KIN GIANG:

NH THƠ CHN QU V HOA TRẮNG TNH-YU

Nguyễn Vy Khanh

 

Nh thơ Kin Giang đ đến v ở lại văn-học sử Việt Nam với tnh-yu chn qu v mối tnh mu hoa trắng. ng tn thật l Trương Khương Trinh, sinh ngy 17 thng 2 năm 1929 tại lng Đng Thi, tỉnh Kin Giang (cng qu với nh văn Sơn Nam, vng rừng U Minh cũng l thế giới tiểu thuyết của Sơn Nam). Ngoi thơ-ca được k dưới bt hiệu Kin Giang khi đăng bo v Kin Giang H Huy H khi xuất bản, ng cn l soạn giả cải lương H Huy H v k giả kịch trường Kin Giang H Huy H. Cc bt hiệu nghi-trang ng đ dng trn bo ch miền Nam cộng-ha: Ngn H, Nam Bnh, Tm H., Trinh Ngọc, Bt Trời, Bt Si-Gn, Cửu Long Giang.

Năm 1946, ng tham gia khng chiến chống thực dn Php 9 năm, trưởng Đon văn nghệ thiếu nhi cứu quốc tỉnh Rạch Gi, lm bin tập v phng vin bo Tiếng Sng Khng Địch ở chiến khu 9 với bt hiệu Huy H v k Kin Giang khi lm thơ. ng đ gặp v sống gần gũi nh thơ Nguyễn Bnh trong cng chiến khu v hai người đ kết nghĩa anh em. Kin Giang đ kể rằng ng "c nhiều rng buộc với thi sĩ Nguyễn Bnh lc Nguyễn Bnh đến t tc tại xm biển Kin Giang (Rạch Gi). Nguyễn Bnh đ khch lệ ti lm thơ" (1). Sau năm 1955, Kin Giang trở về Si Gn viết bo v lm k giả kịch trường cho cc nhật bo Lẽ Sống, Dn Chủ Mới, Tiếng Chung, Tiếng Dội, Thời Sự Miền Nam, Dn Ta, Dn Tiến, Lập Trường, Điện Tn, Tia Sng ở Si-Gn v Miền Ty ở Cần Thơ; cộng tc với một số tạp ch văn-nghệ như Đời Mới, Bng La, Vui Sống, Nhn Loại (2), Thế Giới, Phổ Thng, v.v., soạn cc tuồng kịch cải lương v bi ca vọng cổ. ng cn l trưởng Ban thơ văn My Tần của đi pht thanh Si-Gn.

Về tc phẩm, ng đ xuất bản cc tập thơ Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm (1962, nh xuất bản Ph Sa của nh văn Ngọc Linh, nh văn Thanh Nam đề tựa, 62 trang), La Sạ Miền Nam (NXB L Bối, 1970. 80 trang), Qu Hương Thơ Ấu (NXB Ph Sa, 1967, 63 trang). Sau 1975, ng c Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm (NXB Văn-học, 1995) được ti bản v c tuyển tập Thơ Kin Giang (H-nội: NXB Văn-ha thng-tin, 1996. 107 trang). ng cũng đ soạn nhiều vở cải-lương như Người vợ khng bao giờ cưới (1958 với Phc Nguyn), Ngưu Lang Chức Nữ, o cưới trước cổng cha, v.v. v một số bi tn cổ giao duyn.

 

Nh thơ của hoa trắng tnh-yu

Chnh thức gia nhập lng thơ Việt-Nam năm 1952 nhưng thi tập Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm l tc-phẩm đầu tay của ng, được xuất bản v ti bản cng năm 1962. Những bi thơ, trường thin c, ngắn c, gợi nếp sống thanh bnh hay cảnh chiến tranh, nhưng cả tập đều đầy hương vị của miền Nam thn d, ruộng đồng. Kỷ niệm thời hoa nin, những tnh yu ngang tri hay nhẹ nhng, những cảnh qu của một miền Nam chưa đ thị ho, ở khung cảnh v tm tnh con người. Ging sng uốn khc chảy ra biển "vẫn nhớ rễ bần, đất Hậu giang", cy đa xiu vẹo đầu lng, tiếng nhạc xe b qua cầu Hng Sanh, mu mực tm từ tri mồng tơi, người mẹ cả đời hy sinh cho chồng con, một c gi nhỏ ngy thơ, một t o tm kỷ niệm,...

