Nguyễn An Ninh và Báo Tranh Đấu
BS Trần Nguơn Phiêu
Trong
hai thập niên 1930-1940, t́nh h́nh chánh trị ở miền Nam
đă có một thời sôi động mănh liệt do sự
xuất hiện của Nguyễn An Ninh trên diễn đàn
công luận. Tốt nghiệp cử nhân Luật năm 1920
sau một thời du học ở Pháp, nơi mà ông đă
được dịp gặp gở, học hỏi, tranh
luận với những nhân vật ái quốc lưu vong
trên đất Pháp như Phan Văn Trường, Phan Châu
Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành (Nhóm
Ngủ Long)..., Nguyễn An Ninh đă nghe theo lời khuyên
của Phan Châu Trinh trở về nước t́m cách mở
mang dân trí, trực diện tranh đấu chống chánh
quyền thực dân thuộc địa. Bài diễn văn “Cao vọng thanh niên” của
ông đọc trong đêm 15-10-1923 tại hội Khuyến
học SAMIPIC đă có kết quả như một quả
bom được phát nổ, mở màn cho một phong trào
cách mạng trong ḷng dân chúng miền Nam.
H́nh
ảnh một trí thức khoa bảng Nguyễn An Ninh
đứng bán báo Chuông Rè (La
Cloche Fêlée) của ông ở góc đường Catinat -
Lagrandière đă đánh động lương tâm của
giới trẻ trí thức miền Nam. Nguyễn An Ninh
được giới thanh niên ngưỡng mộ, xem ông
là một thần tượng. Những người có tâm
huyết yêu nước như Phan Văn Hùm, sau khi tốt
nghiệp nghành Công chánh ở Hà Nội, đă trở về
Nam sát cánh với Nguyễn An Ninh di chuyển khắp vùng
Lục tỉnh để vận động quần chúng.
Cả hai nhà cách mạng đều đă phải vào tù sau
vụ bị mật thám Cai Nên khiêu khích ở ga xe lửa
Bến Lức. Phan Văn Hùm đă nhân vụ nằm Khám
Lớn sau vụ “án ga Bến Lức” viết lên tác phẩm ”Ngồi Tù Khám Lớn”,
vạch trần các đối xử dă man của chế
độ lao tù thực dân cho đồng bào thấu rơ.
Chánh quyền thực dân đă phải ê mặt cho tịch
thâu ngay sách vừa xuất bản. Một nhà cách mạng
khác là Tạ Thu Thâu trong thời trẻ vẫn đặt
h́nh Nguyễn An Ninh nơi trang trọng nhất ở pḥng
khách của một căn phố nhỏ ở
đường Thốt Nốt (Gia Định) để
tỏ ḷng ngưỡng mộ.
Sự
xuất hiện của tờ báo La Cloche Fêlée của Nguyễn An Ninh đă mở
đầu ở miền Nam, một h́nh thức mới,
công khai trực diện tranh đấu với chánh
quyền thực dân thuộc địa. Sau cuộc
khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc Dân
Đảng bị thất bại và bị thực dân Pháp
đàn áp khốc liệt cũng như phong trào
được gọi là ”Xô
viết Nghệ Tỉnh”của
Cộng Sản Đệ Tam bị thảm bại,
việc sử dụng bạo lực đấu tranh đă
đi vào một giai đoạn thoái trào tưởng
chừng như không lối thoát.
Cuộc
án xử tử 13 vị anh hùng Yên Báy đă được
những người ái quốc Việt Nam ở Pháp
dấy lên một phong trào phản đối rầm rộ
để đánh động dư luận quần chúng
Pháp. Cuộc tổ chức biểu t́nh xin giảm án tử
h́nh trước dinh Tổng thống Pháp ngày 22- 5-1930 đă
đưa đến việc Pháp trục xuất về
Việt Nam 19 sinh viên đang du học (1). Chuyến tàu Athos II rời cảng Marseille
ngày 24-6-1930 để đưa những người
phần tử làm rối an ninh trên đất Pháp đă
thật sự đưa những ngọn lửa
đấu tranh về mảnh đất miền Nam
đang khao khát tự do. Chánh quyền Pháp đă vô t́nh
đưa trả về rừng một đàn mănh hổ
trẻ trung đầy nhiệt huyết. Kể từ
đó, trên báo chí miền Nam đă xuất hiện nhiều
bài viết phổ biến lư tưởng cách mạng xă
hội của những trí thức đă có dịp tiếp
xúc với trào lưu văn hóa Âu Mỹ.
