Tấm Ḷng Vàng Chói
Rạng Thiên Thu:
PHAN THANH GIẢN
Trần Gia Phụng
I.- PHAN THANH
GIẢN TỬ TIẾT
T́nh h́nh nước Việt càng ngày càng sôi động
khi quân Pháp xuất hiện và tấn công Đà Nẵng
rồi Gia Định vào giữa thế kỷ 19. Sau khi
Pháp chiếm Kỳ Ḥa (Gia Định) ngày 25-2-1861 và Mỹ
Tho ngày 12-4-1861, dầu tân Khâm sai đại thần
Nguyễn Bá Nghi (thay Nguyễn Tri Phương bị
thương trong trận Chí Ḥa) dâng sớ xin nghị ḥa,
triều đ́nh bối rối, nhưng vẫn chưa có
đối sách cụ thể. Vua Tự Đức ra
lệnh cho Nguyễn Bá Nghi "tùy tiện mà làm" và
mật lệnh cho thân sĩ Nam Kỳ nổi lên kháng Pháp.
Trương Định được vua Tự
Đức phong làm Quản cơ, cầm đầu lực
lượng chống Pháp ở Biên Ḥa. Tại Gia
Định, Phan Văn Đạt và Lê Cao Dơng đứng ra
hô hào kháng chiến chống ngoại xâm.
Pháp tiếp tục chiếm Biên Ḥa ngày 15-12-1861,
rồi chiếm Bà Rịa ngày 8-1-1862, chiếm Vĩnh Long
ngày 22-3-1862. Tổng đốc Trương Văn Uyển
bỏ chạy. Lúc bấy giờ hai bên đều muốn
thương thuyết. Triều đ́nh Huế càng ngày càng
lúng túng v́ trong khi Pháp tấn công và chiếm đất
tại Nam Kỳ, chận đứng nguồn cung cấp
lúa gạo cho cả nước, th́ tại Bắc Kỳ,
Lê Phụng nổi dậy và bành trướng mạnh.
Phần người Pháp, từ ngày 1-12-1861, Phó đô
đốc Louis Bonard (1805-1867) thay Phó đô đốc Joseph
Charner (1797-1869) cầm đầu quân đội viễn
chinh Pháp. Bonard nhận thấy rằng Pháp thiếu lực
lượng để chiếm đóng một vùng
đất rộng lớn hơn, do đó, ông cử trung tá
hải quân Simon ra Thuận An (Huế) bàn chuyện
thương thuyết. Cuối cùng, triều đ́nh Huế
cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp làm chánh phó sứ
toàn quyền đại thần vào Gia Định
để nghị ḥa.
Cuộc thương lượng kéo dài trong 20 ngày,
đi đến kết quả là hai bên kư kết ḥa
ước ngày 5-6-1862, đúng 60 năm sau khi Nguyễn Phúc
Ánh thống nhất đất nước, thường
được gọi là ḥa ước Nhâm tuất, gồm
12 điều khoản, với những điểm chính
như sau: Ở Việt Nam, giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha
được tự do truyền đạo và dân Việt
Nam được tự do theo đạo (điều 2);
Việt Nam nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Ḥa, Gia
Định, Định Tường và đảo Côn Lôn,
tàu buôn Pháp và Tây Ban Nha được tự do đi lại
trên sông Cửu Long (điều 3); Việt Nam chỉ
được nhượng đất cho nước khác
với sự ưng thuận của hoàng đế Pháp
(điều 4); người Pháp và Tây Ban Nha được
quyền đến buôn bán ở Đà Nẵng, Ba Lạt và
Quảng Yên, ngược lại người Việt Nam
được tự do buôn bán ở hải cảng hai
nước đó (điều 5), Việt Nam phải
trả cho Pháp và Tây Ban Nha 4 triệu đồng chiến phí
trong ṿng 10 năm. Mỗi đồng được t́nh
bằng 72% lượng bạc (điều 8) ...
Sau ḥa ước Nhâm tuất, Nam Kỳ chỉ c̣n ba
tỉnh miền Tây thuộc triều đ́nh Việt Nam.
Đặc biệt ba tỉnh nầy hoàn toàn bị cách ly
về đường bộ với lănh thổ Việt
Nam, v́ nếu đi từ bắc xuống Nam, qua khỏi
tỉnh B́nh Thuận, tỉnh cuối cùng của miền
Trung, là ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vừa mới
bị mất vào tay Pháp, rồi mới đến ba
tỉnh miền Tây. Triều đ́nh chỉ có thể liên
lạc với ba tỉnh miền Tây bằng
đường biển mà thôi.
Ḥa ước Nhâm tuất không được
triều đ́nh Huế hoan nghinh. Hai sứ giả bị
khiển trách, nhưng cuối cùng vua Tự Đức
vẫn phê chuẩn. Lâm Duy Hiệp bị cách chức và
từ trần sau đó không lâu. Phan Thanh Giản bị cách
lưu, xuống làm tổng đốc Vĩnh Long
để tiếp tục thượng lượng với
Pháp. Điều nầy chứng tỏ lúc đó triều
đ́nh Huế tự cảm thấy không đủ khả
năng sử dụng lực lượng quân sự tái
chiếm ba tỉnh đă mất. Tiếp tục
thương lượng với Pháp là việc làm vô ích v́
lúc đó chính phủ Pháp cương quyết tiến
chiếm toàn bộ Nam Kỳ.(1)
Thấy vận động ở Gia Định không
được, theo đề nghị của Trương
Đăng Quế,(2) vua Tự Đức gởi một
phái đoàn gồm 60 người qua Pháp và Tây Ban Nha
thương thuyết. Phái đoàn do Phan Thanh Giản làm
chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ và Ngụy
Khắc Đản là bồi sứ, khởi hành ngày 4-7-1863
và đến Paris cuối tháng 8. Măi đến ngày 7-11-1863,
phái đoàn mới được Pháp hoàng Napoléon III
(1808-1873, hoàng đế Pháp 1852-1871) tiếp kiến.
Triều đ́nh Pháp không bác bỏ ư kiến bàn lại các
điều khoản trong ḥa ước 1862 nhưng hứa
sẽ trả lời trong ṿng một năm. Phái đoàn
tiếp tục sang Tây Ban Nha yết kiến nữ hoàng
Isabella II (1830-1904, trị v́ 1833-1868), rồi trở về
vào tháng 3-1864.
Việc thương lượng không có kết
quả nhưng cả Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ
đều đă học hỏi được nhiều
điều mới lạ trong chuyến đi nầy. Chính
v́ vậy, khi về nước, Phan Thanh Giản cũng
như Phạm Phú Thứ, mỗi người đều
dâng sớ lên vua Tự Đức và triều đ́nh
đề nghị canh tân xứ sở nhưng không
được chấp thuận. Phan Thanh Giản đă than
rằng:
"Từ ngày đi sứ đến Tây kinh,
Thấy
việc Âu châu phải giật ḿnh.
Kêu
rủ đồng bang mau thức dậy,
Hết
lời năn nỉ chẳng ai tin."(3)
Sau đó, triều đ́nh Pháp gởi trung tá hải
quân Gabriel Aubaret (1825-1894) sang làm lănh sự Pháp tại
Huế. Aubaret đă từng ở Việt Nam, biết nói
tiếng Việt, rất yêu chuộng văn hóa Việt Nam,
và ông có khuynh hướng muốn cho Việt Nam chuộc
lại ba tỉnh Nam Kỳ. Cuộc thương
lượng giữa Phan Thanh Giản và Aubaret đi
đến một thỏa ước mới ngày 22-6-1864,
gồm các điều chính: Pháp trả ba tỉnh nhưng
bảo hộ cả sáu tỉnh Nam Kỳ; Pháp giữ và
đóng quân ở Sài G̣n, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một;
mỗi năm Việt Nam trả cho Pháp 2 triệu quan trong
ṿng 40 năm; và các giáo sĩ được tự do
truyền đạo.(4)
Thỏa ước nầy bị phản đối
ở Việt Nam cũng như ở Pháp. Triều đ́nh
Việt cho là quá nặng, nhưng vẫn chấp thuận,
trong khi Pháp lại nói rằng họ bị thiệt tḥi nên
bác bỏ, và dứt khoát giữ lại ḥa ước
cũ.