Nổi tiếng nhất l bi Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm được dng lm tựa tc phẩm, bi thơ m vo đầu thập nin 1960 những tiếng ngm Hong Oanh, Hồ Điệp, v.v. trn ln sng điện trong chương trnh Tiếng Thơ My Tần do Kin Giang phụ trch trn đi pht thanh Si Gn, đ từng lm say m thnh giả một thời v được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc. Bi Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm l một trong số những truyện kể của tập: Hai người học tr quen nhau, nng hay mặc o tm v ci hoa trắng. Thời gian qua nng lấy chồng cn chng đi theo tiếng gọi chống giặc xm lăng cũng l để bảo vệ những kỷ niệm trn qu thời hoa nin. Một tnh-sử đẹp thời chiến tranh chống ngoại xm. Bi thơ Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm đ đưa nh thơ Kin Giang vo văn-học sử. Một chuyện tnh đẹp với những nt thuần-khiết v chn chất. Rất lu sau ny nh thơ mới tiết lộ cho biết người con gi đối tượng tnh-yu v cc chi tiết chung quanh bi thơ. Một chuyện tnh thật của nh thơ với c Nguyễn Thy Nhiều, một c bạn học cng lớp đệ nhị tại trường tư thục Nam Hưng, Cần Thơ. Tnh trong như đ với cả hai nhưng thật cm nn, chng trai chỉ biết theo bước chn nng những hm nng đi lễ nh thờ, nng thường mặc o tm v ci hoa trắng. Cho đến ngy khng chiến thng 8-1945. ng về qu tham gia khng Php rồi gia đnh p lấy vợ. Mười năm sau gặp lại, người nữ o tm ngy no vẫn chờ. "Hai thng sau, ng nhận được thư b Nhiều bo sẽ lấy chồng v Kin Giang đ c vợ. Người chồng của b Nhiều cũng tn Trinh v khi sinh đứa con đầu lng b đặt tn tn Triều (gồm một nửa Nhiều v Trinh cộng lại)" (3).

Bi Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm c hai văn-bản: bản đầu ghi sng tc tại Bến Tre ngy 14-11-1957, gồm 15 đoạn (60 cu), bản thứ hai ghi Gia-Định 28-5-1958 lược bỏ mất 8 cu v thay đổi một số cu v chữ dng. Đặc biệt diễn tiến cu chuyện tnh v tưởng ở cuối hai bản khc nhau nhưng người đọc v thnh giả đi pht thanh v ca nhạc đa số chỉ giữ lại đoạn cuối của bi thứ nhất sng tc vo thng 11-1957: người nữ o tm ci hoa trắng sẽ trở lại gio đường, nhưng trong chiếc o quan v mối tnh sẽ bất diệt.

Trước hết, xin ghi lại văn bản đầu trch từ tuyển tập Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm do nh Ph Sa xuất bản năm 1962, chng ti in nghing những cu v chữ sẽ thay đổi ở bản sau. Đầu bi thơ ghi Tm-tnh người trai ngoại đạo đối với c gi c đạo":

"Lu qu khng về thăm xm đạo

Từ ngy binh lửa xa khng gian

Khi bom che lấp chn trời cũ

Che cả người thương, nc gio đường

Mười năm trước em cn đi học

o tm điểm t đời nữ sinh

Hoa trắng ci duyn trn o tm

Em l c gi tuổi băng trinh

*

Trường anh ng mặt gio đường

Gc chung thương nhớ lầu chung

U buồn thay! chung nhạc đạo

Rộn r thay! chung nh trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chung

Lm thơ sầu mộng dệt tnh thương

Để nghe khe khẽ lời em nguyện

Thơ thẩn chờ em trước thnh đường

Mỗi lần tan lễ chung ngừng đổ

Hai bng cng đi một lối về

E lệ, em cầu kinh nho nhỏ

Thẹn thuồng, anh đứng lại khng đi

*

Sau mười năm lẻ, anh thi học

Nức nở chung trường buổi biệt ly

Rộn r từng hồi chung xm đạo

Tiễn nng o tm bước vu quy

Anh nhn o cưới m anh ngỡ

Chiếc o tang liệm khối tuyệt tnh

- Hoa trắng thi ci trn o tm

Thi cn đu nữa tuổi băng trinh

Em ln xe cưới về qu chồng

D cch đ ngang cch mấy sng

Anh vẫn yu người em o tm

Nn tnh thơ ủ kn trong lng

*

Từ lc giặc ruồng v xm đạo

Anh lm chiến sĩ giữ qu hương

Giữ mu o tm, người yu cũ

Giữ cả lầu chung, nc gio đường

Mặc d em chẳng cn xem lễ

Ở gio đường u-tịch chốn xưa

Anh vẫn giữ lầu chung gc thnh

Nghe chung truy niệm mối tnh thơ

Mu gạch nh thờ cn đỏ thắm

Như tnh nồng thắm thuở ban đầu

Nhưng rồi sau chuyến vu-qui ấy

o tm nng thơ đ nhạt mu

*

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ

Chở o tm về trong o quan

Chung đạo ngn vang hồi vĩnh biệt

Khi anh ngồi kết vng hoa tang

Anh kết vng hoa mu trắng lạnh

Từng ci trn o tm ngy thơ

Hm nay vẫn đo hoa mu trắng

Anh kết tnh tang gởi xuống mồ

Lu qu khng về thăm xm đạo

Khng cn đứng np ở lầu chung

Những khi chung đổ anh lin tưởng

Người cũ cầu kinh giữa gio đường

"Lạy Cha! con l người ngoại đạo

Nhưng tin c Cha ngự trn trời"

Trong lng con, giữa mu hoa trắng

Cứu rỗi linh hồn con, Cha ơi !!"