Năm
1932, Nguyễn Văn Tạo cùng Nguyễn An Ninh cộng tác
ra báo tiếng Việt Trung
Lập cùng với Phan Khôi và Bùi Thế Mỹ. Trần
Văn Thạch đă được dân chúng biết
đến tên nhờ những bài báo chống nhóm Lập
Hiến của Bùi Quang Chiêu và các bài đề cao vai tṛ công
nhân. Đồng thời trên các báo Phụ Nữ Tân Văn hoặc Đồng Nai của Phan Văn Hùm đă bắt
đầu có những bài viết của Nguyễn An Ninh,
Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Tạo
v.v...Ở miền Nam, sự tranh đấu đối
đầu với thực dân bằng h́nh thức bạo
động hoặc báo chí bí mật nay đă chuyển sang
h́nh thức trực diện đấu tranh với
phương cách vận động quần chúng bằng báo
chí công khai.
Ngay
sau khi bị cưỡng bức hồi hương về
miền Nam, các sinh viên tả phái thân Tạ Thu Thâu đă
bắt tay tổ chức nhóm Tả
đối lập.
Nhóm này đă nhen nhúm thành h́nh ở Pháp dưới danh
xưng Đông Dương Tả Phái Cộng Sản
với tờ báo Tiền Đạo. Nhóm khởi đầu
gồm Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn
Phương...là những người tán thành ư kiến
của nhóm A. Rosmer trên báo La
Vérité ở Pháp, chống đối đường
lối của Quốc tế Cộng Sản stalinien .
Tờ Tiền Đạo
đă viết: ”Quốc
tế Cộng sản đă nói rất nhiều, nhưng
đă làm rất ít, không có một tờ báo nào để cổ xúy chủ
trương cộng sản ở các thuộc địa,
không xuất bản được một sách nào về các
cuộc cách mạng ở các thuộc địa, nhất
là ở Đông Dương”.
Tháng
Giêng năm 1931, Hồ Hữu Tường từ Pháp về
đă liên kết được thêm với nhóm Vùng Hồng
của Đào Hưng Long, một thành viên của
Đảng Cộng sản miền Tây, vùng Bạc Liêu.
Đào Hưng Long theo xu hướng của Ngô Gia Tự
nhưng trách đảng đă không chú ư đến giới
thợ thuyền. Nhóm này đă sát nhập với nhóm tả
phái đối lập từ Pháp về, thường
được gọi là nhóm Tháng Mười. Đến
tháng Tám năm 1932, một phần đảng Cộng
sản Đông Dương ở chi bộ thành phố Sài
G̣n dưới sự điều động của Lưu
Sanh Hạnh, đă tách riêng khỏi đảng v́ tranh
chấp nội bộ để đồng ư gia nhập
vào nhóm của Tạ Thu Thâu.
Ngày
6-8-1932, đảng Cộng sản ở miền Nam đă
bị chánh quyền thực dân ra tay đàn áp phá hủy.
Nhóm trốtkít vừa mới phôi thai thành h́nh cũng bị
phá tan khi 12 thành viên phải ra ṭa lănh án ngày 1-5-1933. Trong ba
năm sau đó, nhóm Đệ tứ ở miền Nam
kể như bị tê liệt.
Rút
tỉa các kinh nghiệm về các khó khăn, trở
ngại, bị g̣ bó khi phải hoạt động trong t́nh
huống hoàn toàn bí mật, ư muốn thành h́nh công khai báo Tranh Đấu đă nảy
sinh từ đó. Người có công trong việc này là
Nguyễn An Ninh, một nhà cách mạng độc lập,
có xu hướng thiên mạc xít nhưng đă chọn
thế đứng giữa chủ trương stalinít và
trốtkít. T́nh thế chính trị thời bấy giờ
cho thấy đảng Cộng sản Đông Dương
có cơ sở bí mật vững chắc nhất là ở
vùng nông thôn nhưng thiếu cán bộ trí thức có tầm
vóc. Nhóm trốt kít th́ tương đối có cán bộ có
bản lĩnh hơn nhưng chưa đặt
được các tổ chức chặt chẽ trong
giới thợ thuyền và nông thôn. Nếu hai tổ
chức trên được phối hợp lại th́
mới mong có thể thành h́nh cuộc tranh đấu công
khai với chánh quyền thực dân.