Trong khi đó, Phan Thanh Giản xin hưu trí năm 1865.
Năm nầy ông được 69 tuổi. Chẳng
những không chấp thuận, vua Tự Đức c̣n
cử ông làm Kinh lược đại thần ở Nam
Kỳ, đóng trụ sở ở Vĩnh Long. Phan Thanh
Giản xin vua trả lại huân công cho bạn đồng
nghiệp là Lâm Duy Hiệp cũng bị cách chức như
ông. Vua phê chuẩn và truy phong lại các sắc phong cũ
cho Lâm Duy Hiệp. Vào Vĩnh Long một thời gian, Phan
Thanh Giản lại xin hưu trí lần nữa v́ lư do
sức khỏe. Ông cũng bị vua Tự Đức
từ chối, xuống chiếu trách cứ, và yêu cầu
ông tiếp tục sứ mạng được giao phó.
T́nh h́nh bang giao Việt Pháp càng ngày càng căng
thẳng. Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière
(1807-1876) thay thế Louis Bonard vào giữa năm 1863. De la
Grandière gởi người ra Huế vào tháng 3-1866 nói
rằng "ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên địa
thế xa cách, bọn trộm cướp thường qua
lại, điều đó không tiện cho cả hai chính
phủ. Vậy xin để cho Pháp cai trị luôn cả ba
tỉnh đó để trừ diệt kẻ cướp
và sẽ bỏ hết bồi khoản."(5) Những
người bị Pháp gọi "bọn trộm
cướp" là những kháng chiến quân đóng bản
doanh ở ba tỉnh miền Tây, rồi tung quân đánh Pháp
ở ba tỉnh miền Đông đă mất vào tay Pháp.
Ở thế yếu, triều đ́nh Huế tiếp
tục thương lượng.
Tháng 3-1867, De la Granđière gởi người ra
Huế lần nữa, lập lại yêu cầu nầy và
đ̣i tiền bồi thường niên khoản chưa
trả. Triều đ́nh Huế không trả bồi
khoản, không nhượng ba tỉnh miền Tây, và c̣n yêu
cầu chuộc lại ba tỉnh miền Đông. Trong khi
đó, tại Paris, Rigault de Genouilly (1807-1873) lên làm Bộ
trưởng Hải quân. De Genouilly đă từng cầm
quân đánh Việt Nam, rất có tham vọng đánh
chiếm Nam Kỳ, hết sức nâng đỡ kế
hoạch của De la Grandière, quyết chiếm ba tỉnh
miền Tây.
Ngày 20-6-1867. De la Grandière đem theo 1200 quân đến
Vĩnh Long. Khi chiến thuyền Ondine của y đậu
cách thành Vĩnh Long khoảng 100 m, De la Grandière sai một
sĩ quan mang tối hậu thư cho Phan Thanh Giản,
buộc phải giao ba tỉnh miền Tây, viện cớ
rằng kháng chiến quân Việt Nam đặt bản doanh
tại ba tỉnh nầy để tấn công Pháp tại
ba tỉnh miền Đông.
Trước sự việc bất ngờ, Phan Thanh
Giản xuống thuyền của viên Phó đô đốc
Pháp thương lượng. Khi biết y cương
quyết dùng vơ lực cưỡng chiếm đất
đai, Phan Thanh Giản đành nhượng bộ
để tránh đổ máu vô ích. Ông chỉ yêu cầu Pháp
đừng giết hại dân lành và để của trong
kho lại cho triều đ́nh Huế. Khi Phan Thanh Giản
trở về thành, th́ thành đă bị Pháp chiếm. Sau
đó An Giang và Hà Tiên cũng rơi vào tay Pháp.
Sau khi ba tỉnh miền Tây lọt vào tay Pháp, Phan Thanh
Giản viết biểu trần t́nh dâng lên vua Tự
Đức, tuyệt thực và uống thuốc độc
tự kết liễu đời ḿnh. Ông qua đời ngày
15-7-1876.(6) Đại ư lời biểu của Phan Thanh Giản
được Liệt truyện ghi lại như sau:
"Nay gặp nạn lớn, những việc hung
bạo bày ra trên đất. Ác khí tràn đến biên
cương. Việc Nam Kỳ đă đến lúc không sao
ngăn được. Thần nghĩ phải chết,
không dám sống để làm nhục Hoàng thượng. Xin
Hoàng thượng, là người bác lăm cổ kim, lo
đến việc trị loạn, đồng tâm hiệp
lực với các bậc thân hiền trong ngoài, và cẩn
thận đến ư Trời. Xin thương kẻ khốn
cùng, lập một dự án đầy đủ
trước sau; xin hăy đổi dây, thay bánh! Như
thế, thế lực may ra c̣n cứu văn được.
Thần lúc lâm chung ḷng đau đớn, không biết nói ǵ
hơn, chỉ biết lau nước mắt, hy vọng
rằng cái ao ước kia được thành
tựu."(7)
Trước khi từ trần, Phan Thanh Giản
hội họp gia đ́nh, dặn con cháu không
được cộng tác với Pháp và viết những
lời trăn trối sau cùng về tang lễ của ông:
"Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô, ưng thư:
Hải nhai lăo thư sinh tính Phan chi cửu." (8) (Hăy
bỏ tấm triệu đi không cần có, nếu không
bỏ, chỉ nên đề: linh cửu người
học tṛ già ở góc biển họ Phan.)
Được tin Phan Thanh Giản tuyệt thực
tự tử, bác sĩ Le Coniat của Hải quân Pháp
được gởi đến giúp cấp cứu
nhưng vô hiệu. Phó đô đốc Da la Grandière viết
thư chia buồn cùng gia đ́nh với những lời
lẽ hết sức kính cẩn và hứa sẵn sàng giúp
đỡ con cháu cụ Phan trong phạm vi khả năng
của y. De la Grandière ra lệnh cho một pháo hạm kéo
chiếc ghe trên đặt quan tài nhà ái quốc Việt Nam,
về tận nơi ông sinh trưởng, làng Bảo
Thạnh (Vĩnh Long), gần cửa Ba Lai (một trong chín
cửa của sông Cửu Long); đồng thời cử
một toán quân danh dự tiễn đưa người
đối thủ anh hùng đến nơi an nghĩ
cuối cùng rất trọng thể. Trên bia mộ của
Phan Thanh Giản, theo lời dặn của ông, con cháu
chỉ ghi những ḍng chữ đơn giản:
"Lương Khê Phan lăo nông chi mộ".(9)
Những lời trên tấm triệu và trên mộ chí
Phan Thanh Giản chẳng những biểu lộ tánh t́nh
khiêm tốn giản dị của ông, mà c̣n chứng tỏ
ông đă tiên liệu những ǵ sẽ xảy đến
cho ông sau khi qua đời, và ông đă biết cách tự
xử để tránh cho triều đ́nh và con cháu khỏi
phải gặp khó khăn trong việc lo lắng hậu
sự cho ông.
II.- CHẾT
VẪN CHƯA HẾT CHUYỆN
Cái chết của Phan Thanh Giản mang nhiều ư
nghĩa. Ư nghĩa rơ nét đầu tiên là ông nhận hết
trách nhiệm để mất ba tỉnh miền Tây thay cho
vua Tự Đức. "Thần nghĩ phải chết,
không dám sống để làm nhục Hoàng
thượng." Thế mà Phan Thanh Giản vẫn bị
vua Tự Đức ra lệnh "cướp hết quan
tước và đục xóa tên trong bia tiến sĩ".
