Quốc
hiệu Việt Nam
Quản Hùng
Quốc hiệu Việt Nam thay đổi khá
nhiều theo ḍng lịch sử của dân tộc Việt
Nam . Nó c̣n biểu lộ sự tiến hóa của quốc
gia và dân tộc Việt qua các thời kỳ lịch
sử.
I.
ĐỊNH NGHĨA QUỐC HIỆU
Quốc
hiệu là tên chính thức của một quốc gia. Quốc hiệu có nhiều ư nghĩa.
1. Nó biểu lộ chủ quyền của
quốc gia trên vùng lănh thổ của ḿnh. Nó có thể khác
với tên địa lư được gắn cho vùng
đất hay vùng dân cư đó. Thí dụ : Chiêm Thành là tên
Việt Nam gọi người Chàm, tên Giao Chỉ
thường dùng để chỉ giống dân Cổ
Việt trong vùng Bắc Việt Nam ngày xưa, nó khác với
quốc hiệu Văn Lang thường được gán
cho thời kỳ tiền sử này. Đó là phương
diện địa lư của quốc hiệu.
2. Quốc hiệu cũng thường
biểu lộ các yếu tố chính trị cho vùng
đất hay cư dân chủ thể của quốc
hiệu. Nó là danh xưng chính thức được dùng
trong ngoại giao và bang giao quốc tế. Thí dụ: cho
đến trước năm 1804 Việt Nam luôn luôn có hai
quốc hiệu : một quốc hiệu dùng trong
nước như Đại Cồ Việt, Đại
Việt nhưng mặt khác người Trung Hoa láng giềng
phương Bắc lại gọi Việt Nam là AN NAM.
3. Trong thời cận và hiện đại,
quốc hiệu thường biểu lộ thể chế
chính trị hay ước muốn chính trị của
quốc gia. Quốc hiệu có thể nhấn mạnh
về chế độ chính trị như chế
độ xă hội hay cộng sản như Cộng Ḥa Xă
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hay chế độ
cộng ḥa như Việt Nam Cộng Ḥa. Đối với
Việt Nam, chúng ta có đầy đủ những quốc
hiệu theo địa lư hay chính trị theo ḍng lịch
sử vẻ vang của dân Việt
II.
QUỐC HIỆU Việt Nam THEO THỜI GIAN
* Năm 2879 trước Tây Lịch: Kinh Dương Vương
làm vua nước XÍCH QỦY
* Năm 690-258? trước CN: Vua Hùng
Vương đặt tên nước là VĂN LANG
* Năm 257? - 208? trước CN : An Dương
Vương chiếm Văn Lang, lập
nước ÂU LẠC đóng đô ở Cổ Loa.
* Năm 208- 111 trước CN: Triệu Đà
(Zhao Tuo) tướng nhà Tần chiếm Âu Lạc, lập
nước NAM VIỆT
* Năm 111 trước CN đến 542 sau CN:
Việt Nam bị Trung
Hoa đô hộ. Việt Nam lúc đó gọi là
Giao Châu và được coi như một quận thuộc
Trung Hoa, do
các thai thú cai quản nên không có quốc hiệu. Năm 40-43,
Hai bà Trưng lên làm vua nhưng không thấy ghi quốc
hiệu.
* Năm 542-602: Lư Bôn tự xưng Lư Nam
Đế lập nước VẠN XUÂN, đóng đô
ở Long Biên.
* Năm 679-938: Nhà Đường lập AN
NAM ĐÔ HỘ PHỦ. Tên AN NAM có từ đây.
* Năm 938 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam
Hán mở đầu thời kỳ độc lập
của nước ta nhưng phảỉ đợi
đến năm 968 Đinh Tiên Hoàng dẹp được
12 sứ quân, thống nhất đất nước,
mới đặt quốc hiệu là ĐẠI CỒ
VIỆT. Năm 972, Trung
Hoa chính thức công nhận Việt Nam là
một quốc gia độc lập.nhưng vẫn phong
cho Vua Đinh
Tiên Hoàng làm GIAO CHỈ QUẬN VƯƠNG
* Tuy vậy Trung
Hoa tiếp tục gọi Đai Cồ
Việt là Annam và coi như là một phiên thuộc.Năm
1054, Lư thánh Tông đổi quốc hiệu là ĐẠI
VIỆT. Năm 1164. Trung
Hoa đổi tên GIAO CHỈ thành AN NAM QUỐC
và phong cho vua Lư Anh Tông làm AN NAM QUỐC VƯƠNG
*Năm 1400-1407 Nhà Hồ đặt quốc
hiệu là ĐẠI NGU
* Năm 1407-1804 : Quốc hiệu ĐẠI
VIỆT được dùng trong nhiều thời kỳ.
* Năm 1804: Trung
Hoa công nhận quốc hiệu Việt Nam *
Năm 1831, Vua Minh Mạng đổi thành ĐẠI NAM
9/3/1945-24/8/1945: Việt Nam
2/9/1945- 2/7/1976:
Việt Nam DÂN CHỦ CỘNG H̉A
8/3/1949- 26-10-1955:
QUỐC GIA Việt Nam
26-10-1955
đến 30-4-1975: Việt Nam CỘNG H̉A
2/7/1976: CỘNG
HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Việt Nam
III. Ư
NGHĨA CỦA QUÔC HIỆU Việt Nam
A -
Quốc hiệu: Ư nghĩa văn hóa
Lịch sử của nhiều quốc gia dân
tộc như Trung Hoa,
Nhật, Việt, thường bắt đầu bằng
những huyền thọai. Chính trong những truyện
truyền kỳ thần thọai, tuy có thể do
người đời sau sáng tác ra, nhưng đă lưu
truyền trong nhiều ngàn năm nên có thể ẩn
chứa những dấu vết văn hóa lịch sử.
Giống như vậy, quốc hiệu
Việt Nam trong thời huyền sử cũng ẩn
chứa những dấu vết của nền văn hóa
Cổ Việt thời xa xưa.
Hai quốc hiệu thời huyền sử gây
nhiều tranh căi là XÍCH QUỶ và VĂN LANG.
Quốc
hiệu Xích Quỷ, c̣n
gọi là Thích Quỷ, theo Việt Nam Sử Lược, là có
nguồn gốc từ thủy tổ của người
Việt là Kinh Dương Vương. Sách chép:
Cứ
theo tục truyền th́ vua Đế Minh là cháu ba
đời của vua Thần Nông đi tuần thú
phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc
tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy
nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau
Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là
Đế Nghi làm vua Phuơng Bắc, và phong cho Lộc
Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương
Vương, quốc hiệu là XÍCH QỦY.