Cuộc
bầu cử Hội đồng Thành phố Sài G̣n ngày 30
tháng Tư và 7 tháng Năm năm 1933 mở màn cho một
chuyến tuyến thống nhất của hai cánh tả
để đối phó với phe Lập Hiến, phe
độc nhất có mặt trong các cuộc bầu cử
trong quá khứ. Liên danh Nguyễn Văn Tạo - Trần
Văn Thạch đă lần đầu tiên nêu lên các yêu sách
giới công nhân về các nhu cầu cơm áo cho lao
động mất việc, thành lập nhà giữ trẻ
cho công nhân, quyền đ́nh công, 8 giờ làm việc mỗi
ngày, phổ thông đầu phiếu v.v...Cổ động
bằng báo Việt ngữ
Trung Lập không đủ nên cần phải ra ngay
một báo Pháp ngữ v́ dễ xuất bản theo các
thủ tục dành cho báo Pháp. Tờ La Lutte (Tranh Đấu) số đầu tiên v́
thế được phát hành ngày 23 tháng Tư năm 1933,
đánh dấu một giai đoạn mới
Năm
1930, sau cuộc khởi nghĩa Yên Báy bị thất
bại, Việt Nam Quốc Dân Đảng hầu như
bị thực dân Pháp tiêu diệt hoàn toàn. VNQDĐ chỉ
c̣n vài tờ báo bí mật ở biên giới Trung Hoa. Về
sau, VNQDĐ mới gây được ảnh hưởng
nhờ tạp chí Phong Hóa
(1932-1936) và Ngày Nay (1935)
của Nguyễn Tường Tam. Đảng Cộng
sản Đông Dương cũng ở vào t́nh thế
bị phá nát sau sự thất bại của phong trào Xô
Viết Nghệ Tĩnh bị thực dân thẳng tay
đàn áp.
Quốc
tế Cộng sản đă t́m cách hỗ trợ
đảng Cộng sản Đông Dương trong các
năm 1931 và 1932 nhưng đă không thành công. Để giúp
đảng CSĐD gầy dựng lại tổ chức,
tiếp tục hoạt động xây dựng phong trào
quần chúng công nhân, Quốc tế Cộng sản đă bí
mật chấp thuận đề nghị của
đảng Cộng sản Pháp, tán thành chủ trương
của Nguyễn An Ninh. Ông Ninh ra phương án kết
hợp các anh em trí thức trẻ, đầy nhiệt
huyết trong giới cộng sản Đệ Tam như
Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn
Văn Nguyễn...và trong giới Đệ Tứ như
Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan
Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Hồ Hữu
Tường...để thành lập nhóm Tranh Đấu.
Lợi dụng các dễ dăi khi xuất bản báo tiếng
Pháp ở Nam Kỳ, nhóm cho ra đời tờ La Lutte, cơ quan tranh
đấu để cổ động tranh cử vào
Hội đồng thành phố Sài G̣n. Ngày 7-5-1933, nhóm đă
đưa được hai người trúng cử và hai năm
sau, ngày 12-5-1935 có bốn người đă ngồi vào
Hội đồng thành phố. Tuần báo La Lutte chỉ ra được 4 số nhân
cuộc vận động bầu cử năm 1933.
Việc tái bản của La
Lutte đánh số 5, đầu tháng Mười 1934 và
phát triển mạnh đến năm 1937 có thể nói là do
công tŕnh của Nguyễn An Ninh.
Hồ
Hữu Tường đă có viết gần một
chương về các vận động của Nguyễn
An Ninh (40 Năm Làm Báo)(2) để thành h́nh nhóm Tranh Đấu.
Nguyễn An Ninh đă có các tiếp xúc với phái đoàn
của phái bộ cộng sản Pháp Paul Vaillant Couturier
(tháng 8 năm 1933) và nhất là Gabriel Péri (tháng 2 năm 1934).
Ông Ninh cho biết ư định thành lập nhóm để
xuất bản một tờ báo tranh đấu công khai
với giới thực dân Pháp. Các thành viên viết bài
sẽ không kư tên v́ đồng có lập trường chung.