(10)
Việc làm nầy của vua Tự Đức
chẳng qua là để tránh lỗi, chứ Phan Thanh
Giản hoàn toàn theo đúng đường lối của
triều đ́nh. Trước hết, công việc ngoại
giao cần phải có sức mạnh quân sự mới
dễ thành công. Trong khi đó, nước ta vào giai
đoạn nầy so với Pháp về mặt lực
lượng quân sự, chiến thuyền cũng như vơ
khí, hoàn toàn ở thế yếu. Không đủ lực
lượng đối kháng, vua Tự Đức phải
nghĩ đến chuyện nghị ḥa, cử Phan Thanh
Giản đi thương thuyết. "Bí quyết"
duy nhất để nghị ḥa trong thế yếu là
nhượng bộ, và chắc chắn triều đ́nh
Huế cũng như vua Tự Đức muốn Phan Thanh
Giản nhượng bộ tối thiểu mà thành công
tối đa. Đó là điểm khó của Phan Thanh
Giản.
Cử Phan Thanh Giản làm đại diện Việt
Nam thương thuyết với Pháp về vấn
đề Nam Kỳ, vua Tự Đức c̣n có một
ẩn ư kín đáo là Phan Thanh Giản là nhà đại khoa
bảng Nam Kỳ, được dân chúng miền Nam trọng
vọng. Nếu Phan Thanh Giản có nhượng bộ ǵ
th́ đó là do một người miền Nam quyết
định và dân chúng miền Nam đỡ trách cứ
triều đ́nh Huế. Sự phân công nầy giúp cho nhà vua
tránh trách nhiệm trước triều đ́nh và dân chúng,
nhất là dân chúng Nam Kỳ. Cũng như trường
hợp vua Tự Đức mật lệnh cho sĩ phu Nam
Kỳ chống Pháp, nhưng nhà vua không chịu trách
nhiệm về ngoại giao với Pháp, và trước công
luận, đó chỉ là những cuộc kháng chiến
tự phát của dân chúng.
Điều nầy rơ ràng nhất trong thỏa
ước năm 1864 giữa Phan Thanh Giản với
Aubaret. Aubaret đến Huế để thương
lượng. Huế là kinh đô, nơi sinh hoạt của
triều đ́nh và hoàng cung nhà Nguyễn. Chắc chắn
trong quá tŕnh bàn thảo giữa hai bên, Phan Thanh Giản
phải nhiều lần trực tiếp tham khảo ư
kiến với vua Tự Đức, có thể c̣n phải
tường tŕnh và tham khảo hàng ngày. Như thế Phan
Thanh Giản không thể tự ư nhượng bộ Aubaret
trong thỏa ước nầy mà không có ư kiến của
nhà vua. Một trong những điều khoản quan
trọng của thỏa ước Aubaret là Pháp trả ba
tỉnh miền Đông nhưng bảo hộ cả sáu
tỉnh Nam Kỳ. Thỏa ước nầy đă bị
triều đ́nh phản đối chiếu lệ và
cuối cùng đă được vua Tự Đức
chấp thuận. Như thế, ư tưởng về
việc Pháp bảo hộ Nam Kỳ đă có ngay tại
triều đ́nh Huế.
Sau khi thỏa ước Aubaret bất thành, vua Tự
Đức cử Phan Thanh Giản vào Nam làm Kinh lược
sứ năm 1865. Phan Thanh Giản đă hai lần xin
nghỉ hưu v́ tuổi già, trước cũng như sau
khi vào Nam lần nầy, nhưng không được.
Sử sách không viết ra, nhưng có thể lúc đó
chẳng có vị quan nào chịu nhận một trách
nhiệm nặng nề mà họ biết sẽ không thành
công, và c̣n chuốc họa vào thân. Ngoài ra, chắc chắn ai
cũng biết rằng trong thế yếu, người
thương thuyết không thể làm ǵ khác hơn là
phải nhượng bộ, mà nhượng bộ th́
chắc chắn sẽ bị khiển trách.
Phan Thanh Giản đă qua Âu Châu, đă tận mắt
chứng kiến sức mạnh quân sự của Pháp. Ông
biết có chống cự cũng thất bại nên ông
chấp nhận nhượng bộ, để tránh
đổ máu binh sĩ và dân chúng một cách vô ích. Trong
việc nhượng bộ nầy, có một chi tiết
cần chú ư: khi Phan Thanh Giản từ pháo thuyền Pháp
trở về thành Vĩnh Long, th́ người Pháp đă
chiếm thành rồi. Vậy câu hỏi đặt ra là
phải chăng trong lúc đang thương thuyết,
người Pháp đă dùng vơ lực chiếm thành rồi, và
Phan Thanh Giản được tin nầy nên đành
nhượng bộ, chứ thật sự ông không trực
tiếp giao cho Pháp thành Vĩnh Long?
Dầu sao, miền Tây đă mất và quan Kinh
lược đại thần phải trực tiếp
chịu trách nhiệm. Ông chọn phần thiệt hại
nặng nhất cho ḿnh và lấy cái chết để
đền nợ núi sông. Phan Thanh Giản là nhà Nho thể
hiện chữ "trung" cả hai nghĩa, nghĩa
hẹp và nghĩa rộng.
Chữ "trung" nghĩa hẹp là trung với vua,
trung với người mà ḿnh đang phục vụ.(11)
Thế mà như trên đă viết, chính vua Tự
Đức đă đổ lỗi hoàn toàn cho Phan Thanh
Giản và ra lệnh đục tên ông khỏi bia tiến
sĩ, để làm giảm bớt sự tức giận
của dân chúng. Có thể vua Tự Đức cũng
khổ tâm lắm, nhưng nhà vua ở thế bắt
buộc phải lên án Phan Thanh Giản để giữ
thể diện triều đ́nh. [Nghĩ ḿnh phương
diện quốc gia, /Quan trên ngắm xuống, người
ta trông vào. Truyện Kiều câu 2591-2592.]
Ngoài ra, dựa vào Nho giáo, học giả Trần
Trọng Kim (1882-1953) đă giải thích chữ
"trung" một cách rộng răi hơn: "Hai chữ
trung quân không nên theo như người ta thường
vẫn hiểu là chỉ trung với người làm
đế làm vương mà thôi, nhưng có thể theo
nghĩa rộng là trung với cái quân quyền trong
nước. Theo nghĩa rộng ấy th́ bất cứ vào
thời đại nào, hai chữ trung quân vẫn có nghĩa
chính đáng. Có ḷng trung ấy th́ dân mới yên và
nước mới trị, miễn là quân quyền không trái
với ḷng dân."(12) Quân quyền ở đây
tượng trưng chế độ đang giữ
việc cai trị đất nước, dân chúng, và
"quan hệ đến vận mệnh của một xă
hội, một dân tộc".(12) Chủ trương chính
trị trên đây của Đức Khổng Tử (551-478
TCN), vị Vạn thế sư biểu của Nho giáo, c̣n
được Đức Mạnh Tử (372-289 TCN), vị
Á thánh Nho giáo, đưa đi xa hơn: "Dân vi quư, xă
tắc thứ chi, quân vi khinh." (Dân là quư, xă tắc là
thứ, vua là nhẹ).(13) Theo chủ trương "dân vi
quư", th́ trung với dân mới đúng là trung.
Vậy khi chọn cái chết sau khi ba tỉnh miền
Tây lọt vào tay Pháp năm 1867, Phan Thanh Giản đă
thực hiện cả hai mục tiêu cùng một lúc: thứ
nhất ông làm "Lê Lai liều ḿnh cứu chúa",
chịu trách nhiệm thay cho vua Tự Đức; thứ
nh́ ông bảo vệ nhân mạng và tài sản dân chúng
miền Tây. Ông đă hết sức cố gắng
điều ḥa sự khác biệt về quan điểm
chính trị của nhà vua và triều đ́nh với
quyền lợi thiết thực của dân chúng, nhưng
cuối cùng thất bại, nên ông đă hy sinh thân mạng
để triều đ́nh và dân chúng, cũng như hậu
thế chứng giám cho ḷng trung của ông với vua,
với dân với nước, chứ không phải ông
"tham sinh uư tử" (ham sống sợ chết). Đó
là ư nghĩa cao cả của việc Phan Thanh Giản
tử tiết. Đó cũng là lư do sâu xa mà dân chúng Nam
Kỳ nói riêng và dân chúng Việt Nam nói chung đời
đời biết ơn Phan Thanh Giản. Trong bài
"Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong",
Nguyễn Đ́nh Chiểu (1822-1888), một nhà trí thức
yêu nước nổi tiếng cương trực miền
Nam, đă ca tụng Phan Thanh Giản: "Ít người
đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học
sĩ hết ḷng mưu quốc..."(14) Ngoài ra, Nguyễn
Đ́nh Chiểu c̣n làm bài thơ khóc Phan Thanh Giản như
sau:
"Non
nước tan tành hệ bởi đâu?