(Bến Tre 14-11-57) (Tr. 25-27)

Trong bi ny, mối tnh đam m của người trai ngoại đạo rất nồng nn v kết thc lng mạn. Ngược lại, ở bi sửa lại sau, ghi ngy 28-5-1958, thay v nhn vật nữ chết v tnh tc-giả vẫn nồng chy, th ng để người trai "đ chết hin ngang dưới bng cờ" khi bảo vệ ngi thnh đường v như tc giả sau ny cho biết v muốn người yu sống hạnh phc bn chồng con, ng đ đổi một số cu trong bi cho hợp tnh cu chuyện v đoạn kết bi thơ như muốn tống tiễn mối tnh học tr trong trắng ấy (3). Xin ghi lại nguyn bi thứ hai (trong cng tập do nh Ph Sa xuất bản, tc-giả để bi năm 1958 ln đầu tập, trang 9-11 v phụ ghi l bi 1, bi năm 1957 thnh bi 2, trang 25-27).

"Lu qu khng về thăm xm đạo

Từ ngy binh lửa chy qu hương

Khi bom che lấp chn trời cũ

Che cả người thương nc gio đường

Mười năm trước, em cn đi học

o tm điểm t đời nữ sinh

Hoa trắng ci duyn trn o tm

Em l c gi tuổi băng trinh

*

Quen biết nhau qua tnh lối xớm

Cổng trường đối diện ng lầu chung

Mỗi lần cha nhựt em xem lễ

Anh học bi n trước cổng trường

Thuở ấy anh hiền v nht qu

Np mnh bn gc thnh lầu chung

Để nghe khe khẽ lời em nguyện

Thơ thẩn chờ em trước thnh đường

Mỗi lần tan lễ, chung ngừng đổ

Hai bng cng đi một lối về

E lệ, em cầu kinh nho nhỏ

Thẹn thuồng, anh đứng lại khng đi

*

Sau mười năm lẻ, anh thi học

Nức nở chung trường, buổi biệt ly

Rộn r từng hồi chung xm đạo

Tiễn nng o tm bước vu quy

*

Anh nhn o cưới m anh ngỡ

Chiếc o tang liệm một khối sầu

Hoa trắng thi ci trn o tm

Giữ lm chi kỷ-vật ban đầu

Em ln xe cưới về qu chồng

D cch đ ngang cch mấy sng

Vẫn nhớ bng vang thời o tm

Nn tnh thơ ủ kn trong lng

Từ lc giặc ruồng v xm đạo

Anh lm chiến sĩ giữ qu hương

Giữ t o tm mu hoa trắng

Giữ cả trường xưa nc gio đường

Giặc chiếm lầu chung xy gc sng

Sng gầm rung đổ gạch nh thờ

Anh gom gạch đổ xy tường lũy

Chiếm lại lầu chung giết kẻ th

Nhưng rồi người bạn đồng trang lứa

Đ chết hin ngang dưới bng cờ

Chung đổ ban chiều, em nức nở

Tiễn anh ra khỏi cổng nh thờ

Hoa trắng thi ci trn o tm

M ci trn nắp cỗ quan ti

Điểm t cng trận bằng hoa trắng

Hoa tuổi học tr mi thắm tươi

*

Xe tang đ khuất nẻo đời

Chung nh thờ khc ...tiễn người ngn thu

Từ đy, tc rũ khăn s

Em ci hoa trắng trn mồ người xưa"

(Gia-Định 28-5-58) (Tr. 9-11)

Bi thơ Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm cốt kể một chuyện tnh ring tư đ trở thnh một bản tnh ca đẹp. Ngoi ra, trong một số bi thơ khc, Kin Giang đ tỏ những mối tnh đơn sơ, thong qua, v.v., như trong bi Qun Giữa Đồng:

"Tr Mi c qun giữa đồng,

C c gi nhỏ m hồng hữu duyn;

Hữu duyn m lại chn chuyn,

Nhưng lng khp kn như phn qun ny .

Trưa vo đng buổi cy,

Ti vo qun đợi xế di ..., cy dm.

Hm no trời đổ mưa dầm,

Ti vo hơ o... đợi tn cơn mưa .

Chiều chiều gi đẩy gi đưa,

Nhn xem l mạ m mơ duyn nồng.

Thng ba, c rốc ln đồng;

Trai lng đ rạ ku cng đầu ma .

Chiều rồi! ... đồng vọng chung cha;

Cy chưa hết việc... mặc giờ hong hn.

Cy trưa thiếu nước thiếu cơm,

Gh vo qun nhỏ đỡ cơn đi lng.

Cm ơn c qun giữa đồng,

Qun ngho tuy hẹp, m lng khng thưa .