Bờ cơi nước Xích Qủy bấy giờ phía Bắc
gíáp Động Đ́nh Hồ (hồ Nam) phía nam giáp nước
Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) phía
đông giáp biển Nam Hải. Kinh Dương
Vương làm vua nước Xích Quỷ vào
quăng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch) và
lấy con gái Động Đ́nh Quân là Long nữ đẻ
ra Sùng Lăm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân.
Đây là câu chuyện truyền kỳ, có
thể do người đời sau viết ra nhưng
phản ảnh nhiều điểm lư thú để tranh
luận. Trước hết, nó có thể xác nhận sự
khác nhau giữa hai nền văn hóa: văn hóa Trung Hoa ở
phương bắc hồ Động Đ́nh với
nền văn hóa Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử.
Danh xưng Xích Quỷ có liên hệ đến mầu
đỏ (Xích = mầu đỏ). Xích Đế là Vị
Thần Lửa phương Nam (1), Quỷ là Ma quỷ (2)
Người Á Châu thường có thói gọi người
lạ là quỷ như Bạch Quỷ, Hắc Quỷ.
Chữ Quỷ c̣n có nghĩa là tên một vị sao trong
nhị thập bát tú ( 3)
Chúng ta hẳn c̣n nhớ rằng trên mặt
những trống đồng Đông Sơn của dân
Lạc Việt, tức dân Cổ Việt, đều có
điêu khắc những ṿng tṛn vớí những ngôi sao. Các
nhà nghiên cứu thường cho rằng những biểu
tượng này liên hệ đến tục thờ
Thần Lửa và tục thờ Thần Mặt Trời.
Quốc hiệu đầu tiên của dân Việt là XÍCH
QỦY phải chăng chính là tục thờ mặt
trời này chăng? Trong địa phận người
Cổ Việt cũng có từ Nhật Nam, mặt trời
phương Nam, cũng có liên hệ đến truyền
thuyết này chăng? Một trong những vua cổ Trung Quốc là Viêm
đế ( viêm = nóng, tượng trưng cho lửa), ư nói
đến hỏa đức tức ḷng nhân ấm áp. Viêm
Đế là vị Hoàng đế nhân từ thương
dân (4)
Quốc
hiệu thứ hai là VĂN LANG, chắc cũng do đời sau thêm vào v́ theo
những thư tịch cổ sử th́ vào đời các vua
Hùng, chưa có văn tự rơ ràng. Văn Lang có nghĩa là
quốc gia của những người có văn học,
chứng tỏ không thua kém dân phương bắc. Theo
Trần Gia Phụng th́ Văn là vẻ đẹp, Lang theo
chữ nho gồm chữ lương và bộ ấp”.
Nói chung Văn Lang là vùng đất của những người
lương thiện, thể hiện giá trị tư
văn cao quư mà trời giao phó cho con người (5). Chữ
LANG gợi cho chúng ta danh từ các quan Lang của những
đồng bào Mường mà ngày nay thường
được coi như cùng bọc trăm trứng
với chúng ta không? Theo bác sỹ Hồ văn Châm dẫn
theo GS Lê Hữu
Mục th́ VĂN tức là MÔN, LANG tức là LÀNG. Văn Lang
là Làng Môn hay Làng của người Môn ( phát biểu trong
Mạn đàm ngày 28-10-2007)
Văn
Lang được coi là quốc hiệu đầu tiên
của Việt Nam .
Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu, với
lănh thổ gồm khu vực đồng bằng Bắc
Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.
Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258
trước CN. Về sau, Thục An Dương
Vương chiếm được Văn
Lang của các vua Hùng, sát nhập các bộ lạc Lạc
Việt với Âu Việt thành nước Âu Lạc.
Theo Đào Duy Anh th́ Âu Lạc gồm hai bộ
tộc quan trọng là Tây Âu và Lạc Việt.
Cuộc liên kết giữa các bộ lạc Bách Viêt này
biểu lộ qua Quốc hiệu thứ nh́ là ÂU LẠC
của dân Cổ Việt. Gần đây, theo tác gỉa Trương Thái Du,
Âu Lạc là kư âm Hán tự của cụm từ “Đất
nước xứ sở “.Ông cho rằng không
có quốc gia Âu Lạc của Vua An Dương
Vương. Suốt vùng Lĩnh Nam gồm
Quảng Đông, Quảng Tây, Bắc Việt Nam,
người ta gọi nơi sinh sống của ḿnh là “Đất
nước”, tức “Âu Lạc “(6)
B-
Quốc Hiệu và thái độ nước lớn của
Trung Hoa
Khoảng năm 208 trước CN, Triệu
Đà, một tướng của Tần Thủy Hoàng mang
quân sang chiếm Âu Lạc. An Dương Vương thất
bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ. Triệu
Đà đặt quốc hiệu là NAM VIỆT
Nam Việt là quốc hiệu thời nhà
Triệu (207 TCN-111 TCN). Vấn đề là quốc hiệu
này có phải là một quốc hiệu của nước
Việt Nam hay không? Triệu Đà là người Hán, quê
huyện Chân Định, nhân lúc nhà Tần suy loạn
đả nổi lên, lập ra nhà Triệu, lấy quốc
hiệu là Nam Việt. Sử gia Lê văn Hưu và Ngô Sỹ
Liên công nhận sự chính thống của nhà Triệu (7) và
do đó công nhận quốc hiệu Nam Việt. Vua Quang
trung, sau khi đánh bại quân Thanh năm 1789 đă có ư
định đ̣i đất hai tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây với lư do đây là đất cũ của
Nam Việt thời Triệu Đà
Nếu coi như Triệu Đà và Nam Việt
không nằm trong ḍng chính thống của dân Việt thi
cũng có thể coi Triệu Đà mở đầu cho
hơn 1000 năm Bắc thuộc về sau. Trong thời
gian này, Trung Quốc
coi Việt Nam như môt quận huyện của Trung Hoa, nên vấn
đề quốc hiệu không được đặt
ra. Tuy vậy, mỗi khi nổi lên dành độc lập,
thủ lănh dân Việt thường tự xưng
vương. Thí dụ: Năm 544 đến 602, Lư Nam
Đế khởi nghĩa, đặt quốc hiệu là
VẠN XUÂN mặc dù Trung
Hoa coi như không có quốc hiệu này.
Trong suốt thời kỳ Bắc Thuộc,
từ 110 TCN đất đai Giao Chỉ được
chia thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân mà đứng
đầu mỗi quận là thái thú, Năm 679 nhà
Đường lập AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ.