Rầu rầu mây trắng đất Ngao châu.
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.
Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng,
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.
Minh sanh chín chữ ḷng son tạc,
Trời đất từ đây mặc gió thu." (15)
Sau cơn biến loạn, triều đ́nh nhà
Nguyễn cũng thấy rơ nỗi oan của Phan Thanh
Giản nên năm 1886, dưới thời vua Đồng
Khánh (trị 1885-1888), triều đ́nh đă quyết
định khai phục nguyên hàm và ghi lại tên ông trên bia
tiến sĩ đặt ở Văn miếu Huế. Trong
bộ Liệt truyện (soạn xong năm 1889), các sử
quan nhà Nguyễn đă nhận xét về Phan Thanh Giản,
người đă từng làm tổng tài Quốc sử
quán, như sau: "Phan Thanh Giản ăn ở chính
hậu, luôn luôn liêm khiết. Khi tại chức, ông chăm
chú và khôn ngoan, có can đảm nói sự thật. Thờ ba
đời vua [Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
Đức], được tôn kính, Khi ông vào làm kinh
lược Nam Kỳ trong một thời thế vô cùng khó
khăn, ông đă có can đảm nhận sai lầm [?]
rồi tự tử; việc đó kẻ khác không dám làm.
Xét theo lời sớ cuối cùng, ông rất có ḷng trung ái.
Hơn mữa, ông học rộng biết nhiều.
Những lúc nhàn rỗi, khi vua Tự Đức phê b́nh các
triều thần, vua đă cho văn của họ Phan là
cổ, nhă. Các quan Nam Kỳ sau ông, không ai sánh
được với ông..." (16)
III.- LẠI
BỊ XUYÊN TẠC
"...Các quan Nam Kỳ sau ông, không ai sánh
được với ông..." Phan Thanh Giản chẳng
những là nhà đại khoa bảng đầu tiên của
miền Nam, mà ông c̣n tượng trưng cho hào khí miền
Nam. V́ vậy, khi cần tiêu diệt hào khí miền Nam, khi
cần đánh sập giới trí thức miền Nam
để buộc họ đi vào khuôn khổ độc
tài đảng trị, đảng Lao Động Việt
Nam (LĐVN), tiền thân của đảng Cộng Sản
Việt Nam (CSVN), lại một lần nữa kết
tội Phan Thanh Giản. Việc CSVN kết tội Phan Thanh
Giản trải qua ba thời kỳ tùy theo chủ
trương chính trị giai đoạn của họ.
1. THỜI KỲ NĂM 1945
Khi cướp quyền từ tay nhà Nguyễn năm
1945, đảng LĐVN t́m tất cả các cách mạ
lỵ nhà Nguyễn để biện minh cho cuộc
đảo chánh của họ, cực lực lên án nhà
Nguyễn đă đầu hàng Pháp, làm mất Việt Nam và
làm tay sai cho Pháp, đồng thời kết tội tất
cả những ai cộng tác với nhà Nguyễn. Một
trong những đại quan dưới triều vua Tự
Đức liên hệ đến việc sáu tỉnh Nam
Kỳ mất vào tay Pháp là Phan Thanh Giản. Việc
đả kích trở thành cao trào khi đảng LĐVN phát
động cuộc kháng chiến chống Pháp vào ngày
19-12-1946, để kích động ḷng yêu nước
của dân chúng. Đây là chủ trương chung của
đảng LĐVN. Việc tập trung chỉ trích riêng vào
cá nhân Phan Thanh Giản nổi bật vào thời kỳ sau
năm 1954 ở Bắc Việt.
2.- THỜI KỲ SAU NĂM 1954
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử ở Hà Nội
vào các năm 1962, 1963 đă mở cuộc thảo luận
về Phan Thanh Giản. Trong số 55 xuất bản vào
tháng 10-1963, ông Trần Huy Liệu (17) viết bài tổng
kết, đă nhận định về Phan Thanh Giản
như sau: "Phan [Thanh Giản] trước sau vẫn
rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại
nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân
tộc, của nhân dân."(18)
Không kể cách sử dụng từ ngữ lạ lùng
"thất bại chủ nghĩa" (v́ có ai ưa thích
hay chủ trương thất bại đâu mà lập ra
hay theo chủ nghĩa thất bại?), câu hỏi
đặt ra là tại sao đến lúc đó lại
xảy ra cuộc tranh luận về Phan Thanh Giản trên
tạp chí Nghiên cứu lịch sử, và Trần Huy
Liệu đă kết luận như trên?
Để giải mă câu hỏi nầy, có lẽ
cần trở lại hoàn cảnh chính trị Bắc
Việt sau năm 1954. Hiệp định Genève (20-7-1954)
tạm thời chia hai nước Việt Nam ở vĩ
tuyến 17. Đảng LĐVN cai trị ở phía Bắc
và chính phủ Quốc gia cầm quyền ở phía Nam. Lúc
đó nước ta xảy ra cuộc xáo trộn dân số
hai chiều ngược nhau: Khoảng một triệu
người từ miền Bắc (gồm cả công
chức) di cư vào Nam, và khoảng dưới 500.000
người từ miền Nam (gồm cả cán bộ
cộng sản) tập kết ra Bắc.
Trong khi chính phủ miền Nam ổn định
được việc định cư đồng bào
miền Bắc vào Nam, th́ đảng LĐVN lúng túng trong
việc sắp đặt đời sống đồng
bào miền Nam chuyển ra Bắc, v́ nói chung đời
sống kinh tế Bắc Việt khó khăn hơn ở
Nam Việt, nhất là v́ Bắc Việt bị áp
đặt nền kinh tế chỉ huy cộng sản.
Học sinh, cán bộ, thương binh, cả binh sĩ và
sĩ quan Nam bộ bất măn chính sách chuyên chế của
đảng LĐVN, đă nổi lên phản đối
ở nhiều nơi, khoảng từ năm 1956
đến 1958. Chế độ Hà Nội phải nhờ
những nhân vật uy tín của miền Nam ra Bắc
như Nguyễn Văn Trấn, Tô Kư đến xoa diệu,
thuyết phục và dẹp yên. (Về vấn đề
nầy, xin đọc quyển sách của người trong
cuộc: Viết cho Mẹ & Quốc hội của
Nguyễn Văn Trấn, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995.)
Lúc đó, tại Liên Xô xảy ra sự thay đổi
lănh đạo. Joseph Stalin (1879-1953), bí thư thứ
nhất đảng Cộng Sản Liên Xô (từ 1924-1953),
qua đời ngày 5-3-1953. Nikita Khrushchev (1894-1971) lên thay
(từ 1953-1964). Trong ngày bế mạc (25-2-1956) Đại
hội thứ 20 đảng CSLX tại thủ đô Moscow,
Khrushchev tŕnh bày đề tài "Về sự sùng bái cá nhân
và hậu quả" (On the Cult of Personality and its Consequences),
đă kịch liệt tố cáo Joseph Stalin là một tên
độc tài tàn ác giết người, phạm nhiều
sai lầm trong thế chiến thứ nh́ cũng như trong
chính sách nội trị và ngoại giao, nhất là Khrushchev
đả kích mạnh mẽ chủ trương sùng bái cá
nhân của Stalin. Bài phát biểu nầy làm cho toàn thể
thế giới sửng sốt. Bài viết được
giữ mật, không được công bố ra ngoài,
nhưng chỉ vài ngày sau, báo chí Tây phương đăng
tải những nét chính của bài nầy, và vài tuần sau
th́ bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có đầy đủ
bản dịch ra Anh văn bài nầy. Về phương
diện ngoại giao, Khrushchev đưa ra chủ
trương "sống chung ḥa b́nh" (peaceful coexistence)
giữa các nước không cùng chế độ chính
trị, giải tán Văn pḥng Thông tin Cộng sản
(Cominform) ngày 17-4-1956.