Từ khi giặc đốt qun xưa,

Thiếu nơi tr nắng, đụt mưa qua ngy .

Ti buồn khi thả vốc cy,

đnh ngồi dang nắng... đợi chiều cy dm.

Trời d mưa mới lm rm,

Ti lo thiếu lửa ..., hơ chăn o ngho (...)".

Hay những mối tơ duyn qu đơn sơ được kể lể trong bi Cầu Tre. Đặc biệt mở đầu bi thơ, Kin Giang ghi lời nhắn "Gởi Thy Nhiu v thn tặng những bạn đường đang sống quay cuồng giữa đ thnh loan vết xe ngựa v ct bụi, chắc khng bao giờ hướng mắt về miền qu để m sống lại với mối tnh 'cầu tre' ..." (4). Phải chăng Thy Nhiu l Nguyễn Thy Nhiều, người nữ của Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm? V bi được ghi lm ở Rạch Gi, Thượng tuần thng Chạp, 1953 tức lc ng cn ở trong chiến khu, xa người yu!

"... Nh anh ở kế bn cầu,

Nh em ở cuối đầu cầu bn sng.

Bn sng cứ mỗi hừng đng,

Em ra vo gạo, bến sng bn cầu .

Anh vừa mở cổng thả tru,

Thấy em, anh vội x ro nhn em.

Rồi qua cầu ni với em:

"C vo nếp anh thm mi xi"

V anh, khi mới hừng trời,

Qua cầu, em biếu dĩa xi muối m .

Cầu tre lắc lẻo cầu tre,

Con đ chở tấm tnh qu qua cầu ....

Từ đy cứ mỗi ma cau,

Anh qua cầu để bẻ cau cho nng.

Khi no trầu ht trầu khan,

Anh qua xin l trầu vng bn em.

Khi ma cấy hi "đng ken",

Ruộng anh em cấy, đất em anh cy .

Vần cng lối xm tiếp tay,

Kết tnh lưu luyến gi trai đi lng.

Đi tim trang lứa nhịp nhng,

Ho theo nhịp sng la vng mnh mng.

Đi lng cch một dng sng,

Tơ hồng chưa buộc, tơ lng đ xe .

Cầu tre lắc lẻo cầu tre,

Duyn ngho đầm thấm, tnh qu nồng nn.

Trong tnh yu nước, yu lng,

C tnh chăn gối, đ vng lứa đi .

Mẹ chng cậy mối cậy mai,

Tặng qu lễ ni một đi bng vng.

Hai bn c bc họ hng,

Chọn ngy lễ cưới qua rằm thng Ging.

Bỗng rồi lửa chy xm giềng,

Cầu tre gy nhịp gục nghing giữa dng.

Lửa trn lan chy bn sng,

Mu pha nước mắt đỏ lng trường giang.

Giặc trn về bắt sống nng (. . .) ".

Sống đời vợ chồng, nh thơ c những giy pht chạnh lng thương người vợ hiền, sau những vui chơi với b bạn, như đ được biểu tỏ trong bi Mới Cưới cảm hứng từ thơ "nng ngỡ vợ chồng như mới cưới":

"Thnh đ đm ấy...trời mưa lớn

Tơ lạnh giăng sầu xm ngoại

C một linh hồn say đọa lạc

Trở về hốc hc giữa cơn mưa

Nghing nghing chiếc bng x phin cửa

Rn rn vo trong bng tối dy

Tc rối cn tanh mi phấn rửa

Mặt người p xuống giữa bn tay

Người ấy khot rm nhn chiếu lạnh

Ka người vợ yếu ngủ m say

Đi tay thon nhỏ k lm gối

Hai đứa con gầy nằm sải tay

Thấy chăng con b trong cơn ngủ

Nt mạnh đi đầu v ho hon

Ai biết mẹ gầy trong giấc ngủ

Vẫn sang dng mu để nui con (...)" (1956).

 

Nh thơ chn qu

Qu hương, dn tộc, tnh cảm yu nước r nt hoặc bng bạc trong nhiều bi thơ của ng. Lời lẽ ni chung chn thnh v giản dị, khng lm dng, khng phức tạp v đẽo gọt tiếng ni, lời văn. Lời v một nhịp, chn chất như con người vng đất Hậu-giang. Thơ Kin Giang mang tnh truyện kể hơn l văn chương điu luyện. Hy nghe lời của một chng trai gh xin nước ở nh một c gi giữa trưa nắng gắt:

"Trời đang đứng bng trưa gay gắt

Anh gh nh em xin nước mưa

Ngỡ lạc Đo Nguyn hay Thượng Uyển

Khi bng sứ nở hội đương ma

Uống nước trời mưa anh như tưởng

Uống mi hương tc gi ngy thơ

Nước trong veo qu, khng men rượu

Mới uống lng đ ngy ngất say

Gi thổi tc bay hương phảng phất

Giả vờ anh gợi "Nước mưa thơm"