Tên An Nam
trở thành quốc hiệu người Trung Quốc chỉ
quốc hiệu Việt Nam đă có từ đây. C̣n danh
từ An Nam đă có trong thư tịch cổ Trung Hoa từ lâu (
mạn đàm 28-10-2007)
Ngay trong những thời gian đầu
của thời kỳ Bắc Thuộc, Trung Hoa luôn luôn coi
Xứ Giao Chỉ là nơi xa xôi man di mọi rợ. Theo
học thuyết Khổng Mạnh, với tư
tưởng Thiên Mệnh, người cầm đầu
nhà Nước tự coi là Thiên Tử và coi Triều
đại của họ là Thiên Triều. Họ tự coi
ḿnh ở giữa vũ trụ (Trung Quốc ) xem dân tộc ḿnh là tinh
hoa . Hoa làm chủ Trung Quốc
c̣n các nước xung quanh là Nhung, Di, Man, Dịch. Họ
gọi những người rợ phương bắc là
Bắc Dịch, phương Tây là Tây Nhung, phương
đông là Đông Di. C̣n phương Nam la Nam Man, trong đó có
người Việt Nam chúng ta. Chính v́ thế nên danh từ
An Nam có tính cách miệt thi và Trung Hoa tiếp tục sử dụng
danh từ này như quốc hiệu chính thức cho
Việt Nam đến tận năm 1804, đời
Nguyễn Gia Long dù sau này Việt Nam đă trở thành một
quốc gia độc lâp với những quốc hiệu
khác nhau.
Ngay cả năm 939, Ngô Quyền đại
thắng quân Nam Hán, tự xưng vương, lập Hoàng
Hậu, định triều nghi, Trung Hoa tiếp tục
coi Việt Nam như là một quận huyện của
họ.V́ thế họ chỉ phong cho Ngô Xương
Ngập là con Ngô Quyền, làm TĨNH HẢI QUÂN TIẾT
ĐỘ SỨ.
Năm 972 vua Đinh Tiên Hoàng cũng chỉ
được Tống Thái Tổ phong cho làm GIAO CHỈ
QUẬN VƯƠNG. Ba năm sau mới chiụ phong là NAM
VIỆT VƯƠNG. Theo sử lệ Trung Hoa th́ từ
đời nhà Chu (1122-240 TCN ) chỉ có “cộng chủ”
thiên hạ mới được phong tước
Vương. Các vua chư hầu chỉ được
phong là Công, Hầu, Bá,Tử, Nam. Về sau nhiều chư
hầu cũng tự xưng là VƯƠNG. Đến nhà
Tần, vua Trung Hoa
mới xưng là Hoàng Đế. Đến nhà Hán, Trung Hoa chia các chư
hầu thành quận huyện do Triều Đ́nh trực
tiếp cai tri. Đó là chính sách “Quận
Quốc”. Tùy theo lớn nhỏ, người cầm
đầu được phong tước VƯƠNG
(Quốc Vương) hay HẦU (Vương Hầu) Tất cả
đều là phiên thuộc(8).
Đến năm 1175 đời Lư Anh Tông, Trung Hoa mới chịu
cống nhận Việt Nam là một quốc gia độc
lập và phong cho Lư Anh Tông làm AN NAM QUỐC VƯƠNG. Phan Huy Chú
nhận xét: “
Nhà
Đinh, nhà Lê khi mới dựng nước,cầu phong
chỉ phong làm KIỂM HIỆU THA1 SƯ, GIAO CHỈ
QUẬN VƯƠNG, lâu rồi mới được
tiến lên NAM B̀NH VƯƠNG. Các vua nhà Lư đều
nối theo như thế cả. Đến Lư Anh Tông
cầm chính quyền việc bang giao đầy đủ
ân cần, được vua Tống khen ngợi mới cho
tên nước, phong làm Chân vương. Về sau các
triều nối nhà Tống nổi lên tuy muốn làm cho
nhỏ đi mà không thể đổi khác được.
Nghi điển long trọng ít có, mấy trăm năm
chưa từng thấy, cái công khởi xướng kể
cũng là to”(9)
Tuy vậy, Trung
Hoa ngoan cố vẫn coi Việt Nam như
một quận huyện của ḿnh dù phải công nhận
Việt Nam là một quốc gia riêng. Nó biểu lộ trong
cách gọi quốc hiệu AN NAM và phong cho vua Việt Nam là
AN NAM QUỐC VƯƠNG, dù
biết rằng các vua Việt Nam thường có quốc
hiệu riêng để dùng trong nước. Các vị vua
Việt Nam thường phải chiều theo Thiên Triều Trung Hoa để Trung Hoa không t́m
được lư do xâm lăng nước Việt. Việc
xin phong vương, cũng như việc triều cống
theo quy định là những việc đặc biệt
trong quan hệ ngoại giao giữa nước ta và Trung Hoa. Việc xin
phong vương của các triều đại phong kiến
Việt Nam cũng trải qua nhiều khó khăn, không không
phải là ngay từ đầu đă được phong vương
ngay.Việc phong vương cho các vua Việt Nam có ư
nghĩa khẳng định tính chính thống của
một người đă được Thiên Triều
đồng ư công nhận, chính danh định vị,
khẳng định tính hợp pháp của một Triều
đại hay một ông vua, nhất là khi có sự thay
đổi từ triều đại này sang triều
đại khác. Từ đó Thiên Triều Trung Hoa có nghĩa
vụ bảo vệ an ninh, sự toàn vẹn lănh thổ cho
quốc gia hay xứ đuợc công nhận, không thể vô
cớ sang xâm lăng, trừ trường hợp nước
đó trái đạo trời.
Ngoại trừ những vua Việt Nam
tiếm chiếm ngôi vua như Mạc hay Hồ, thái
độ nước lớn của Trung Quốc, coi
Việt Nam như phiên thuộc, khiến cho Triều
Đ́nh Việt Nam phải thi hành những chính sách
đặc biệt. Trước hết, đấu tranh
chống kỳ thị bằng cách:
* Một mặt, trong các bài biểu, trần
t́nh, thư, công văn phúc đáp, Triều đ́nh Việt
Nam và các sứ thần thường dùng những lời
lẽ hết sức nhún nhường, khiêm tốn, hạ
ḿnh, tâng bốc sự sáng suốt của các Thiên Triều.