Chủ trương của Khrushchev gây ra cuộc
khủng hoảng trầm trọng giữa hai nước
lớn trong khối cộng sản là Liên Xô và Cộng Ḥa
Nhân Dân Trung Hoa, đồng thời gây ra những tranh căi
trong đảng LĐVN. Trong hội nghị Uỷ ban Trung
ương đảng LĐ họp từ ngày 19
đến 24-4-1956 tại Hà Nội để nghiên cứu
nghị quyết Đại hội 20 đảng CSLX, nhóm
cứng rắn do Lê Duẩn (1907-1986), Lê Đức Thọ
(tên thật là Phan Đ́nh Khải, 1911-1990) đứng
đầu, không tán thành lập trường mềm
mỏng của Liên Xô. Tiếp theo hội nghị nầy,
là cuộc họp các cán bộ cao cấp và trung cấp
tại Câu Lạc Bộ Quân Nhân ở Hà Nội từ 28-4
đến 3-5-1956 để nghiên cứu nghị quyết
Đại hội 20 đảng CSLX, và nghiên cứu
những ư kiến của Uỷ ban Trung ương
đảng LĐVN vừa mới họp xong. Từ hai
cuộc họp nầy đưa đến sự h́nh thành
hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau trong nội bộ
đảng LĐVN.
Khuynh hướng thứ nhất gồm những
người chủ trương cứng rắn,
cương quyết chống chủ nghĩa xét lại và
cho rằng khối xă hội chủ nghĩa phải
tận dụng bạo lực cách mạng đánh
đổ khối tư bản và đế quốc. Nói rơ
hơn, khuynh hướng nầy quyết tâm thực hiện
chuyên chính vô sản, sẵn sàng sử dụng bạo
lực cách mạng để chiếm chính quyền,
nghĩa là phải tiến hành chiến tranh tấn công
miền Nam để thống nhất đất
nước dưới sự cai trị của cộng
sản.
Khuynh hướng thứ nh́ gồm những
người tán thành quyết nghị của Đại
hội 20 của đảng CSLX, cổ vơ việc sống
chung ḥa b́nh giữa các nước có chế độ chính
trị khác nhau, khuyến khích phát triển kinh tế, nâng
cao mức sống của nhân dân, mở rộng tự do
dân chủ, tôn trọng pháp luật, công bằng xă hội,
hạnh phúc của nhân dân. Như thế, theo khuynh
hướng nầy, Bắc và Nam Việt Nam có thể cùng
nhau sống chung, và cùng nhau thi đua phát triển kinh
tế, thực hiện dân chủ, để từ đó
đấu tranh một cách ôn ḥa thống nhất
đất nước. Nói cách khác, nhóm nầy chủ
trương không nên tiến đánh miền Nam.
Khuynh hướng thứ nhất gọi tất
cả những ai chống lại quan điểm của
họ là theo chủ nghĩa xét lại, theo Khrushchev hoặc
theo Tito (1892-1980, lănh tụ Nam Tư). Khuynh hướng
thứ nh́ gọi nhóm thứ nhất là bảo thủ, giáo
điều, Stalinit, Maoit. Hai khuynh hướng nầy
chống nhau, tranh chấp với nhau trên quan điểm
đường lối của đảng LĐ, chứ
đây không phải là vấn đề chống
đảng LĐ, chống chủ nghĩa Mác-Lê, chống
cộng sản để thay thế bằng chế
độ tự do dân chủ. Đặc biệt không có
sự phân chia thành từng nhóm chính danh rơ rệt, hoặc có
cương lĩnh riêng, mà chỉ tranh luận, vận
động, tố cáo lẫn nhau.
Khuynh hướng thứ nhất do Lê Duẩn cầm
đầu, gồm đa số uỷ viên trong Bộ chính
trị đảng LĐ sau Đaị hội 3 của
đảng nầy tại Hà Nội từ ngày 5 đến
10-9-1960. Khuynh hướng thứ nh́ gồm những nhân
vật trong Uỷ ban Trung ương đảng và đa
số gốc miền Nam tập kết ra Bắc như Bùi
Công Trừng (nguyên quán Huế, 1905-1986), Tôn Thất Tùng
(nguyên quán Huế, 1912-1982), Tạ Quang Bửu (nguyên quán
Nghệ An, 1910-1986), Ung Văn Khiêm (nguyên quán An Giang, 1910-1991),
Dương Bạch Mai (nguyên quán Bà Rịa, 1905-1964). Trong
số nầy, sôi nổi và nổi bật nhất là Ung
Văn Khiêm và Dương Bạch Mai v́ hai ông đang giữ
những vị trí chính trị trọng yếu trong chế
độ Hà Nội. Hai ông nầy là những lănh tụ Nam
bộ tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Như thế, sau vụ phản đối năm
1955-1956 của những người miền Nam tập
kết ra Bắc, nay hiện tượng Nam bộ lại
tái phát ở một mức độ chính trị cao
cấp hơn, nên đảng LĐVN rất lo ngại. Do
đó, để chận đứng ảnh hưởng
của các nhân vật miền Nam, th́ cần phải t́m cách
triệt hạ uy tín của họ, triệt hạ cái hào
khí miền Nam qua biểu trưng lịch sử. Phải
chăng v́ vậy mà Lê Duẩn và nhóm cứng rắn trong đảng
LĐVN cố t́nh đặt lại vấn đề Phan
Thanh Giản để chuẩn bị dư luận và
cảnh cáo giới trí thức miền Nam? Phải chăng
đó là lư do sâu xa đưa đến việc tranh
luận về Phan Thanh Giản trên tạp chí Nghiên cứu
lịch sử tại Hà Nội trong hai năm 1962-1963, và
đi đến bài bản đă được soạn
sẵn cho Trần Huy Liệu trên số báo tháng 10-1963?
Cần chú ư là dưới chế đo CSVN, cho
đến năm 2004, "mọi cơ sở truyền
thông đều nằm trong sự sở hữu hoặc
kiểm soát của đảng Cộng Sản, các cơ
quan nhà nước, hoặc quân đội và nhiều nhà báo
thực thi việc kiểm duyệt..."(19) Do đó, các
cuộc hội thảo hay tranh luận dưới chế
độ cộng sản đại loại như
cuộc tranh luận về Phan Thanh Giản năm 1963 trên
tạp chí Nghiên cứu lịch sử không phải t́nh
cờ ngẫu nhiên mà có, mà phải có lịnh của Ban
Văn hóa Tư tưởng Trung ương đảng th́
Trần Huy Liệu mới dám đưa ra, và
đương nhiên bản tổng kết phải luôn luôn
theo sát chủ trương đường lối của
đảng LĐVN tức đảng CSVN.
Kết quả sơ khởi của cuộc tranh
chấp trên đây trong nội bộ đảng LĐVN vào
thập niên 60 thế kỷ trước ở Bắc
Việt là hai người miền Nam là ông Ung Văn Khiêm
bị mất chức bộ trưởng ngoại giao tháng
1-1963 và ông Dương Bạch Mai bị đầu
độc chết ngay trong một cuộc họp tại
Quốc hội Hà Nội năm 1964. Cuối cùng ai cũng
biết là nhóm cứng rắn đă mở ra "Vụ án
Tổ chức chống Đảng, chống Nhà
nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện
đại và làm t́nh báo cho nước ngoài" để
dẹp yên nhóm ôn ḥa trước khi tiến hành cuộc
cưỡng chiếm miền Nam.(20)
3. THỜI KỲ SAU 1975
Câu chuyện về Phan Thanh Giản tiếp tục sau
năm 1975. Khi cai trị miền Nam, nhà cầm quyền
cộng sản Hà Nội xóa tên Phan Thanh Giản ở
tất cả các tỉnh thị miền Nam, tên
đường hay tên trường. Tại Đà Nẵng,
trường tư thục Phan Thanh Giản bị tịch
thu và đổi tên thành trường Lê Hồng Phong.