Hương xng từ tc ln da thịt

V m hồng chưa c dấu hn

Vuốt tc liếc nhn như bẽn lẽn

Mi cười nửa nụ trch người quen

"Ci anh thi sĩ đa tnh qu

Cho uống no rồi... chọc ghẹo em"

Cổng đ khp rồi bng sứ rụng

Anh ln đường giữa nắng ban trưa

Lng cn say ngất dư hương cũ

Hương tc hay l hương nước mưa". (Hương Nước Mưa)

Thề giới thơ của Kin Giang c một phần thuộc về một thời học tr 'Mực tm phai rồi anh vẫn nhớ / Ma hoa điệp nở, mộng ngy xanh":

"Ti đ tương tư mu mực tm

Từng ngy mới viết chữ A, B

Cong queo dng bt tnh thơ dại

Chữ nghĩa đẹp trong nt vụn về

Mỗi lần tri mồng tơi chn

Anh hi lm mực tm

Tặng c bạn nữa ve bầu

C đem mực tm nhuộm mu o thơ

Từ ngy nhuộm o mu tim tm

B bạn gặp em ở cổng trường

Thường gọi: Ny c em o tm

Cho anh nhểu mực viết văn chương

Mỗi lần tan học tung tăng bước

Em đụt mưa chiều tr nắng trưa

Dưới l mồng tơi rm bng mt

Ngồi nghe mẹ kể chuyện đời xưa

Mẹ ngho chăm bn vồng khoai tm

Hi l mồng tơi bn chợ lng

Đổi gạo mua đn cng giấy mực

Nui con ăn học, mấy năm trường...(Mu Mực Tm)

"Từ khi c gio tập em đồ

Khng k giấy chặm em v

Để dấu tay lem vở học tr" (Đồng Xu Giấy Chặm)

Bi thơ lục bt Tiền V L được viết năm 1956, về sau được nhạc sĩ Bắc Sơn phổ nhạc, theo giai thoại đ được nh thơ đề tặng: "Tặng thi sĩ Nguyễn Bnh để nhớ ngy t tc ở xm biển Kin Giang". Nh văn Xun Vũ trong cuốn Những Bậc Thầy Của Ti c kể giai-thoại về Kin Giang: "Người thứ hai ti gần gũi l Huy H. Anh học ở trường Bassac v sớm m thơ Nguyễn Bnh. Con gi của anh hiện nay ở Hoa Kỳ, đ cho ti biết l thuở cn đi học, anh đ từng ln nh xc gạo đem cho nh thơ giang hồ ngho Nguyễn Bnh, khi thi sĩ lưu lạc về bờ biển Rạch Gi khoảng năm 1942" (5). Tiền V L l chuyện thời thơ ấu chơi tr trẻ con nhưng đ ẩn v m ảnh về giu-ngho khơi nguồn cho thức x hội sau ny. Trn tạp ch Thời Tập, Kin Giang cho biết ng khng ưng nhưng thch bi thơ ny v bi đ gi ghm một cht tnh thơ dại (6). Lời đề tặng khc mở đầu bi thơ: Ring tặng cc bạn đ dang dở với mối tnh đầu ....

"Ngy thơ, hớt tc "miểng ra"

Ngy thơ, mẹ bắt đeo ba "cầu ng".

Đi ta cng học vỡ lng,

Dắt tay qua những cnh đồng la xanh.

Đi nh cũng một sắc tranh,

Chia nhau từ một tri chanh, tri đo .

Đm vng so bng trăng cao,

Ngồi bn bờ giếng đếm sao trn trời .

Anh moi đất nắn "tượng người",

Em thơ thẩn nhặt l rơi lm tiền.

Mỗi ngy chợ họp mười phin,

Anh đem "người đất" đổi "tiền l rơi".

No ngờ mai mỉa cho ti,

Lớn ln em đ bị người ta mua .

Kiếp ti l kiếp lm thơ,

Vốn ring chỉ c mun ma l rơi .

Tiền khng l l em ơi

Tiền l giấy bạc của đời in ra .

Người ta giấy bạc đầy nh,

Cho nn mới được gọi l chồng em.

By giờ những buổi chiều m,

Ti gom l đốt, khi ln tận trời!

Người mua đ bị mua rồi,

Chợ đời họp một mnh ti vui g!" (Bến Kin Giang 1956)

Kin Giang đ chịu phần no ảnh hưởng thơ Nguyễn Bnh khi viết về tnh yu v đồng qu - hay đng hơn nn ni cả hai ng đều chịu ảnh hưởng thơ ca đại chng. D sao, 'lục-tỉnh tnh' ở ng vẫn r nt v đnh dấu ring của thổ ngơi, cảnh sắc v ngn ngữ vng Hậu-giang. Bi La Sạ Miền Nam trong tập thơ cng tựa, vẽ lại bức tranh miền Nam ruộng đồng thẳng cnh c bay:

"Mời bạn về thăm qu hương la sạ

Ngắm biển trời Đồng Thp, đất An Giang.