Tuy hết sức nhún nhường nhưng bao giờ các
văn biểu cũng giữ vững nguyên tắc là
bảo vệ nền độc lập và chủ quyền
dân tộc, khước từ mọi yêu sách vô lư làm hại
đến quốc thể. Qua những văn kiện
ngoại giao dưới đời Trần và Tây Sơn, ta
thấy biểu lộ chính sách ngoại giao khôn khéo mà cương
quyết này.
* Một mặt, khi đón tiếp sứ
thần phương Bắc th́ các vua Việt Nam
thường t́m cách khoa trương sức mạnh quân
sự và văn hóa của ḿnh. Sử chép: Năm 990, Vua
Tống Thái Tông sai hai sứ thần là Tống Cảo và Vương Thế
Tắc đem chế sang phong cho Vua Lê Hoàn chức
Đặc Tiến ( một chức quan to dưới hàng
Tam công, chỉ những vua Chư Hầu có công đức
được Triều Đ́nh kính trọng mới
được phong chức này) Vua Lê sai tướng là
Đinh thừa Chính đem thủy quân gồm 9 chiến
thuyền đến Thái B́nh quân (Quảng Châu) đón
sứ. Sự đón tiếp sứ thần cố làm
vẻ sơ sài, kiêu ngạo. Khi sứ Trung Hoa sắp
đến kinh đô mới có gian nhà lợp tranh đề
chữ Àmao kinh dichÀ( Trạm qua đường lợp
cỏ tranh) Đến khi quân ra đón ở ngoài thành th́
quân dụng lộng lẫy, cờ xí dàn bầy khắp
nơi. Vua Lê Đại
Hành cùng sứ thần Tống Cảo dong ngựa đi song
song. Theo sách Đại Việt Sử Kư Ṭan Thư th́ vua Lê
đă cho bày thủy quân và chiến cụ để tỏ
ra quân đội nghiêm minh, đă đánh thắng Chiêm Thành
và cũng sẵn sàng bảo vệ đất nước
nếu nhà Tống xâm lăng. Điểm đặc
biệt là khi vào đến cung vua, đến cửa Minh
Đức, vua giơ tay đón lấy bài chế của vua
Tống từ tay sứ thần Tống Cảo để
lên trên điện nhưng không lạy, lấy cớ
bị đau chân v́ ngă ngựa. Sử Trung Hoa cũng xác
nhận vua Lê không chịu lạy. Nên nhớ là khi tiếp
chiếu của Vua Trung
Hoa, vua Việt Nam phải lạy 3 lạy 5
vái, vái Khâm sứ Tàu 2 vái (nhà Nguyễn)(10)
*Mặt khác,
để tỏ nước Việt Nam là một
nước có văn hiến, nên ngay từ nhà Đinh, các
vua nước ta cũng rất thận trọng trong
việc cử sứ thần đi sứ. Ngay từ
đời Lư, vua cử sứ thần là những
người có học vấn như Đào Tôn Nguyên, Lê
văn Thịnh. Đời Trần cử những
người gỉỏi như Phạm Sư Mạnh,
Mạc ĐĩnhChi... Từ đời Lê, phần lớn
những sứ thần đều là người đă
đỗ Tiến sĩ, bởi vậy nhiều sứ
thần như Mạc Đĩnh Chi được
người Tầu kính phục văn tài đối đáp
nên phong cho là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên. Họ
lại c̣n là những người có dũng khí can đảm,
không sợ chết để bảo vệ chính nghiă
quốc gia. Nhiều sứ thần đă hy sinh như Lê Quang Bí bi
giam 18 năm thời nhà Nguyên, Nguyễn Biểu bi thử
thách ăn thịt đầu người rồi bị d́m
chết...
* Các sứ thần
c̣n phải tranh đấu đ̣i Trung Hoa phải bỏ
lệ cống người vàng thay thế tướng
Liễu Thăng chết trận. Đó là công của sứ
thần Nguyễn Công Hăn đời Hậu Lê (Lê Dụ Tông, 1718)
Nhưng gay cấn và dai dẳng là cuộc đấu tranh
chống thái độ của Trung Hoa coi Việt Nam là một
nước Man Di mọi rợ. Rất nhiều phái đoàn
bang giao Việt Nam đều t́m cách chống lại cách
gọi khinh bỉ đó. Năm 1762 khi sứ bộ
Trần Huy Mật sang cống, các quan lại nhà Thanh
vẫn dùng chữ di quan, di mục để gọi sứ
thần ta.
Lê Qúy
Đôn đă
phản bác lại cách dùng khinh miệt đó để
buộc Trung Hoa
phải gọi sứ thần Việt Nam là “An
Nam Cống Sứ “.
Năm 1790 thời Tây Sơn, chúng vẫn
gọi sứ thần ta là “di quan”,
Vơ Huy Tấn đă phản bác và làm thơ biện luận
tỏ rơ sức mạnh của ta. Cho đến tận
thế kỷ 19, năm 1831, khi Lư Văn Phúc đi sứ
bọn quan lại nhà Thanh lại dùng chữ “di
quan”,Lư Văn Phúc đă phản đối,
buộc chúng phải sửa đổi.
Mặc
dù thế, quốc hiệu AN NAM do người Trung Hoa đặt cho
Việt Nam không thay đổi đến tận năm 1804, là năm họ công nhận quốc
hiệu mới là Việt Nam. Quốc hiệu An Nam cũng
bị người Tây phương dùng trong thời hiện
đại để chỉ Việt Nam .
Vua quan Việt Nam dùng h́nh thức khác
để chống lại cái danh từ đầy tính cách
miệt thị này. Trước hết, tuy bề ngoài
nhận phong vương, được thiên triều
gọi là AN NAM QUỐC VƯƠNG, ban cho sắc phong và
ấn vàng tượng trưng cho quyền lực của
thiên triều, nhưng những thứ đó luôn
được cất kỹ. Ấn thiên triều chỉ
dùng trong văn thư ngoại giao với Trung Hoa, c̣n trong
nước th́ các vua Việt Nam vẫn xưng là Hoàng
Đế ngang hàng với Hoàng Đế Trung Hoa. Nước
Việt Nam từ thời nhà Đinh đă có những
quốc hiệu chính thức dùng trong nước và trong
sử sách Việt Nam . Cũng để tỏ ra ngang hàng
với Trung Hoa,
các quốc hiêu này thường có ư nghiă nêu rơ một
nước Việt to lớn, vĩ đại, đó là các
quốc hiệu ĐẠI CỒ VIỆT, ĐẠI
VIỆT, ĐẠI NGU. ĐẠI NAM.
