CON CHIM HÁN HỌC CUỐI MÙA
Ở NGÔI
TRƯỜNG THÀNH PHỐ
Nguyễn Văn Sâm
Thích thú khi kỹ
niệm tưởng chừng đã bị phủ kín
dưới tầng tầng lớp lớp thời gian
bỗng được phép màu khơi dậy cuồn
cuộn tuôn về không thể kềm chế, lúc tôi nhìn
thấy lại hai câu đối ngày nào trước
cổng trường.
Cám ơn bạn bè đã
giữ được trong trí tinh chất tư
tưởng của vị thầy tôi kính mến. Cám ơn
anh em cùng chung mái trường thuộc những thế hệ
khác nhau, giờ lạc lõng quê người, cùng nhau hội
lại, đã giúp tôi có dịp đào xới những gì
đã vùi chôn trong ký ức.
Tôi đọc câu đối
bằng trí nhớ “Khổng
Mạnh cương thường tua khắc cốt, Âu Tây
khoa học yếu minh tâm” khi những cảm
tường về nơi mình tòng học đang
được tiếp nối phát biểu thật cảm
động trên sân khấu! Anh ngồi gần ngời sáng
ánh mắt, rung động vì thời trai trẻ hiện
về. Em nào đó lẩm nhẩm cố ghi nội dung
ẩn tàng trong các chữ thật bình thường
trước mặt.
Hình ảnh vị giáo sư
vỡ lòng tôi chữ Hán hơn ba thập niên trước
hiện rõ ràng trong trí. Vị thầy một niên khóa xa
xưa người học trò một đời chịu
ảnh hưởng. Vị thầy khuất núi từ lâu
người trò như còn mơ hồ nghe đâu đây
lời giáo huấn.
Thầy tôi, giáo sư Ưng
Thiều, vị giáo sư già, người thầy trễ
tràng rớt rơi lại của giai đoạn Hán học
cuối mùa, một thời nặng nợ trường
ốc, khổ tâm với “điêu
trùng”, “trường quy” năm đó lạc lõng giữa
đám học trò nhìn chuyện xưa như những
điều kỳ dị, ngô nghê, cố hủ.
Ánh mắt thầy không vừa
ý khi có đứa đùa kêu thầy bằng ông nội,
cử-chỉ ngừng giảng của thầy biểu
lộ sự thất vọng khi thấy cả lớp có
độ hơn mười đứa thì hầu như
đủ chục “cúi
đầu bái thiên địa” khi thầy giảng
điều hay ho trong Ngọc
tỉnh liên phú, trong Chí linh sơn phú hay ngâm nga xã-tắc lưỡng hồi lao
thạch mã…
Có thể trong những
đứa ngủ gục nhiều nhứt có tôi, có thể
trong những đứa phá thầy nổi tiếng có tôi,
không nhớ rõ; chỉ biêt giờ nầy nhiều khi
buồn tình đọc lại cỗ văn bí lối, tôi
tiếc ngẩn tiếc ngơ… Nhưng làm sao kéo
được thời gian trở về? Vị thầy
cũ, con yến muộn màng của Mùa Xuân Hán học đã không còn
nữa. Mùa Xuân đó cũng đã trôi qua theo dòng liên tục
của thời gian miên viễn, lấp chìm trong sự
tiến hóa tất nhiên của đời, của
đất nước. Và chính học trò mình cũng đã
quên trong bao nhiêu năm tháng chạy theo ảo ảnh phù du
mà gọi bằng thực tế ao cơm.
Cách học trò năm
mươi tuổi, thầy tôi da mặt nhăn nheo theo
sự tàn phá của thời gian, luôn luôn súng sính torng bộ
quần áo rộng thùng thình, đôi giầy da màu nâu to
lớn, đôn đốc từng đứa sổ
phải ngay, ngang phải thẳng, đá phải sắc.