G c Eo cn dấu vết một kho tng

Nhớ thuở bn vng những năm đồ khổ

Lặn dưới bn su mở đường hơi thở

Đưng Ba Th nhớ cỏ la Lng Linh

Bảy Ni gọi my dựng bức tường thnh

Ngăn gi độc cho xanh mu l mạ

Mời bạn về m chn cy la sạ

Để reo mừng đau xt với Hậu Giang

Mẩy trăm năm từ thuở mới khai hoang

Nhạc rừng tru vượt trời nghe đồng vọng

Gọi nhau về Miền Ty chn trời mộng

Cho tay chai rạch đất thế lưỡi cy

Thủy triều ln xuống vơi đầy

Mồ hi đổ xuống, đất lầy trổ bng

Mời bạn về thăm vng trời đất đứng

Để lắng nghe mạch sống chảy m thầm

Dưới mặt nước, nhạc ngầm gợn dư m

Chuyển thnh sng dập vờn theo tc la

La yu đồng nn dịu dng ca ma

Trn địa đng thơm ngt hương ph sa

C tm ko về đại hội hải h

Ca mừng la với "Trường ca sung tc"

Mặt đất rộng phơi da đầu dưới nước

Cho rễ dy đan tc la rối đoanh

Gi gợn mặt biển xanh

Sng xao tc la vy quanh xm lng

(...) La sạ vượt trời cao đất đứng

Bừng bừng ho kh ngt trăng sao

Tri tim bằng thp, chn bằng đ

Nước xoy lng sng cuộn mu đo

Mu Sc nu Nng Ty gạo Điểm

Ngn năm bốc khi bếp ph sa

Hy về sng Hậu sng Tiền cũ

Dựng lại qu hương dưới mi nh

Dầu ăn gạo Mỹ chở tu binh

Đừng phụ gạo qu đất nước mnh

La sạ vẫn cn nguyn rễ mẹ

Địa đng cn rộng chn trời xanh". (Miền Ty ma nước lụt 1964).

Bi Đẹp Hậu-Giang như một thin anh hng ca (viết để tặng người Việt yu Hậu-Giang) đề cao con người của vng đất đ hy sinh v tranh đấu với người v nghịch cảnh để c được như hm nay.

"(...) Nước chảy một dng ra biển cả,

Vẫn mang tnh nước Cửu-Long giang.

Sng ơi ! d nước ra khơi biển,

Vẫn nhớ rễ bần đất Hậu-Giang ...".

Bi thơ Bnh Ống Tr Vinh cho biết mn ăn qu nh lc no cũng ngon hơn nếu phải so với những đặc sản của những vng đất khc, v lin hệ đến con người, cảnh vật thn quen :

"Ti yu kiểu o "tầm vong" nhỏ

Đi mắt đen huyền c gi lai

Đi mi cha cong như cnh phượng

Gi bay cờ phướng đẹp my trời.

Ti yu hơi nước trong nồi đất

Nấu chn mi thơm bnh Ph Vinh

L dứa tin thanh mu l mạ

- C em mặc o cũng thin thanh.

(...) Hơi nước cn thơm mi bnh ống

Cn thơm t o sắc thin thanh

C em bn bnh sao hiền qu

Lng lnh mắt huyền in bng anh.

Vườn bưởi Bin Ha tuy ngọt lịm

Cũng khng bằng nửa mi Thanh Tr

V hương tc rối thơm bng bưởi

- C gi Tr Vinh đẹp mặn m.

Về xứ Tr Vinh ăn bnh ống

Thương mu l dứa, o thin thanh

Gi đưa hương bưởi vo hơi thở

Thương xứ thương lun gi Vĩnh Bnh" (La Sạ Miền Nam)

Thơ Kin Giang mang đặc tnh giản dị, mộc mạc, bt php đặc-th của miền Nam lục-tỉnh:

"Hương cau thơm phức ngi sao mẹ

Thơm ngt mi nh, thơm o cơm

Con thở trong mi thơm bt ngt

Thịt da mi tc quyện mi thơm

() Nhớ ma cau trổ trong vườn cũ

Mẹ qut l vng ủ lấy phn

Khi trắng ln trời như tc bạc

Con ngờ khi tc quyện my Tần "

Vũng Tu một giờ đm 13-10-61 (Khi Trắng)

Dưới Gin Mồng Tơi, với đề tặng "Knh tặng Mẹ". Nơi người mẹ sinh sống 'hai vai gnh nợ con chồng / Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ":

"Mẹ gi nấu rượu nếp than

Kiếm tiền trả bớt nợ nần thm nin

Trn nhăn cy nếp ưu phiền

Bn tay no sạch ? Đồng tiền no dơ ?