C-Quốc
Hiệu Việt Nam thời độc lập
1. Đại Cồ
Việt (968-1053)
Nếu Vạn
Xuân có thể là quốc hiệu đầu tiên của dân
Việt th́ Đạị Cồ Việt là quốc
hiệu chính thức đầu tiên trong thời kỳ
nước ta đă dành được độc lập.
Sau khi dẹp xong 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua năm
968, đặt quốc hiệu là ĐẠI CỒ
VIỆT. Quốc hiệu này có hai cách gíải thích: Cách
thứ nhất là xem Cồ là một chữ thuần
Nôm.Theo Đại Nam Quấc Âm tự vị của
Huỳnh Tịnh Paulus Của, xuất bản tại Saig̣n
năm 1896, quyển I trang 177 th́ Cồ là lớn, ví dụ
vịt cồ, gà cồ. ( 11) Nếu theo cách giải thích này
th́ Đại Cồ Việt là nước Việt lớn,
lớn tức là hai lần lớn. Vào thời Phùng Hưng,
đă có danh hiệu thuần Nôm Cái trong Bố Cái
Đại Vương và người Việt miền
Bắc thường dùng từ “cáí “
để chỉ chữ lớn như sông Cái, chữ Cái...
Cách gỉải thích thứ nh́ là xem chữ
Cồ là một chữ Nho. Trần Gia Phụng cho biết
như sau : Căn cứ trên
cách viết quốc hiệu Đại Cồ Việt theo
lối chữ Nho của Trần Trọng Kim trong Việt
Nam Sử Lược và dựa vào sách Từ Hải, do Thương
vụ Ấn thư quán xuất bản tại
Thượng Hải năm 1935, trang 954, chữ “Cồ” gồm ở trên hai chữ
ÀmụcÀtượng trưng cho cặp mắt (mắt
sáng), ở dưới là chữ “ chuy” là tên chung của những loài chim đuôi
ngắn. Ghép chung hai chữ mục và chuy thành chữ
cù đọc trệch là cồ có nghiă là loại chim ưng,
mắt sáng đuôi cụt. Loại chim nầy cũng có
thể là những chim cắt, chim đại bàng thỉnh
thoảng ngày nay c̣n bắt gặp trong các vùng rừng núi
Việt Nam (12).
Tự Điển Hán Việt của Đào
Duy Anh cũng cho rằng cồ là sức trông xa của chim
ưng (13). Nếu hiểu chữ cồ là loại chim
ưng mắt sáng th́ quốc hiệu Đại Cồ
Việt có ư nghiă là Nước Việt có chim ưng lớn
mắt sáng” hoặc Nước Việt lớn có
loại chim ưng mắt sáng”
Nếu Đào Duy Anh cho rằng vật tổ
của dân Lạc Việt là những chim lạc có khắc
trên trống đồng,th́ có thể chim ưng là biểu
tượng Việt Nam thời Nhà Đinh, nhà Tiền Lê và
nhà Lư cho đến năm 1054 chăng?
2. ĐẠI VIET(1054-1399)
Nhà Đinh (968-980) trị v́ được 12
năm th́ Lê
Hoàn thay thế, lâp ra nhà Tiền Lê (980-1009).
Năm 1010, Lư Công Uẩn thay thế nhà Tiền Lê, lập ra
nhà LƯ, mở đầu thời kỳ hưng thịnh
của nước ta. Trong suốt thời kỳ này, Trung Hoa tiếp tục
coi Việt Nam là một quận huyện của họ và
chỉ phong cho vua ta chức GIAO CHỈ QUẬN
VƯƠNG. Năm 1164, khi bi rợ Kim uy hiếp phía
bắc và năm 1075, Lư Thường Kiệt đem quân sang
đánh các châu Khâm, Liêm, Ung, Nhà Tống với vua Tống
Hiếu Tông mới chịu đổi tên nước ta
với quốc hiệu mới là AN NAM QUỐC và phong vua ta
làm AN NAM QUỐC VƯƠNG năm 1175
Phan
Huy Chú cho
biết: Về sau ở Trung Hoa, các triều
đại nối nhà Tống, tuy muốn làm cho nhỏ
đi mà không thể đổi khác được. (14).
3.
ĐẠI NGU (1400-1407)
Đại Ngu là quốc hiệu Việt Nam
đời nhà Hồ. Sau khi đảo chánh nhà Trần, Lê Quư Ly lên
làm vua. Lê Quư
Ly vốn ḍng dơi người Chiết Giang bên Trung Hoa. Ông
tổ là Hồ Hung Dật di cư sang Cổ Việt
thời Ngũ Đại (907-959). sinh sống tại làng
Bào Đột, huyện Quỳnh Lưu Diễn Châu (
Nghệ An ), sau con cháu Hồ Hưng Dật là Hồ Liêm di
sang Thanh Hóa, vào làm con nuôi Lê Huấn nên chuyển sang họ Lê
tức Lê
Liêm. Quư Ly là cháu 4 đời của Lê Liêm nên khi
làm vua, Quư Ly trở lại họ Hồ. Theo truyền
thuyết Trung Hoa,
con của Ngu Yên là Vĩ Măn, thuộc ḍng dơi vua Thuấn,
người nước Ngu, được Vua Vũ
Vương nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi
là Hồ Công. Nên nhớ rằng chữ Đại Ngu th́
chữ “ngu” ở đây có
nghĩa là sự yên vui, chứ không phải là ngu si. Ngu c̣n
là danh hiệu của nứơc Ngu thời Ngu Thuấn
(2255-2208 tcn) Có lẽ Quư Ly mơ xây dựng một
Đại Việt hoàng kim như thời Nghiêu Thuấn
chăng?
Năm 1407, nhà Minh, dù đă sắc phong cho
Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc Vương năm
1403, vẫn đem quân xâm lăng Đại Ngu, bắt gia
đ́nh Hồ Quư Ly, xóa quốc hiệu Đại Việt,
thi hành chính sách đồng hóa triệt để.
4.
ĐẠI VIỆT (1428-1804)
Năm 1418, Lê
Lợi khởi nghiă ở Lam Sơn.
Mười năm sau, Lê
Lợi toàn thắng quân Minh, lên làm vua tức
vua Lê Thái Tổ,
đặt trở lại quốc hiệu Đại
Việt. Măi đến năm 1431 sau nhiều thương
thảo của nhiều sứ đoàn, Trung Hoa mới chịu
công nhận và phong cho vua Việt làm “Quyền
thự An Nam Quốc sự” (tạm quyền
coi việc nước An nam). Măi về sau mới phong làm An
Nam Quốc Vương. Nhưng cũng như các
đời trước, quốc hiệu Đại
Việt vẫn được sử dụng cho
đến tận đời Nguyễn Gia Long.(1804)
5.