Tại Cần Thơ, cộng sản cũng đổi tên
trường lớn nhất miền Tây mang tên Phan Thanh
Giản thành trường Châu Văn Liêm và thủ tiêu ngay
bức tượng cụ Phan. Việc làm nầy mang
một ư nghĩa đặc biệt ở miền Nam.
Ai cũng biết Cần Thơ là một trung tâm
văn hóa lớn của miền Tây nam Việt Nam. Lúc
bấy giờ, trung tâm văn hóa Cần Thơ đối
với miền Tây giống như trung tâm văn hóa Sài G̣n
đối với miền Đông, Huế đối
với miền Trung và Hà Nội đối với miền
Bắc. Đa số nhân tài và trí thức miền Tây, trong
giới trí thức Việt Nam Cộng Ḥa trước
năm 1975, đều xuất thân từ trường Phan
Thanh Giản Cần Thơ. Do đó, đập tan danh
tiếng Phan Thanh Giản, cũng như đập tan danh
tiếng trường Phan Thanh Giản Cần Thơ là
việc làm cần kíp của CSVN để chận
đứng hẳn ảnh hưởng cũng như xóa tan
hẳn tâm t́nh liên đới giữa những trí thức
miền Nam qua ngôi trường thân yêu mà họ đă
trải qua trong tuổi thanh xuân.
Tuy nhiên, cộng sản đă không đạt
được mục tiêu nầy. Cộng sản có
thể đập tượng Phan Thanh Giản, có thể
xóa tên trường Phan Thanh Giản ở Đà Nẵng,
ở Cần Thơ, nhưng cộng sản không thể và
không bao giờ có thể trục xuất tên và h́nh ảnh
Phan Thanh Giản ra khỏi trái tim của các cựu học
sinh trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng và
trường Phan Thanh Giản Cần Thơ nói riêng, cũng
như người miền Nam và người Việt Nam nói
chung.(21)
Sau vụ kết án Phan Thanh Giản trên tạp chí
Nghiên cứu lịch sử năm 1963 ở Hà Nội, và sau
vụ xúc phạm và đập phá tượng cụ Phan
năm 1975 tại Cần Thơ, vào thời đổi
mới lúc ông Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư
(từ 1986 đến 1991), CSVN mở cuộc hội
thảo "khoa học" tại Bến Tre, nguyên quán
của cụ Phan, năm 1987, đưa đến kết
quả là yêu cầu nhà nước "phục hồi danh
dự " lại cho Phan Thanh Giản.(22)
Tiếp theo là cuộc hội thảo tại Vĩnh
Long vào tháng 11-1994 trong đó có 15 bản tham luận của
Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre, của nhiều nhà
nghiên cứu địa phương cũng như thành
phố Hồ Chí Minh (Sài G̣n) và Hà Nội. Ông Phan Huy Lê đă
"thay mặt Ban chỉ đạo và Đoàn chủ
tịch" tổng kết cuộc hội thảo nầy
như sau: "Qua cuộc hội thảo nầy, chúng ta
thấy rơ những mặt hạn chế và bế tắc
của Phan Thanh Giản, nhưng đồng thời chúng ta
cũng trân trọng ghi nhận những cống hiến
tích cực của ông trong toàn bộ cuộc đời và
sự nghiệp, đánh giá cao nhân cách và phẩm chất cao
quư của ông."(23)
Chín năm sau, vào ngày 16-8-2003, tại Sài G̣n (đổi
tên thành Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975),
tạp chí Xưa và Nay cùng Hội Khoa Học Lịch Sử
Việt Nam và Hội Đồng Khoa Học Xă Hội TPHCM
đă phối hợp tổ chức cuộc tọa đàm
"Thế kỷ XXI nh́n về nhân vật lịch sử
Phan Thanh Giản".
Trong cuộc hội thảo nầy, với sự
hiện diện của ông Vơ Văn Kiệt, cựu thủ
tướng CSVN, đại biểu các tỉnh Vĩnh Long,
Bến Tre "nêu nguyện vọng là nhà nước nên xem
xét và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh
Giản, trường học Phan Thanh Giản, sửa
chửa bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản
trong các sách giáo khoa, giáo tŕnh để đông đảo
đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và
đặt ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong
đời sống văn hóa của nhân dân ta."(24)
Trước năm 1975 ở miền Nam và
trước năm 1954 trên toàn quốc, Phan Thanh Giản luôn
luôn được vinh danh một cách trân trọng. Vậy
việc yêu cầu nhà nước cộng sản
"phục hồi danh dựĩ" lại cho Phan Thanh
Giản có nghĩa là việc hạ nhục Phan Thanh
Giản chỉ do nhà nước cộng sản chủ
trương và chủ trương nầy lộ rơ ngay
từ việc bày ra cuộc tranh luận trên tạp chí Nghiên
cứu lịch sử trong các năm 1962-1963. Việc yêu
cầu nầy lại phải lập đi lập lại
nhiều lần, chứng tỏ nhà nước CSVN rất
"chú tâm" đến trường hợp Phan Thanh
Giản. Nói cho cùng, nhóm lănh đạo CSVN ở Hà Nội
chẳng mấy quan tâm đến vai tṛ Phan Thanh Giản
trong lịch sử bằng việc lo ngại hào khí
miền Nam và sự phục hưng của giới trí
thức miền Nam, mà biểu tượng là nhà khoa
bảng tiết tháo Phan Thanh Giản.
Trước những đ̣i hỏi của dân chúng
miền Nam, Bộ chính trị đảng CSVN vẫn
giữ im lặng, tránh né vấn đề. Chỉ có
Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bến Tre đă xây dựng một
ngôi đền thờ Phan Thanh Giản, kích thước 7m X
7m tại ấp Thạnh Nghĩa, xă Bảo Thạnh,
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đền thờ
nầy được khánh thành ngày 4-5-2004 cùng với
một bức tượng Phan Thanh Giản bằng
đồng nói rằng phục chế từ bức
tượng cũ đă có từ trước năm
1975.(25)
Chắc chắn việc nầy phải
được sự chấp thuận của Hà Nội.
Đây là một động tác giả để chứng
tỏ nhà cầm quyền đă cố gắng sửa sai
theo dư luận dân chúng, tạm thời xoa dịu nhân tâm
miền Nam. Ngoài ra, xây dựng một ngôi đền
thờ nhỏ tại sinh quán Phan Thanh Giản c̣n nhắm
mục đích hạ thấp giá trị của nhà yêu
nước đại khoa bảng miền Nam, chứ nhà
cầm quyền cộng sản nhất quyết không
phục danh trường trung học đă từng mang tên
ông ở Cần Thơ, để cắt đứt
ảnh hưởng truyền thống văn hóa
trước đây của trường nầy, nghĩa là
của cả miền Tây Nam Việt, v́ đảng CSVN luôn
luôn lo sợ hào khí ngùn ngụt của đất
phương Nam, một miền đất giàu có về
của cải vật chất cũng như tấm ḷng nhân
hậu hào hiệp mà tượng trưng là Phan Thanh
Giản.
IV- KẾT
LUẬN
Phan Thanh Giản là nhà đại khoa bảng
đầu tiên của miền Nam, suốt đời LIÊM
B̀NH CẦN CÁN,(26) phụng sự đất nước,
phụng sự dân tộc. Sống dưới chế
độ quân chủ, ông phụng sự quân quyền
nhắm trị nước yên dân, chứ không phải
chỉ phụng sự cá nhân nhà vua, và ông luôn luôn đặt
quyền lợi của dân chúng lên trên hết. Tuy bị
giáng chức nhiều lần, nhưng Phan Thanh Giản
vẫn tận tụy phục vụ dân chúng dưới ba
triều vua và dần dần được trọng
dụng. Biết thế nước suy yếu, không có cách
ǵ cưỡng chống lại ngoại xâm, ông vẫn can
đảm nhận nhiệm vụ ngoài biên cương, và
cuối cùng ông đă chọn phương cách giải
quyết lợi nhất cho dân và chấp nhận phần
thiệt tḥi nhất cho ḿnh, từ danh vọng cho
đến thân mạng của ông.