(...) Hai vai gnh nợ con chồng

Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ

Thở di theo điệu ầu ơ

"Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mnh

Bn ven rừng xứ U Minh

Trọn niềm du thảo, trọn tnh mẫu thn

By giờ ho hắt tuổi xun

Su mươi năm, su mươi năm mỏi mn

Vầng trăng Xẻo Đước thi trn

Đường cu đă cuốn, lối mn đ qua

(...) Ới sng Ci Lớn

Ới ngọn bần gie

Lửa đom đm chẳng lập lo

Bao giờ mới thấy lối về qu xưa" (La Sạ Miền Nam)

Hnh ảnh người mẹ Việt Nam được vinh danh trong bi Tiếng Ru Ba Miền:

"Tiếng mẹ ngn nga triều nước lớn

Điệu vnh khuyn, m hưởng tiếng chim oanh

My khng đuổi cnh c bay mỏi gi

Đất miệt vườn mở rộng chn trời xanh

Tiếng mẹ ra mở đường bay cnh gi

Kết tụ ma xun trải bốn ngn năm

Chm xuống đất ngấm vo đy thm tm

Sức mạnh chm ngụy trang trong tiếng nấc

Mắt chm xuống m tm hồn bất khuất

Tc ngả mu v bạc trắng niềm tang

Vạt o tứ thn, manh o v qung

Đều in ngầm bản đồ cong chữ S

Tiếng mẹ ru snh non thnh đất thp

Trường Sơn gầy giương đn gnh dẻo dai

Mốc trắng mồ hi lưng o v vai,

Lng lnh kim cương tri tim mẹ Việt

Tiếng ru vượt trời cao i diễm tuyệt

Cuộn sng Hồng uốn khc Cửu Long Giang.

G xương kh gọi hồn phch mồ hoang.

(...) Tiếng mẹ ru ko lơi vng kẽm st

Ph vng đai thế kỷ chiến tranh đen

Khng xưng danh m đời vẫn gọi tn

Mẹ Việt Nam: Mẹ oai hng vạn kỷ

Đn con mẹ mang tm hồn thi sĩ

Tay lm thơ tay mở cnh thin thần

Ma bt so gươm diệt lũ hung tn

Dựng bao gấm ma xun trong huyết sử

Thế nước lng dn o o thc lũ

Tổ Quốc mnh bất tử vượt thời gian

Miền Trung sỏi đ

Ln nhịp h khoan

Bnh xe gi vẫn chuyển lun kh hng

Điệu ru cay đắng vị gừng

Mưa trong nắng đục, nhạc lừng sng Hương

Tiếng ngm sa mạc

Giọng điệu ời

Ngn năm cn nức nở lời Nguyễn Du

Hồn Đồ Chiểu quyện cỏ kh

Ngn năm dậy sng tiếng ru đồng bằng. (Đm 12-12-68)

Thơ Kin Giang nhiều tnh tự dn tộc. Bi Tnh Qu Tnh Nước m năm sng tc khi th ghi năm 1954, khi 1955, c thể v những cu cht đ hoặc sẽ khc:

"Ai yu nước Việt Nam hơn người Việt,

Nhau rn chn su giữa đất lnh.

Bng tri mun ma khng ngớt chn,

Sng đầy nước biếc, ni xanh xanh.

Luống cy mầu mỡ thơm mi đất,

Vun bn rẫy vườn bng tri thơm.

No ấm cũng nhờ bng với tri,

o đời vẫn ấm, hột cơm ngon.

Ka nước trường giang chảy uốn quanh,

Giữa ging sng mt bng dừa xanh,

C c gi trẻ nu t o,

Cho chiếc đ ngang trước bến đnh.

No ai lăn lc, xa qu cũ,

M chốn phồn hoa trắng bụi đường;

Giy pht chạnh lng sao khỏi nhớ,

Nhớ nh, nhớ đất, nhớ qu hương.

Nhớ qu c những đm trăng sng,

Sng cả vườn xanh, cả ruộng vng.

Con trẻ quy quần theo gt mẹ,

Ln cha cng Phật để dng hương.

Nhớ tiếng vng đưa trầm điệu nhạc,

Ho theo tiếng ht giọng ầu ơ ....

Từ mi người mẹ thn yu qu,

Gợi ln bao tnh thuở ấu thơ .

Tiếng chy nằng nặng nện khng gian,

Cng tiếng g trưa gy trễ trng,

Tiếng tập đnh vần cng nhịp thước,

Buồn như nước chảy giữa trường giang.

Ai qun cho mượn mi tranh nu,

Luống đất bờ ao với nhịp cầu;

Mồ mả ng b nằm giữa đất,

Lng người lng đất cảm thng nhau .

Qu hương l mu, l xương thịt,

Nước mắt mồ hi của giống ni,

Tranh đấu từ bao nhiu thế kỷ,

Bảo tồn gấm vc đến mun đời .

Cn sống ngy no trn đất nước,

Nếu ai xm chiếm đến qu hương,

Tnh qu sẽ ho ra tnh nước:

Tnh nước đc thnh sng với gươm.