Thầy nhắc chừng đứa nầy viết trái
cựa, đứa kia viết thiếu nét, nhận xét
tập nào viết như gà bới, cua bò, tập nào dơ
như nhai mà nhả. Thầy luôn luôn bận rộn, khuyên
nhủ, canh chừng, khuyến khích, trái hẵn với
những bức tranh thầy đồ dạy học
với ông thầy già ngồi hút thuốc lào, cây roi mây
cật to tướng cạnh bên, anh lớn dạy trò
nhỏ, mạnh ai nấy ê a, học cách nào cũng
được sự đóng góp của thầy có tính cách
xúc tác hơn tác dụng. Nhiều lúc thầy tôi đứng
cạnh một anh học trò giỏi giảng thêm về khí ,về lực, về thần
trong cách viết chữ Nho, chúng tôi cố vãnh tai nghe lén
nhưng, độ hiểu, mức thầm, lòng thích thật vô cùng ít ỏi…
Chúng tôi ai nấy ham vui,
chểnh mảng, cố tìm lý chứng biện minh cho
sự lười biếng của mình, rồi ngày tháng trôi
qua, 214 bộ của chữ Hán như 214 vũ khí quay
quần tấn kích chúng tôi, không một anh nào thuộc
hết, không một anh nào nhớ rõ bộ nào trước
bộ nào sau, không anh nào có thể xác định
được một cách chắn chắn chữ nào
thuộc về bộ nào nếu trước đó chưa
từng gặp. Người xưa học một biết
mười, thơ phú, văn từ mây trôi nước
chảy, chúng tôi học trăm điều chưa chắc
nhớ một, lè què mấy chữ, xọ nọ qua kia, tác
thành tộ, ngộ thành quá, mã thành yên, lộn tùng phèo,
rối nhùi mớ bòng bong. Thầy tôi, thầy Ưng
Thiều, không có trách nhiệm gì hết trong sự dốt
nát đó của học trò. Lỗi chúng tôi, chút nắng quái
chiều hôm Hán học không soi đủ hang tối dốt
nát, u mê trễ lười. Lời giảng thiết tha
như nhỏ máu từ con tim, có thể tác dụng như
“mổ óc nhét vào” của thầy, hiệu quả với ai
chứ không đủ sức rửa được sự
u trệ của những đầu óc non nớt ham vui. Có
thể chúng tôi lúc đó còn thơ dại, những con chim chưa
đủ lông cánh, chưa đứng vững trên đôi
chân mình, trí tuệ nào để hiểu hết lời
thầy nói. Có thể hình thù chữ Hán hiện ra ngay từ
phút đầu đã là con ngáo ộp biến hóa khiến ai
cũng ngán ngẫm bút lông và sợ hãi trước những
nét đá, phết, ngang sổ xa lạ. Trường
hợp tôi là một điển hình. Đậu vào lớp
Đệ Thất từ một lớp Nhứt của
trường danh tiếng ở Sàigòn, ngôi trường mang
tên người đồng thời với Sĩ Tãi
Trương Vĩnh Ký, và cũng nổi tiếng nhờ
viết lách như ông: Thế Tải, Trương Minh Ký,
tôi cũng là một đứa nhỏ ham chơi chưa có
ý thức được sự cần thiết phải
học huống chi sự quan trọng của chữ Hán!
Ghi học Hán văn vì ở nhà lúc đó không biết do ai
mua, lang thang mấy cuốn Minh Tâm Bảo Giám, mấy
cuốn kinh, vài cuốn Tứ thư do học giả
Đoàn Trung Còn dịch, có in chữ Hán kèm theo, buồn tình
tôi đọc tới đọc lui đã thuộc
được một số mặt chữ. Bước
vào thực tế tôi mới thấy biết vài ba chữ
học lóm không đầy lá mít của mình là
đương đầu không biết người
biết ta với
con-ngáo-ộp-biến-hóa-thiên-hìnhvạn-trạng-ba-đầu-sáu-tay-mười-hai-con-mắt
là chữ Hán.