Chỉ khi bài viết không được cả ban biên
tập đồng ư, lúc đó mới để tên
người viết. Cả hai bên Đệ Tam và
Đệ Tứ sẽ không tranh luận đả phá nhau
về vấn đề lập trường. Nhà cầm
quyền thực dân là đối tượng hứng
chịu mũi nhọn. Nguyễn An Ninh có đề cập
trong buổi hội quan trọng này là có thể có
được nguồn tài trợ cho tờ báo nhưng sau
này, Hồ Hữu Tường có cho biết là tờ Tranh
Đấu chưa hề nhận được tài trợ
nào của Quốc tế cộng sản.
Khác
với tờ La Cloche Fêlée
của Nguyễn An Ninh đă được phát hành không
định kỳ, La Lutte là tuần báo được phát
hành liên tục và từ ngày 1-11-1936 trở về sau mỗi
tuần lại ra được hai số. Từ ngày
14-1-1936 khổ báo tăng gấp đôi và đến tháng 11
năm 1936, số báo in đă tăng gấp đôi hơn
trước. Các đơn xin cho phép ra ấn bản
bằng tiếng Việt
đều được phủ Toàn Quyền từ
chối, một lần vào ngày 13-5-1935 và lần thứ hai
vào năm 1937. Tuần báo viết bằng Pháp ngữ, lúc
khởi đầu chỉ in được độ 500
số vào năm 1933 nhân dịp vận động tranh
cử vào Hội đồng Thành phố tuy chỉ ra
được 4 số nhưng
đă được giới trí thức ủng
hộ nồng nhiệt. Chương tŕnh tranh cử đă
được những trí thức, công, tư chức
phổ biến lại bằng tiếng Việt.
Đặc biệt ông Nguyễn An Ninh là người có tài
đem các vấn đề thời sự của báo ra bàn
căi với các đám đông mỗi khi có được
dịp. Tháng 10 năm 1934, La
Lutte được tục bản trở lại
với số in 1000 đến năm 1936, tăng lần
lên 2000 trong cuối năm đó và ổn định ở
mức 3000 năm 1938.
Thống
đốc Nam kỳ là Pagès trong báo cáo chánh trị ngày
29-10-1935 đă viết (3):
“Tuy số in nhỏ nhoi, ngay
từ 1935, báo La Lutte được chuyền từ tay
người này qua người khác, và khi cần,
được giải thích miệng cho từng nhóm nhỏ.
Nó trở thành cuốn sổ yêu sách của mọi phần
tử bất măn, tự phát hay bị sách động,
gởi tới các cấp công quyền, tổng hợp
những yêu cầu trước kia lẻ tẻ và biệt
lập. Nó biểu thị dũng khí của lực
lượng quần chúng, ư
thức về quyền của ḿnh, dám biểu lộ
trước quyền lực, và trước làn sóng như
thủy triều dâng cao như vậy, chánh quyền cảm
thấy hoang mang”.
La Lutte
tuần nào cũng có bài phân tích về t́nh h́nh chánh trị
quốc tế và Pháp. Đó là những bài b́nh luận
được đánh giá hay nhất ở Đông
Dương. Ban biên tập La Lutte viết rất thuần
nhất nhờ việc thảo luận tập thể. Bài
trên nguyên tắc không có kư tên cá nhân. Lê Văn Thu làm Thư kư
ṭa soạn. Phan Văn Chánh viết các bài trong ”Tin Quốc Tế”,
Trần Văn Thạch nổi tiếng với mục châm
biếm ”Những
cái đinh nhỏ” (4). Mục này của Trần Văn Thạch
đă giúp cho sự thành công của La Lutte do một phần
lớn đọc giả Pháp mua báo để đọc
mục này; một số người Pháp có khi lại giúp
cung cấp đề tài để tác giả viết!
Hồ Hữu Tường và Phan Văn Hùm phụ trách trang văn hóa. Các
bài chánh trị do Nguyễn Văn Tạo, Dương
Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Tạ Thu Thâu
đảm nhiệm. Theo nhân chứng Hồ Hữu
Tường, linh hồn của tờ báo là Tạ Thu Thâu
phụ trách các bài xă luận. Khi Tạ Thu Thâu sang Xiêm vào tháng
7 năm 1937 th́ báo ngưng xuất bản.