Lng dn vũ trang bằng tnh cảm,

Tay dn vũ trang bằng sng đạn.

Dn đứng ln siết chặt qun hng:

Giặc vo đy giặc sẽ r tan ...

Lời thơ như ngn ngữ ni của đời thường:

"Phạt anh ngm nước v lu

Bẻ tu chuối hột che d cho em" (Ngựa Trc)

"Tuổi hai mươi lng hai mươi,

L bng la mới l trời bnh minh

(...) Người hng thế hệ: người trai Việt,

Khng chỉ hng bằng xc thịt thi .

Bằng cả tm hồn v khối c.

Người hng thế hệ Việt Nam ơi! " (Người Hng Thế Hệ, 1956)

Kin Giang nhập dng thơ qu hương v tnh tự của con người ruộng đồng của những Anh Thơ, Bng B Ln, v.v. Thơ của Kin Giang mang tnh chn qu v nhiều tnh cảm đn hậu, tự nhin, như tiếng lng của con người những vng sng nước ruộng đồng bao la. Thơ ng c nhiều cu được phổ biến rộng ri, đ l l do khiến một số cu thơ của ng bị hiểu lầm l ca dao, như:

- ng bầu vờn đọt m u

Lấy chồng cng sớm tiếng ru cng buồn ...

- Đi lng ăn nửa tri sim

Uống lưng bt nước đi tm người thương.

Tnh-chất bnh dị đ của ngn ngữ thơ Kin Giang được nh văn Sơn Nam cắt nghĩa: "Vốn liếng về từ ngữ người Kin Giang rất t, hng ngy sống ln la với người Hoa bn tạp ha v người Khơ-me lm ruộng. Ở đy c thể ni tiếng Việt khng pht triển, lại thm "tiếng lng" m người địa phương khc kh chấp nhận. Vốn duy nhất l ca dao được mẹ dạy cho, từ thuở ấu thơ. Vốn quan trọng hơn vẫn l ci tm, lng yu nước, muốn giới thiệu tm hồn người dn ngho xm mnh với cả nước, cng chia sẻ buồn vui (7).

Thơ Kin Giang bnh dị, tự nhin vừa mang tnh thời sự vừa trở về nguồn, cho nn tuy cng thời với những nh thơ Sa-Giang Trần Tuấn Kiệt, Thẩm Thệ H, Thanh Việt Thanh, v.v. nhưng thi-ca của Kin Giang mang tnh độc đo của ring ng.

 

Ch-thch:

1- "Kin Giang v Hong Trc Ly - Tay đi". Thời Tập 9, 7-1974, tr. 13.

2- Trn tạp ch Nhn Loại, ngoi thơ, Kin Giang cn viết bnh luận v bt k như bi ''Qu Ngoại" (Bộ mới, số 100, 2-5-1958): "Cng cọc bắt c dưới sng / Mấy đời chu ngoại giỗ ng bao giờ".

3- Trần Hong Nhn trong bi viết "Nh thơ Kin Giang-H Huy H: tnh yu mi ci trn o tm" (lethieunhon.com) đ kể lại chi tiết cu chuyện tnh hoa trắng v đ tiết lộ danh tnh người nữ ny l Nguyễn Thy Nhiều, mất năm 1998. Đến ngy 18-3-2008, trong khun khổ một chương trnh thơ nhạc mừng thượng thọ 81 tuổi của nh thơ - soạn giả Kin Giang H Huy H tại Trung tm Văn ha quận Ph Nhuận, chnh nh thơ Kin Giang đ cng bố di ảnh b Nguyễn Thy Nhiều, nhn vật trong bi thơ Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm: "Đm lễ qui tụ nhiều nh thơ, nghệ sĩ nổi tiếng, lnh đạo ngnh văn ha v đng đảo khn giả. Tại đy, sau hơn 60 năm, nh thơ Kin Giang đ bất ngờ cng bố di ảnh nhn vật c gi xm đạo trong bi thơ Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm từng được nhiều thế hệ thanh nin yu thch từ năm 1943 (?, 1957). ng kể thuở mới lớn, ng thường đi sau b thầm thương trộm nhớ v... lm thơ. ng v b chưa hề nắm tay nhau, nhưng con chu b ngy nay đều biết v qu mến ng" (Tuổi Trẻ, 20-03-2008).

4- Trch từ Phạm Thanh. Thi Nhn Việt-Nam Hiện Đại (Los Alamitos CA: Xun Thu tb, 1990). Tr. 564.

5- Xun Vũ. Những Bậc Thầy Của Ti. Arlington, VA: Tổ hợp xuấ́t bả̉n miề̀n Đng Hoa Kỳ̀, 1998.

6- Thời Tập. Bđd, tr. 17.

7- Sơn Nam "Cng bạn đọc". Hoa Trắng Thi Ci Trn o Tm (NXB Văn Học, 1995).

 

Nguyễn Vy Khanh

8-2008