VIỆT NAM (1804-1837)
Ngay từ khi mới lên ngội, vua Gia Long
đă cử sứ thần sang Trung Hoa xin nhà Thanh phong vương và xin
đổi quốc hiệu là Nam Việt với lư lẽ
rằng Nam là Annam, Việt là Việt Thường. Nhà Thanh
từ chối v́ cho rằng Nam Việt là tên nước
của Triệu Đà ngày trước, bao gồm cả
vùng Lưỡng Quảng Trung
Quốc. Thanh triều cho đổi chữ
Việt ra trước thành tên Việt Nam .
Tháng giêng năm 1804, nhà Thanh sai sứ thần
là Tế Bồ Sâm, Án sát sứ Quảng Tây sang Thăng Long
tuyên phong Gia Long làm Việt Nam QUỐC VƯƠNG. Vua Gia
Long chính thức đặt quốc hiệu là Việt Nam.
Về ư nghĩa từ Việt Nam, nhiều
giả thuyết cho rằng từ Việt Nam kiến
tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và
địa lư (người Việt ở phương Nam ).
Có nhiều tác gỉả cho rằng Nguyễn Trăi trong Dư Địa
Chí và sách Vân Đài Loại Ngữ có nói đến quốc
hiệu Việt Nam từ trước đời Gia Long.
Tác phẩm Dư
Địa Chí có nói đến chữ “
Việt Nam ở mục số 2 và số 13. Vân Đài
Loại ngữ, quyển thứ 3 là khu vũ loại có nhắc
đến chữ Việt Nam. Nhưng theo Trần Gia Phụng th́
đây không phải là quốc hiệu nước ta v́
cả hai tác phẩm của Lê Quư Đôn và Nguyễn Trăi đều
căn cứ vào bộ sử cũ như Toàn thư, Annam
chí lược, Việt sử tiêu án, Cương Mục
hoàn toàn không có nói đến quốc hiệu Việt Nam .
Nguyễn Trăi và Lê
Quư Đôn dùng chữ Việt Nam theo nghĩa
nước Việt hoặc người Việt ở
phương Nam, chứ không phải một nước có
tên là Việt Nam (15). Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có
thể đă xuất hiện sớm hơn. Ngay từ
thế kỷ 14 đă có một bộ sách nhan đề Việt
Nam thế chí ( nay không c̣n ) do Hàn Lâm viện học sĩ
Hồ Tông Tốc biên soạn. Trong tác phẩm của
Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) ngay trang mở
đầu tập Tŕnh Tiên sinh quốc ngữ đă có câu “
Việt Nam khởi tổ xây nền “ Người ta
cũng t́m thấy hai chữ Việt Nam trên những
tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa
Bảo Lâm(1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam
Lộ(1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc
Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đ́nh (1670) ở
biên giới Lạng Sơn có câu đầu: “
Việt Nam hầu thiệt, trấn bắc ải quan”
( đây là cửa ngơ yết hầu Việt Nam và là tiền
đồn trấn giữ phương Bắc)... Hiểu
theo nghĩa Việt Nam quốc hay Người Việt
phương Nam.? ai có lư ?(16))
Sau đây là Chiếu tuyên cáo đặt
quốc hiệu mới của Vua Gia Long do Phan Huy Ích soạn:
Xuống
chiếu cho thần dân thiên hạ đều biết.
Trẫm nghĩ: Xưa nay các bậc Đế Vương
dựng nước,ắt có đặt quốc hiệu
để tỏ rơ sự đổi mới. Hoặc nhân
tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ
nghĩa tốt đẹp. Xét trong sách cũ đă có
chứng cớ rơ ràng.Nước ta sao Dự, sao Chẩn, cơi
Việt hùng cường. từ trước đă có Văn
Lang, Vạn Xuân nhưng c̣n quê kệch. Đến
đời Đinh
Tiên Hoàng, gọi là Đại Cồ Việt,
nhưng người Trung
Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ. Từ
đời nhà Lư về sau quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong
cho ngày trước đặt làm hiệu nước. Do
vậy vận hội dù có đổi thay nhưng trải
bao dời vẫn giữ theo tên cũ, thực là trái
với nghiă chân 1inh dựng nước . Trẫm nối
theo nghiệp cũ, gầy dựng cơ đồ, bờ
cơi đất đai rộng nhiều hơn trước.
Xem qua sổ sách, tuần xét núi sông, nên đặt tên
tốt để truyền lâu dài.
Ban
đổi tên nước là Việt Nam
Đă
tư sang Trung Quốc
biết rơ
Từ
nay trở đi, cơi Viêm bang bền vững, tên hiệu
tốt đẹp gọi truyền.
Hễ
ở trong bờ cơi đều hưởng phúc thanh minh.
Vui
thay.
Nghĩa
xuân thu nhất thống đă truyền khắp bốn
phương, ân huệ lâu dài và muôn phúc cao dày mọi
người cùng hưởng. Vậy bá cáo rộng khắp
để mọi người cùng biết.
Nay
chiếu
Giáp tư
xuân phụng nghĩ tân kiến quốc hiệu tuyên cáo
Mùa xuân
năm Gíáp Tư, vâng lệnh vua sọan bản tuyên cáo
đặt quốc hiệu mới)
Theo Dụ Am văn tập,q. 5, tờ 14b-15b.
Trần Lê Hữu
dịch (17)
6.
ĐẠI NAM (1838-1945)
Vua Gia Long thăng hà vào năm 1820. Vua Minh
Mạng nối ngối (1820-1840) Với chính sách trung
ương tập quyền, Vua Minh Mạng đă đưa
Việt Nam thành một quốc gia lớn rộng và
tương đối hùng mạnh trong vùng Đông Nam Á. Do
vậy, ngày 3 tháng 2 năm Mậu tuất (1938) Vua Minh
Mạng quyết định đổi quốc hiệu
từ Việt Nam sang ĐẠI NAM.