Julien
Godart, bộ trưởng thuộc đảng Cấp
tiến được Mặt trận B́nh Dân gởi sang
thăm Đông Dương đă viết: (5)”Tôi phải nói lên ở đây
ư kiến của tôi về những nhà báo, những trí
thức mà tôi vừa kể. Đó là những thanh niên
xuất bản tờ Le Travail
ở Hà Nội và tờ La Lutte
ở Sài G̣n, và tổ chức bênh vực thợ thuyền.
Báo của họ rất hay, tương phản hẳn
với báo chí chánh trị Pháp ngữ mà tŕnh độ quá
thấp. Đó là những tờ báo chiến đấu, do
những người trẻ tuổi đầy nhiệt
huyết làm ra, khi họ b́nh luận về những xác
thực đă làm cho người lao động bị
thiệt tḥi, th́ họ không nương tay. Các bản báo cáo
chung về kinh tế và xă hội mà họ đă thảo ra
và trao cho tôi đều xuất sắc. Chính quyền t́m
đủ mọi cách cấm đoán Le Travail và La Lutte,
nhưng điều này không thủ tiêu được
những sự kiện mà họ phát hiện’.
La Lutte
thật ra là một doanh nghiệp rất nghèo nàn. Ṭa
soạn lúc đầu là một căn phố thuê của
Chú Hỏa ở số 25 bis đường Lagrandière,
gần Khám Lớn Sài G̣n. Sang tháng Ba năm 1937 mới
được dọn sang một căn hộ rộng răi
hơn cũng của Chú Hỏa ở số 95E cùng
đường cũ. Trong ṭa soạn chỉ có vài máy
đánh chữ. Phương tiện ”sang” là một xe hơi cũ do
Tạ Thu Thâu mua. Ṭa soạn trang bị sơ sài thật ra
cũng do suy tính phần nào của anh em ṭa báo. Năm 1935,
khi ban biện tập nhận được giấy
đ̣i thuế và đ̣i tiền phạt, họ đă nói
đùa: ”Ṭa soạn chúng tôi là sắc
sắc, không không. Đầy những thứ hầm bà
lằng. Giá trị tổng cộng không đến mấy
chục. Nhưng đối với sở thuế th́
chẳng có chút giá trị phát mại nào. Xin mời quư ngài!
Quư ngài chộp được không khí th́ cứ tịch thâu”.
Việc
phát hành báo là một việc vô cùng khó khăn v́ các ngăn
cản của chánh quyền thực dân. Mua một tờ La Lutte nơi công cộng
kể như làm một chuyện nguy hiểm có thể
bị theo dơi. Chỉ có người Pháp là những
người mua báo bày ở các quầy. Các bản khác
được phổ biến nhờ các em bán báo cất
giấu để bán hoặc các học sinh đi bỏ báo
ở nhà hoặc ở các trường v́ các biên tập ṭa
báo phần lớn là giáo sư của các em ở các
trường tư. Thu
nhập của báo La Lutte v́
thế thường không đều đặn. Tài chánh
chủ yếu dựa trên sự đóng góp mỗi
người trong nhóm: “Chúng
tôi đứng trụ được hoàn toàn do sự hy
sinh tiền bạc của chính chúng tôi và của bạn bè
thân tín...Từ khi La Lutte ra
đời, cách đây ba năm, các biên tập viên đă
bỏ vào quỹ những món tiền lớn, và cố nhiên,
không người nào trong chúng tôi nhận tiền thù lao
của tờ báo cả”.
Việc này đă có thể thực hiện được
nhờ ở đồng lương khá cao của trí
thức biên tập viên phần đông là giáo sư ở các
trường tư thục. Phan Văn Chánh dạy khoa
học, Hồ Hữu Tường dạy toán, lương
tháng của họ vào khoảng 300 đồng, gấp 10
lần một người làm công trong tiệm buôn. Trần
Văn Thạch, giáo sư Pháp văn lănh 400 đồng.