Nói cho cùng, ba tỉnh miền Tây, hoặc sáu tỉnh
miền Nam nói chung lọt vào tay Pháp, cũng chỉ mới
là giai đoạn đầu của cuộc đụng
độ Việt Pháp vào thế kỷ 19. Trước
cường địch xâm lăng, nhà Trần đă hai
lần bỏ ngỏ kinh đô Thăng Long cho quân Mông
Cổ vào thế kỷ 13, lực lượng Tây Sơn cũng
đă bỏ ngỏ thành nầy vào cuối thế kỷ 18
cho quân Thanh, để rồi sau đó quật ngược
thế cờ, giành lại đất đai đă bị tạm
chiếm. Nếu quả thật triều Nguyễn có
kế sách lâu dài chống quân Pháp xâm lăng, th́ mất sáu
thành miền Nam chưa phải là mất kinh đô (như
Thăng Long thời nhà Trần), chưa phải là mất
tất cả, và c̣n có cơ hội tổ chức chiến
đấu chống ngoại xâm. Tuy nhiên, vào thế kỷ
19, đối kháng với thực dân Pháp, người
Việt đă đi từ thất bại nầy
đến thất bại khác, từ Nam ra Bắc, rồi
từ Bắc vào tận kinh đô Huế. Điều
nầy không thể tránh khỏi v́ lúc đó nước ta
c̣n trong t́nh trạng lạc hậu, trong khi nước Pháp
đă rất tiến bộ sau cuộc Cách mạng kỹ
nghệ vào cuối thế kỷ 18.
Vậy đặt việc Phan Thanh Giản chịu
nhượng ba tỉnh miền Tây để tránh
đổ máu trong toàn cảnh cuộc chiến Việt Pháp
vào thế kỷ 19, so sánh với hành động của nhà
Trần và của lực lượng Tây Sơn
trước đây, th́ việc làm của Phan Thanh Giản
chứng tỏ ông rất sáng suốt, nhất là ở
chỗ ông bảo toàn tính mạng và tài sản của dân
chúng, để nếu triều đ́nh có phương cách
thâu hồi lại miền Tây th́ miền Tây vẫn nguyên
vẹn quy hoàn về triều đ́nh. Đặc biệt
hơn nữa, dù Phan Thanh Giản chỉ là một nho
sĩ, ông đă chứng tỏ cái hùng khí và hào khí của
vị tướng lănh ngoài mặt trận, đó là thành
mất th́ chết theo thành.
Vào cuối thế kỷ 20, nhà cầm quyền
Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đă âm
thầm kư kết hai hiệp ước nhượng
đất và nhượng biển cho Cộng Ḥa Nhân Dân
Trung Hoa. Đó là Hiệp ước về biên giới trên
đất liền Việt Nam - Trung Quốc kư kết
tại Hà Nội ngày 30-12-1999, và Hiệp ước phân
định lănh hải, phân chia quyền lợi trên vịnh
Bắc Việt tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000. Trên
đất liền, số diện tích đất đai
nước ta mất vào tay CHNDTH chưa được xác
định rơ, c̣n trên mặt biển, nước ta mất
khoảng 8% diện tích vịnh Bắc Việt,
tương đương với khoảng 10.000 km2.
Thử so sánh hai sự việc: trong thế yếu, và
để cứu dân vô tội, một vị tướng
cô đơn ngoài biên ải như Phan Thanh Giản, chỉ
huy một quân lực yếu ớt, chịu mất ba
tỉnh miền Tây, với việc cả một tập
thể Bộ chính trị đảng CSVN và cả bộ
máy cầm quyền Hà Nội, những người
thường tự hào đă từng chiến thắng hai
đế quốc sừng sỏ trên thế giới là Pháp
và Mỹ, lại âm thầm kư kết nhượng
đất và nhượng biển cho ngoại bang
để bảo toàn quyền lợi và quyền lực
độc tài phe nhóm, th́ bên nào có tội trước
quốc dân và trước lịch sử? Ngoài ra, Phan Thanh
Giản ư thức được rằng mất ba tỉnh
miền Tây là nỗi đau to lớn của dân tộc nên
ông lấy cái chết của chính ḿnh để đền
nghĩa đồng bào. Trong khi đó, tập thể Bộ
chính trị đảng CSVN làm mất biết bao nhiêu
diện tích đất đai và biển cả, nhất là
làm mất vùng Nam Quan lịch sử (một ngọn đèo
chiến lược để ngăn chận Bắc
phương), lại giấu nhẹm tin tức cho
đến khi bị phát hiện, rồi kiếm cách thanh
minh, chối căi và chống chế.
Trở lại việc Phan Thanh Giản với ba
tỉnh miền Tây, cuối cùng, triều đ́nh nhà
Nguyễn và đảng CSVN đều phải trả công
đạo lại cho Phan Thanh Giản. Bởi v́ bên cạnh
nhà cầm quyền luôn luôn có dân chúng. Nhà cầm quyền có
thể thay đổi, nhưng ḷng dân Việt Nam
trước sau là một, không bao giờ thay đổi.
Đời nào, khi nào, dân chúng Việt Nam cũng luôn luôn tôn
trọng đạo lư, tôn trọng sự thật, sáng
suốt biết ơn và vinh danh những anh hùng liệt
sĩ đă thực sự tận tụy hy sinh v́ hạnh
phúc thiết thực của dân chúng. Một người
ngoại quốc đă đưa ra nhận xét: "Trên b́nh
diện chính trị, ông [Phan Thanh Giản] không thể
chống lại nước Pháp, nhưng trên b́nh diện
đạo lư, ông là người cao quư, có tất cả những
đức tính được người Việt Nam
ngưỡng mộ."(27)
Không những người Việt chỉ
ngưỡng mộ những đức tính của Phan Thanh
Giản, mà người Việt c̣n biết ơn Phan Thanh
Giản, v́ Phan Thanh Giản là người suốt
đời, trong bất cứ cương vị nào, đă
tận tụy phục vụ quyền lợi dân tộc cho
đến khi chết. Tấm ḷng của Phan Thanh Giản
là tấm ḷng vàng chói rạng thiên thu, măi măi sáng ngời qua
không gian, thời gian và nhân gian. Mà thật vàng th́ sợ chi
lửa.
Trần Gia Phụng (19-6-2004)
CHÚ THÍCH
1.
Tiểu truyện Phan Thanh Giản trong bài nầy dựa vào
Đại Nam chính biên liệt truyện (chữ Nho)
quyển 25.(Viết tắt: Liệt truyện).
Người viết sử dụng hai bản dịch
để so sánh. Thứ nhất, bản dịch của
Nguyễn Phương, trong sách 82 năm Việt sử,
Huế: Đại Học Sư Phạm, 1963, tt. 181-188.
Thứ nh́, Đại Nam chính biên liệt truyện, bản
dịch của Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tập 4, tt.
37-46. Về các chi tiết khác, dựa vào hai tài liệu chính
là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim
và 82 năm Việt sử của Nguyễn Phương.
2.
Trương Đăng Quế (1794-1865): tự là Diên
Phương, hiệu là Đoan Trai, Quảng Khê,
người làng Mỹ Khê, huyện B́nh Sơn, Quảng
Ngăi, đỗ hương cống (cử nhân) năm 1819
(kỹ măo), làm quan ba đời vua (Minh Mạng, Thiệu
Trị, Tự Đức), từng làm thượng thư
bộ Binh, và cuối cùng lên đến Cần chánh
điện đại học sĩ, Cố mệnh
lương thần,hàm Thái Bảo, tước Tuy Quận
Công, hưu trí năm 1863. Ông là người chủ
trương quyết liệt chống Pháp.
3. Trích
từ Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên quyển
5, tập thượng, Sài G̣n: Tủ Sách Sử Học
Việt Nam, 1962, tr. 238.
4. Tài
liệu viết về đoạn nầy và đặc
biệt về thỏa ước Aubaret, theo Nguyễn
Phương, sđd. tt. 75-99.
5.
Nguyễn Phương, sđd. tr. 92.
