
như Wang Yu , Tên một tài tử màn bạc
Hồng-Kông. Yu có nghĩa lông chim. Người miền
nam, nhất là những người gốc Hoa ưa
đặt tên là Yu rồi chuyển hệ từ Hoa ngữ
sang Việt ngữ thành Dũ. Chữ Hán không có danh
từ Dũ. Chữ Nôm tiếng Dũ có nghĩa
là Phủi thí dụ dũ sạch bụi trần.
Cũng xin đừng nhầm Dũ với Vũ Như
trong quan vũ, quan vơ, khiêu vũ…v….v….
(Theo Nguyên Nguyên, Báo
Đại Chúng số 119 tháng 5-2003 (2)
Phạm-Đăng-Hưng sinh năm 1764 con của
Phạm-Đăng-Long và bà Phạm văn thị Tánh,
ông là người thông minh hiếu học, tính t́nh
cương trực và có ư chí cao cả. Sinh ra và
trưởng thành vào buổi loạn ly, nhưng một
ḷng nuôi chí lập thân, năm 1784 ông thi đậu tam
trường được vua Gia-Long bổ nhiệm
chức lễ sinh ở phủ, từ đó trải bao
bước thăng trầm Phạm-Đăng-Hưng
vẫn một ḷng thờ vua giúp nước. Năm 1815 ông
được tấn phong Lễ bộ thượng
thư, năm 1825 ông bị bệnh rồi qua đời
thọ 61 tuổi. Ong có bốn
người con trai đều làm quan to. V́ kính tài, trọng
đức của ông nên vua Minh-Mạng đă cùng ông kết
nghĩa thông gia, gả công chúa Cho lễ bộ lang trung
Phạm-Đăng-Thuật, lại cho hoàng tử Miên-Tông
kết duyên cùng con gái ông là Phạm-thị-Hằng. (3)
Trước khi sanh Hồng-Nhậm bà đă có hai công chúa:
Công Công chúa Uyên – Ư sinh năm At-Dậu 1825. (Theo Phúc
Tộc Thế Phả trang 280 và 281 tài liệu do Nguyên
Hương Nguyễn Cúc, tác giả Sài-G̣n 300 năm cũ
Gửi cho .) Nhân tiện xin cám ơn học giả
Nguyễn-Cúc. (4) Tiện đây người
viết xin cập nhật thêm một chi tiết, là sau bao
năm yên nghỉ dưới mộ sâu, mới rồi, quân
gian lại nhẫn tâm khai quật lăng mộ của
bà lên để hôi của. Vào ngày 18 tháng 5 năm 1983 sáu
kẻ gian đă bị bắt và rất may mắn số
vàng bạc ngọc ngà đă dùng làm nữ trang cùng bà nằm
dưới ḷng đất đă thu hồi lại được.
Nhưng cũng rất không may mắn là số nữ trang
ấy người ta đă chẳng trân trọng lưu
giữ trong viện bảo tàng để kẻ
đời sau có dịp chiêm ngưỡng, có dịp học
hỏi về nền mỹ thuật , tài khéo của cổ
nhân mà quyết định đem nấu chẩy
rồi phát mại lấy số tiền 23.362.122$ 00
(giá vàng 2.300.700$00 một lượng.)