Tạ Thu Thâu được trên 500 mỗi tháng. (6) Ngoài ra, do động cơ yêu nước,
báo La Lutte đă nhận
được sự tài trợ của các trạng sư,
bác sĩ , kỹ sư, địa chủ, doanh nhân, các
chủ công ty đă đăng quảng cáo trên báo... Hồ sơ sở mật thám Pháp đă kê khai
danh sách nhiều cảm t́nh viên của tờ báo. La Lutte có thêm được
một cơ sở kinh doanh khi thành lập chi nhánh Sài G̣n bán
chiếu của công ty dệt
chiếu Fabrinat ở Phát Diệm. Người sáng lập
công ty là Nguyễn Thế Rục, một người
được đào tạo ở trường
Phương Đông ở Moskwa từ 1925 đến 1928,
bị Pháp bỏ tù năm 1931. Nguyễn Thế Rục là
người đă phát hành báo Le
Travail ở Hà Nội. Quản lư chi nhánh Fabrinat,
đối diện với ṭa báo La
Lutte là bà Tạ Thu Thâu (7),
tức Nguyễn Thị Ánh, một cựu sinh viên Việt
Nam đầu tiên đă thi đậu bằng Tú tài ở
Pháp. Ngoài ra trong giới tiểu thương vùng Sài G̣n,
Chợ Lớn c̣n có 51 người đăng quảng cáo
trên báo. Theo Hồ Hữu Tường cho biết, La Lutte không tính tiền
đăng quảng cáo nhưng khi tờ báo gặp khó
khăn tài chánh th́ các tiểu thương này sẵn ḷng giúp
tài trợ ngay.
La Lutte
đặt cho ḿnh nhiệm vụ gây ư thức trong giới
lao động về quy tŕnh của các tương quan xă
hội. Giúp sự giác ngộ để mở rộng nhản
quan lịch sử của các tầng lớp nhân dân. La Lutte
tự xác định là: một kho tư liệu, một
cơ quan giáo dục và định hướng cho phong trào
công nhân Việt Nam, một công cụ huấn nghiệp
để t́m hiểu thế giới. Lần đầu
tiên, La Lutte là tờ báo công
khai cung cấp nhiều thông tin về chủ nghĩa Mác và
phong trào công nhân quốc tế. Có thể nói La Lutte đă bổ sung cho các báo bí mật như Tạp chí Cộng sản hay Bôn Sơ Vic. Trong số 16, La Lutte đă đăng
lại bài về trại tù Lao Bảo của Tạp chí Cộng sản số
7. Việc cộng tác giữa hai phái Đệ Tam và
Đệ Tứ trong mặt trận Thống nhất Tranh
Đấu xảy ra suông sẽ cho đến năm 1937.
Tuy
nhiên, ngày 2 tháng Năm 1935, một tiếng sét nổ ra làm
xáo trộn giới cách mạng: Stalin kư với Laval của
Pháp ”Hiệp ước Hổ
tương Pháp – Sô”. Stalin chính thức chấp
nhận cho Pháp phát huy lực lượng quân sự
để bảo đảm an ninh. Đảng Cộng
sản Pháp liền ngoan ngoăn theo chỉ thị Stalin,
dập tắt mọi tinh thần chống quân sự và ra
mặt ủng hộ toàn vẹn lănh thổ của
Đế quốc Pháp, giải tán bộ máy hoạt
động bí mật trong quân đội Pháp. Tại Moskova,
Quốc tế Cộng sản nhóm Đại hội
lần thứ 7 và cũng là lần cuối cùng, từ 25-7
đến 20-8-1935 hủy bỏ các chỉ thị năm
1928 về chánh sách ”thời kỳ thứ ba”, chánh sách lật đổ chế độ
tư bản toàn thế giới. Để ngăn chặn
nguy cơ Hitler, Stalin t́m cách liên minh với chủ nghĩa
đế quốc Pháp. Năm 1938 đảng CS Pháp kêu
gọi người An Nam hăy cùng người Pháp bảo
vệ cho ”nước Pháp đang bị
(Nhật bản) đe dọa ở Đông Dương”. Đảng Cộng sản Đông
Dương phải điều chỉnh con
đường cách mạng của đảng. Ngày 1 tháng 7
năm 1935, tuyên ngôn Đại hội Macao c̣n viết: ”Cách
mạng chống đế quốc và cách mạng ruộng
đất ở Đông Dương muôn năm!”. Nhưng đến cuối năm 1935,
khẩu hiệu phản đế và cách mạng
điền địa năm 1930 đă được
ĐCSĐĐ thay đổi cho phù hợp với các
quyết định cải lương của Đại
hội 7 QTCS: ĐCSĐD nối gót theo ĐCS Pháp, hô hào cùng
pḥng thủ Đông Dương!