Đại ư lời chiếu của nhà vua nói
rằng... Đức Triệu Tổ (Nguyễn Kim) dựng
nên cơ nghiệp ở cơi Nam, Đức Thế Tổ
(Gia Long) lấy được cả đất Việt
Thường, nhân dân thêm đông, lănh thổ thêm rộng, nay
đổi tên là Đaị Nam, kể từ năm thứ
20 (Minh Mạng), hoặc gọi là Đại Việt Nam
cũng được(18)
Việc thay đổi quốc hiệu
lần này, nằm trong chiều hướng một
quốc hiệu cho nước Việt vĩ đại
ở Trời Nam, dành cho người nước Nam, đă
bắt đầu từ quốc hiệu Đại Cồ
Việt ngày xưa. Đó cũng là sự tiép nối chính
sách coi quốc hiệu Việt Nam như là biểu
tượng cho một cộng đông người Việt
ở Phương Nam, có dân, có đât và có văn hóa ngang hàng
với các nước khác. ó cũng là biểu tượng
của nền độc lập của Đại
Việt, nơi mà ngay từ thời Lư Nam Quốc Sơn Hà
Nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận
tại thiên thư (non sông nước Nam do người Nam
ở, đă ghi rơ trên sách Trời từ lâu)!
Quốc hiệu Đại Nam được
Triều đ́nh Việt Nam dùng đến năm 1945
nhưng thật ra, sau khi kư ḥa ước 1884, Việt Nam
đă bị Pháp xâm lược và thiết lập chế
độ thuộc địa. Nước Việt Nam
bị chia làm ba phần có chế độ chính trị khác
nhau: Bắc Kỳ hay Tonkin theo chế độ bảo
hộ. Nam kỳ hay Cochinchine là thuộc điạ Pháp do viên
Thống Đốc cai tri. Riêng Trung kỳ vẫn thuộc
Đại Nam nhưng bị bảo hộ gián tiếp trên
thực tế. Cả ba phần đều nằm trong Liên
Bang Đông Dương do viên toàn quyền Pháp đứng
đầu. Mặc dù phải chiụ sự đô hộ
của Pháp, Triều Đ́nh Huế vẫn coi nước
ta là nước thống nhất Nam Trung Bắc với
quốc hiệu ĐẠI NAM cho đến tận 1545, dù
rằng người Pháp gọi nước ta là ANNAM và vua
nước ta là Vua Annam
D -
Quốc hiệu Việt Nam vơi các tiêu đề chính
trị
Từ 1945. đất nước Việt Nam
bị cuốn theo cơn lốc chính trị với
những cuộc đấu tranh giành độc lập,
tự chủ hay mưu cầu áp dụng những chủ
nghĩa mới, những hinh thức chính trị mới.
Cho nên từ đấy mỗi khi nắm được
chính quyền và đất nước, các nhà cầm
quyền t́m cách thay đổi quốc hiệu bằng cách
thêm vào quốc hiệu Việt Nam những từ
để nêu rơ đường hướng chinh trị
của ḿnh. Ta lần lượt điểm qua vài thí
dụ:
1.
VIỆT NAM (3-5-1945)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở
Đông Dương và lên tiếng trao trả độc
lập cho Việt Nam . Ngày 11-3-1945, Vua Bảo Đại
công bố Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, hủy bỏ
những ḥa ước đă kư với Pháp, giải tán
nội các của Triều Đ́nh Huế, mời Trần
Trọng Kim lập chính phủ độc lập ra mắt
ngày 17-41945. Ngày 3-5-1945 vua Bảo Đại tuyên chiếu
xác nhận quốc hiệu mới như sau:
Chư Khanh, Nội các này là chính phủ
đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập sau tám mươi năm thuộc quyền ngoại
quốc thống trị..
Hiến Pháp tương lai của Việt Nam
sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc gia,
quân dân hợp tác và quy định những quyền tự
do,chính trị tôn giáo cùng nghiệp đoàn của nhân dân...À
(19)
Như thế bản Tuyên chiếu này mặc
nhiên gọi nước ta là Việt Nam như thời Gia
Long. Các quốc hiệu về sau thường giữ tên
Việt Nam, nhưng kèm những cụm từ để
bổ túc nêu rơ những thể chế chính trị như
Việt Nam Cộng Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa
chẳng hạn.
2.
VIỆT NAM DÂN CHU CỘNG
HOA
Ngày 14-8-1945, Nhật Bản đầu hàng.
Năm ngày sau, Hồ chí Minh và Mặt Trận Việt Minh
Cộng Sản cướp chính quyền tại Hà Nội.
Bảo Đại tuyên bố thoái vị ngày 30-8. Ngày 2 tháng
9 năm 1945, Hồ Chí Minh thành lập nước Việt
Nam DCCH. Quốc hiệu này chỉ rơ rằng Cộng
sản tuy nắm chính quyền nhưng vẫn núp sau chiêu
bài đoàn kết dân tộc để lôi kéo các thành
phần khác trong xă hội .
3. NAM KY
QUỐC hay NAM KY CỘNG HOA
QUỐC
Với ư đồ trở lại Việt Nam,
Pháp ủng hộ việc thành lập một nước
mới bù nh́n nằm trong Liên Hiệp Pháp nên ngày 26-3-1946 chính
quyền Nam Kỳ Quốc hay Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc
(République de Cochinchine) ra đời. Danh xưng này tồn
tại được hai năm, sau đó giải thể,
đổi tên lại thành Chính Phủ Nam Phần Việt
Nam . Chính phủ này sát nhập vào chính quyền Lâm thời
Quốc Gia Việt Nam ngày 2-6-1948. Phần lớn các ư
kiến đều cho rằng, chính phủ hữu danh vô
thực này chỉ là tṛ múa rối của thực dân Pháp nên
không thể coi danh xưng Nam Kỳ Quốc như là
một quốc hiệu được.
4.
QUỐC GIA VIET NAM
Quốc gia Việt Nam là danh xưng của
chính quyền quốc gia trên toàn bộ lănh thổ Việt
Nam, ra đời chính thức từ hiệp ước
Élysée kư ngày 8-3-1949 giữa Tổng Thống Pháp Vincent
Auriol và Bảo Đại. Về danh nghiă,
Quốc Gia Việt Nam là một quốc gia độc
lập, nằm trong khối Liên Hiệp Pháp. Danh xưng
Quốc Gia Việt Nam tồn tại trong 6 năm (1949-1955).
Năm 1955, Ngô Đ́nh Diệm truất phế Quốc
Trưởng Bảo Đại, thành lập chính quyền
mới với quốc hiệu là Việt Nam Cộng Hoà.
Chúng ta nên nhớ rằng ngày 14-1-1950, phe
Cộng Sản Quốc Tế với Liên Sô và Trung Cộng đă
lập tức công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa. Ngày 7-2-1950 Hoa kỳ và Anh quốc thừa nhận
Quốc Gia Việt Nam .
5.