6. Theo các
tài liệu Việt Nam, Phan Thanh Giản từ trần ngày 5
tháng 7 năm đinh măo tức 4-8-1867. Ở đây,
người viết theo tài liệu của Alfred Schreiner
trong Abrégé de l’histoire d’Annam, Sai G̣n: 1906, tr. 288. Theo các sách, sau
khi mất miền Tây ngày 20-6-1867, Phan Thanh Giản tuyệt
thực 15 ngày rồi từ trần. Từ ngày 20-6-1867
đến 5-7-1867 là đúng 15 ngày. Ngoài ra, Alfred Schreiner
căn cứ vào các tài liệu của các người trong
cuộc để viết lại nên có thể chính xác
hơn. Phải chăng ở đây có sự lầm
lẫn giữa 5-7 dương lịch và âm lịch. Xin
tồn nghi để t́m hiểu thêm.
7.
Liệt truyện, Nguyễn Phương dịch, sđd.
tt. 187-188.
8.
Nguyễn Q. Thắng -- Nguyễn Bá Thế, Từ
điển nhân vật lịch sử, in lần thứ
tư, Hà Nội: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 797.
9. Alfred
Schreiner, sđd. tr. 288.
10. Cao
Xuân Dục, Quốc triều đăng khoa lục, Trúc Viên
Lê Mạnh Liêu dịch, Sài G̣n: Nxb. Bộ Quốc Gia Giáo
Dục, 1962, tr. 31.
11. Tinh
thần trung quân mù quáng được thể hiện trong
một câu nói nổi tiếng được lưu
truyền làụ: "Quân sử thần tử, thần
bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử
bất vong bất hiếu." (Nghĩa là: Vua bảo
bề tôi chết, bề tôi không chết là không trung; cha
bảo con chết, con không chết là không hiếu.) Câu
nầy thường được gán cho là giáo
điều Nho giáo. Thật ra câu nầy là của thái
tử Phù Tô. Nguyên khi Tần Thủy Hoàng (trị v́ 221-210
TCN) từ trần năm 210 TCN, thừa tướng Lư
Tư và hoạn quan Triệu Cao làm chiếu giả,
buộc thái tử Phù Tô, con trai đầu của Tần
Thủy Hoàng tự tử. Lúc đó, Phù Tô đang phụ
trách công việc xây dựng Vạn lư trường thành. Khi
chiếu chỉ đến, có người can ngăn Phù Tô,
nói rằng coi chừng chiếu chỉ giả, Phù Tô
trả lời: "Quân sử thần tử, thần
bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử
bất vong bất hiếu", rồi tự tử theo
chiếu chỉ giả mà ông nghĩ là thật. [Phù Tô
vừa là con, vừa là bề tôi của Tần Thủy
Hoàng]. Về phần Lư Tư và Triệu Cao, hai ông lập người
con thứ của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên
ngôi, tức Tần Nhị Thế (trị v́ 209-207).
Triệu Cao gièm pha Lư Tư nên Nhị Thế giết Lư
Tư. Triệu Cao lên làm tể tướng giết Nhị
Thế, lập Tử Anh là con của thái tử Phù Tô lên làm
vua tức Tần Tam Thế (trị v́ 206-203). Tần Tam
Thế lại giết Triệu Cao. Tần Tam Thế
đầu hàng khi Lưu Bang đánh hạ Trường An
(Thiểm Tây) năm 203 TCN.
12.
Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển thượng, Sài G̣n:
Nxb. Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, 1971, tr. 130.
13.
Trần Trọng Kim, sđd. tr. 211.
14. Phan
Huy Lê trích dẫn trong bài "Phan Thanh Giản (1796-1867): con
người, sự nghiệp và bi kịch cuối
đời", đăng trong sách T́m về cội
nguồn, tập 2, Nxb. Thế Giới, 1999, tr. 716.
15.
Phạm Văn Sơn trích dẫn, sđd. tt. 240-241.
16.
Nguyễn Phương dịch, sđd. tr. 188.
17.
Trần Huy Liệu (1901-1969): Nguyên quán làng Vân Cát, huyện
Vụ Bản, tỉnh Nam Định. chủ bút Đông
Pháp Thời Báo (1925-1927), chi bộ trưởng chi bộ
đặc biệt của Việt Nam Quốc Dân
Đảng ở Sài G̣n, bị Pháp bắt đày Côn
Đảo trong năm năm. Măn hạn tù, ông ra Bắc
năm 1935 và gia nhập đảng CSĐD năm 1936.
Năm 1939, ông bị Pháp bắt trở lại, đày
đi Sơn La, rồi an trí năm 1942 ở Thái Nguyên, và Yên
Bái. Năm 1945, ông trốn về Hà Nội làm báo Cứu
Quốc của Việt Minh trong ṿng bí mật. Khi Việt
Minh cướp chính quyền ngày 2-9, ông được
Hồ Chí Minh giao làm bộ trưởng bộ Tuyên
Truyền trong chính phủ Việt Minh đầu tiên. Ông
được cử làm trưởng phái đoàn Việt
Minh gồm Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận, vào
Huế chứng kiến việc thoái vị của vua
Bảo Đại tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945.
Năm 1946, Hồ Chí Minh cử Trần Huy Liệu làm
uỷ viên thường trực Quốc Hội. Cuối
cùng, năm 1953, Trần Huy Liệu trở thành
Trưởng ban Nghiên cứu Sử Địa của nhà
cầm quyền cộng sản, một chức vụ không
có quyền hành.
18. Phan
Huy Lê trích dẫn, sđd. tr. 716.
19. Trích
nguyên văn lời dịch của đài BBC Luân Đôn
về bản khảo sát mang tựa đề "Freedom of
the Press 2004: A Global Survey of Media Independence", theo đó
Việt Nam xếp thứ 179 ngang hàng với Lào và Rwanda. Bản
khảo sát nầy do Freedom House, một tổ chức phi
vụ lợi có trụ sở tại Washington D. C. thực
hiện, và được công bố nhân ngày "Ngày Tự
Do Báo Chí Thế Giới" (World Press Freedom) của UNESCO
(3-5-2004). (Bản tin Việt ngữ đài BBC Luân Đôn ngày
4-5-2004).
20.
Về vụ án nầy, xin xem bài "Vụ án điển
h́nh của chế độ độc tài không luật
lệ", Trần Gia Phụng, trong sách Án tích Cộng
Sản Việt Nam, Nxb. Non Nước, Toronto, 2001, tt. 217-270.
21. Hàng
năm, cựu học sinh Phan Thanh Giản Cần Thơ
tổ chức họp mặt để tưởng
niệm cụ Phan và ôn lại kỷ niệm trường
xưa bạn cũ. Ngày 4-7-2004, cựu học sinh trung
học Phan Thanh Giản Đà Nẵng ở hải
ngoại đă tổ chức tại Orange County, California,
Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập trường,
đă cùng nhau ôn lại lịch sử cụ Phan và lịch
sử nhà trường cùng với những kỷ niệm
thời học tṛ.
22. Hoàng
Lê, "Những việc cần làm ngay", Bản tin
trường xưa, số 4, Xuân Giáp Thân, 2004, Houston, Texas:
Gia đ́nh Cựu Học Sinh Phan Thanh Giản và Đoàn
Thị Điểm, 2004, tt. 5-8.
23. Phan
Huy Lê, sđd. tr. 735.
24.
Nguyễn Văn Khoan, "Thế kỷ XXI nh́n về nhân
vật lịch sử Phan Thanh Giản", nhật báo
Tuổi Trẻ, TpHCM, ngày 18-8-2003.
25. Tin
của báo Tuổi Trẻ, TpHCM, ngày 5-5-2004.
26. Liêm
B́nh Cần Cán: Liêm khiết, công b́nh, cần cù (siêng
năng), mẫn cán (sáng suốt). Đây là bốn chữ
trên kim khánh do vua Tự Đức tặng Phan Thanh Giản
năm 1852.
27.
Yoshiharu Tsubo, Nước Đại Nam đối diện
với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đ́nh Đầu dịch,
TpHCM: Ban Khoa học Xă hội Thành uỷ, 1990, tr. 204.
Nguồn: saigonecho