V́
đă có sự giao ước giữa hai nhóm Đệ Tam
và Đệ Tứ trong ban biên tập, tờ La Lutte im tiếng không bàn
luận đến hiệp ước Laval- Stalin cũng
như không phê phán đến chủ trương mới
của QTCS. Sự giao ước không chỉ trích nhau
về chủ trương của mỗi đảng trong
mặt trận thống nhất Tranh Đấu đă
khiến vài thành viên như Hồ Hữu Tường
cảm thấy ”ngứa ngáy không chịu
được”. Hồ Hữu Tường
đă bí mật thành lập ”Chánh
đoàn Cộng sản Quốc tế. Phái tán thành
Đệ tứ Quốc tế” với
Lữ Sanh Hạnh, Ngô Văn Xuyết, Ngô Chỉnh Phến
và sinh viên Trịnh Văn Lầu (học tṛ của Tạ
Thu Thâu). Tháng 10 năm 1935, tổ chức này xuất bản
tạp chí lư luận Cách
Mạng Thường Trực và tờ báo chiến
đấu Tiền Đạo
để tŕnh bày các quan điểm của Tả
Đối lập đối với các vấn đề
thời sự quốc tế. Tổ chức này nhắc
lại các chủ trương của những người
cộng sản đối lập, không chấp nhận vai
tṛ phải ngoan ngoăn pḥ trợ chánh sách đối ngoại
Liên Sô. Nếu có chiến tranh đế quốc, các đảng
cộng sản phải biến đổi đế
quốc chiến tranh thành nội chiến cách mạng.
Đó mới là hành động cách mạng của giai
cấp vô sản để bảo vệ Liên Sô.
La Lutte
đă nhờ được sự cộng tác của giáo
viên, các thanh niên có học ở khắp xứ. Diễn Dàn Bạn Đọc
là một mục rất phong phú, chuyên đăng về
đời sống công nhân ở các doanh nghiệp lớn,
các công sở, các nhà tù, kể cả Côn Đảo và đă
thúc đẩy đến nhiều việc điều tra
tại chỗ. Các thơ của đọc giả đă
trở thành một động lực chánh trị mà La Lutte đă biết cách phát
huy. Ṭa soạn La Lutte đă
trở thành điểm hẹn của những
người bị ức hiếp, được nhà báo
bênh vực. La Lutte đă phát
động được sáng kiến chủ động
của quần chúng.
Có
thể nói là tờ La Lutte
đă mở ra một chu kỳ đấu tranh chính trị
công khai mới ở miền Nam Việt Nam. Các báo chí ở
Đông Dương từ trước đă bị chánh
quyền thực dân g̣ ép tê liệt trong những khuôn
khổ chật hẹp. Sự vận động quần
chúng với nội dung phong phú của La Lutte đă chứng tỏ khả năng lôi
cuốn của tờ báo trong hoạt động công nhân và
nông dân. Chánh quyền thực dân phải thú nhận đă
bị tờ La Lutte phá tan
cái thế chủ động của họ trước
kia.
Nguyễn
An Ninh là người có công chủ trương h́nh thành tái
bản báo La Lutte kể
từ số 5 tháng Mười năm 1934 với sự
kết hợp hai phái Đệ Tam và Đệ Tứ
ở miền Nam trong việc đồng thanh góp sức
chống đối hữu hiệu với chủ quyền
thực dân thuộc địa. Trên thế giới, sự
bắt tay hi hữu giữa Đệ Tam và Đệ
Tứ này chỉ có xảy ra độc nhất ở
miền Nam. Hồ Hữu Tường đă gọi
việc này là một ”quái thai lịch sử”. Việc hợp tác hữu hiệu và lợi
ích này đă phải chấm dứt năm 1937 sau khi
Cộng sản Đệ Tam Việt Nam được
chỉ thị từ đảng cộng sản Pháp
đưa sang. Bức thơ của Gitton (8) , phụ trách phân bộ
thuộc địa của đảng Cộng sản Pháp
gởi cho phái Đệ Tam ở Sài G̣n ngày 19-5-1937
được người thủy thủ chuyển thơ
đưa lầm cho Tạ Thu Thu Thâu thay v́ cho Nguyễn
Văn Tạo. Gitton viết: “Chúng
tôi xét rằng không thể nào tiếp tục hợp tác
giữa Đảng và những người xu hướng
Trotsky, theo các chỉ thị (ở Moscou) chúng tôi đă
nhận được để truyền lại các
đồng chí, về thái độ đối với
những người xu hướng Trotsky ở Đông
Dương”. Phe Đệ Tam liền ly
khai khỏi tờ La Lutte và
tung ra tờ L'Avant Garde (Tiền Phong) ngày 29-5-1937. Kể từ đó,
La Lutte hoàn toàn do nhóm
Đệ Tứ điều hành. Sau ngày quân Nhật
đảo chánh thực dân Pháp ở Đông Dương ngày
9 tháng 3 năm 1945, tờ La
Lutte tái bản toàn bằng Việt ngữ và xuất
hiện trên các sạp báo Sài G̣n với tên Tranh Đấu.