VIỆT NAM CỘNG HOA
Ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève chấm
dứt chiến tranh Đông Dương, chia Việt Nam
thành hai khu vực với hai thể chế khác nhau, lấy
sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm ranh giới.
Phía Bắc theo chế độ CS với quốc hiệu
Việt Nam DCCH, thủ đô là Hà Nội. Phía Nam, là Quốc
Gia Việt Nam . Với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Ngô Đ́nh
Diệm thành công đưa khoảng 1 triệu người
di cư trốn chạy CS vào Nam, tiêu diệt các gíáo phái ly
khai và ổn định t́nh h́nh chính trị.
Ngày 23-10-1955 Thủ tướng Ngô Đ́nh
Diệm tổ chức trưng cầu dân ư, lật
đổ quốc trưởng Bảo Đại. Ba ngày
sau, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố thành lập nền
Cộng Ḥa với quốc hiệu là Việt Nam CỘNG
H̉A, thủ đô là Saig̣n. Việt Nam Cộng Ḥa tồn
tại trong 20 năm và sụp đổ vào ngày 30-4-1975.
6.
CỘNG HOA MIỀN
NAM VIỆT NAM
Năm 1955, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố không
bị ràng buộc vào điều 4 hiệp định
Geneve 1954 nên sẽ không có tổng tuyển cử thống
nhất Việt Nam . Chính phủ Việt Nam DCCH ở Hà
nội quyết định dùng vơ lực xâm lăng
Việt Nam CH. Ngày 20-121960 Hà Nội thành lập Mặt
Trận Dân Tộc Gỉải Phóng Miền Nam Việt Nam
về phương diện quân sự. Đến ngày
10-6-1969 họ mới thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm
thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam. Nhưng chính
phủ nay không đất không dân nên caí gọi là CHMN
Việt Nam, tương tự như danh xưng Nam Kỳ
Quốc, danh xưng Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam,
một trong những chiêu bài chính trị để lừa
bịp nhân dân quốc nội và quốc tế, cũng không
phải là một quốc hiệu được công
nhận.
7.
CỘNG HOA XHCN VIỆT
NAM .
Đó là lư do mà sau 30-4-1975. Việt Nam DCH
nắm thực quyền trong cả nước Việt Nam
nhưng vẩn duy tŕ chính phủ bù nh́n Cộng Ḥa Miền
Nam Việt Nam và cả hai chính phủ Việt Nam DCCH và CHMN
Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc nhưng
bị khước từ. Quốc tế không ngu tí nào.
Cho nên, năm 1976, Hà Nội tiến hành
gỉải tán chính phủ lâm thời CHMN Việt Nam,
thực hiện cuộc “hiệp
thương thống nhất nước nhà về mặt
nhà nước” Ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa 6
nước Việt Nam DCCH quyết định đổi
tên nước là CHXHCN Việt Nam, thủ đô là Hà
nội. Tṛ chơi lấy quốc hiệu đi bịp thế
giới tạm chấm dứt!
Nhưng chưa đâu!. Vào tháng 4 năm 2007,
Đảng Cộng Sản Việt Nam t́m cách tung tin
đề thăm ḍ việc dùng quốc hiệu Việt Nam
như là một lá bài chính tri để lừa bịp nhân
dân quốc nội và quốc tế một lần nữa.
Tờ Straits Time của Singapore đưa tin:
Một số các nhà lănh đạo trong Đảng CS
Việt Nam đang cân nhắc việc trở lại tên
Đảng Lao Động Việt Nam. tức là tên do
Hồ Chí Minh đổi từ Đảng CS Việt Nam
sang từ năm 1951. Phóng viên Roger Mitton ở Hànội và
Gíáo sư Tương Lai, nguyên Viện Trưởng
Viện Xă Hội Học Hànội, cùng đưa tin
rằng ĐCS Việt Nam sẽ bỏ danh xưng CS,
trở lại với tên Đảng Lao Động
Việt Nam cùng với tên nước là Việt Nam Dân
Chủ Cộng Ḥa. Âm mưu này nhằm đánh lừa, môt
lần nữa, mọi người về chủ nghĩa
CS đă bị đào thải trên thế giới.(20)
Như thế có thề trong tương lai,
lại một lần nữa, quốc hiệu Việt Nam
của chúng ta lại bị dùng như một công cụ
lừa bịp chính trị vậy.
Thay
lời kết
Quốc hiệu do người đặt ra
thay đổi với thời gian và nhu cầu của con
người. Quốc gia dân tộc là một thực
thể bền vững hơn nhiều. Do vậy, dù
quốc hiệu nước ta có mang tiêu đề chính tri
phe phái nào, hai tiếng Việt Nam vẫn vĩ đại
và trường tồn trong tâm tư của mỗi
người con dân Việt. Việt Nam vẫn' nghe từ
vào đời', bây giờ và maĩ maĩ về sau....
Montréal 10/2007
Quản Hùng
Chú Thích:
1. Đào Duy Anh: Tự điển Hán Việt.
Nxb KHXH 1996 tr. 576
2.
Đào duy Anh, sđd, tr. 168
3
.Đào duy Anh tr. 168
4.
Trần Gia Phụng, Việt Sử Đại Cương
Nxb Non nước, Toronto, 2001 tr. 64
5.
như trên . tr. 65.
6.
Trương
Thái Du; Cổ sử Việt Nam, một cách
tiếp cận vấn đề. Nxb Lao Động 2007
7.
Xem quan điểm của Lê văn Hưu và Ngô sỹ Liên
trích trong Wikipedia tiếng Việt tr. 5
8.
Trần Gia Phụng, Những câu chuyện Việt sử,
Toronto 1999 tr. 65
9.
Nguyễn Thế Long, Chuyện đi sứ -tiếp sứ
Thời xưa. Nxb Văn Hóa Thông tin 2001 tr. 24
10. Nguyễn Thế Long, sđd, tr. 63-64
11. Trần Gia Phụng, Những câu chuyện
Việt Sử tr. 37
12.
id trang 38
13.
Đào Duy Anh, Tự điển Hán Việt, sđd, tr. 110
14.
Nguyễn Thế Long, sđd, tr. 24
15.
Trần Gia Phụng, Những câu chuyện Việt Sử,
sđd, tr. 51, 52.
16.
Wikipedia, tr. 5
17.
Trần Gia Phụng : Những câu chuyện..sđd,. tr. 13-14
18.
Trần Gia Long, những câu chuyện.. sđd,tr. 45
19.
Trần Gia Phụng, Những câu chuyện Việt sử,
tr.46
20.
Saigon Nhỏ, số 12 ngày 26-10-2007.tr.11