Hồ
Chí Minh, thủ hạ làm việc có ăn lương
của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, tuân hành
các chỉ thị thượng cấp, cũng đă từ
ngoại quốc gởi về thêm ”Ba
lá thư từ Trung Quốc”(9)kư
tên P.C. Line để ngăn chặn loại hợp tác này.
Lời lẽ trong các bức thơ với những danh
từ thô bỉ, các khẩu hiệu chửi rủa của
Staline đối với những người trốt kít
trong thơ của Hồ Chí Minh đă làm ngạc nhiên
những ai đă biết Hồ Chí Minh dẩu sao cũng là
một người có hấp thụ được
phần nào văn hóa Khổng Mạnh Đông phương!
Đầu Thu 2007, Amarillo,
Texas
Chú thích:
1 - Danh sách 19 sinh viên bị trục xuất
gồm có: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Trần
Văn Giàu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương,
Phan Văn Chánh, Lê Bá Cang, Trần Văn Chiêu, Ngô Quang Huy,
Trần Văn Tự, Đặng Bá Lân, Lê Thiếu Tự,
Đặng Tấn Phát, Vũ Liên, Nguyễn Văn Tân,
Trịnh Văn Phú,Trương Duy Tam, Nguyễn Duy
Đạm, Nguyễn Trọng Đắc -(Phan Văn Hùm và
Hồ Hữu Tường may mắn thoát được
qua Bĩ ). Năm 1945, Trần Văn Giàu, Chủ tịch
Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ đă ra lịnh thủ tiêu 4
người đồng hành trong chuyến tàu Athos II đă
đưa Giàu về Việt Nam: Tạ Thu Thâu, Hồ
Văn Ngà, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương!
(T.N.P.)
2 - Hồ Hữu Tường, ”41
Năm Làm Báo”, Hồi Kư, Đông Nam Á (Paris) xuất bản
năm 1984, trang 86- 92
3 - Daniel
Hémery, ”Révolutionnaires vietnamiens et pouvoir colonial en Indochine. Communistes,
trotskystes, nationalistes à Saigon de 1932 à 1937”(Các
nhà cách mạng Việt Nam và chánh quyền thực dân ở
Đông Dương. Cộng sản, trốt-kít và quốc
gia ở Sài G̣n từ 1932 đến 1937) , Paris, Maspéro, 1975.
4 - Một người con gái của Giáo sư
Trần Văn Thạch ở Toronto, Canada, hiện đang
sưu tầm tài liệu ở Văn khố Pháp quốc
Hải ngoại (Archives Outre Mer) ở Aix en Provence (Pháp),
nhất là mục Petits clous của tuần báo “La
Lutte”
để viết một sách về thân phụ, G.S Trần
Văn Thạch (T.N.P.)
5 - Daniel Hémery, sách đă dẫn.
6 - Daniel Hémery, sđd.
7 - Bà Tạ Thu Thâu, 97 tuổi(2007) hiện
đang cư ngụ ở Saint Germain en Lay, ngoại ô
Paris.(T.N.P.)
8 - Ngô Văn ”VIỆT NAM 1925- 1945, Cách Mạng và Phản Cách
Mạng thời Đô Hộ Thuộc Địa”,
California 2000, nxb L'Insomniaque &
Chuông Rè, 63 Rue Saint Mandé, 93100 Montreuil, France hoặc Hải Mă,
Po Box 19543, Amarillo, TX 79114, trang 241.
9
– “Hồ
Chí Minh Toàn Tập”, (tập 3 trang 97-98-99-109-113)