Sau vài tháng còng lưng mõi
cổ, mõi tay, tôi chán chi hồ, giả, dã. Tôi tự
biện hộ rằng biết nghĩa, biết chuyện
xưa tích cũ là đủ, biết mặt chữ Hán
cũng vô ích thôi và bắt đầu dòm qua các bạn cùng
lứa tay cặp cuốn Anglais visant hay Anglais sans peine
thầm nghĩ rán cho tới hè, rồi năm tới
từ giã bút lông, chia tay thứ chữ ngoằn ngoèo xa
lạ đó.
Lúc ấy bên ngoài những
chiếc tàu Mỹ khổng lồ đang tuôn đổ hàng
vạn đồng bào tôi từ xa xăm tới. Tôi lạ
lùng với quần áo và tiếng nói của họ, nhưng
tôi cũng bị choáng váng vì sự vĩ đại của
con tàu nọ bên cạnh những chiếc tàu đi sông
đi cận duyên như con voi đứng bên con kiến,
nghĩ đến sự văn minh, kỹ thuật, tôi
chợt thấy chữ Hán là một cái gì đó lỗi
thời, như người tiền sử đứng
trước cai máy thâu thanh. Phải học tiếng Anh,
tiếng Pháp!
Ngày lại ngày, chiến
cụ, súng ống, xe tăng, xe jeep được chở
đến chạy rầm rầm, rung rinh thành phố, lay
động căn gác nhỏ trong xóm nhỏ nghèo nàn cả
gia đình tôi chui rút, trong khi những giọng Anh ngữ
rất sang, hứa hẹn những chân trời mới
từ các lớp bên cạnh của mấy thầy Sang,
Thọ, Khoa, Thái mỗi khi tôi có dịp đi ngang
đều đánh rộn ràng tim tôi bằng một sự
hấp dẫn khôn cưỡng.
Thèm được học
tiếng Anh nhưng thích nghe chuyện thánh hiền, hai
đối lực vằn vật trong tôi suốt mấy tháng
trường, cuối cùng hình ảnh thầy Thiều
đã thắng, hằng ngày tôi cùng một số ít ỏi
bạn bè chăm chỉ còng lưng với môn Hán văn
trong khi một phần lớn đã đổi sang Anh
ngữ.
Thầy giảng dạy
về sự đa nghĩa của tiếng Hán Việt tùy
theo cách viết, chữ tân tùy lúc là khách, là mới, là bờ
sông, chữ minh tùy lúc là sáng, là tối. Chữ Hán tùy theo
bộ thủ mà thay đổi nghĩa, tiếng Việt
phần lớn mượn từ tiếng Hán, nên nhờ
đó cũng phong phú, đa
nghĩa theo. Tôi làm quen với kho tàng ngôn ngữ Việt
từ đó.
Thầy tôi giọng trọ trẹ,
chúng tôi những đứa nhỏ sanh trưởng ở
Sàigòn, rất lạ tai với cách phát âm bỏ dấu
nặng trên khắp mọi chữ, nhiều khi ngẩn
ngơ nhìn nhau lắc đầu. Mặc dầu trong gia
đình tôi hết phân nửa sanh trưởng ở
Huế, tôi lắm khi cũng lúng túng không hiểu rõ ràng
thầy nói gì. Một vài đứa bạn cùng lớp
lần đầu gặp mô, tê, răng, rứa, cào nhào sao
trường không mướn một ông thầy Việt Nam, thầy Thiều
người Huế nói khó nghe quá. Tôi lờ mờ thấy
rằng thầy mình cũng là người Việt Nam
nhưng vào lúc đó chưa đủ khả năng để
đính chính điều sai lầm trầm trọng nầy.
Sau nầy, một hai năm sau, khi lớn hơn đôi chút
biết về cây một gốc Huế-Sàigòn-Hànội quê
hương ta thì thầy không còn dạy nữa. Thầy
mất hay về hưu tôi không rõ vì còn mãi mê với
những điều khác, chọc thầy Tập Petit
Xồi về chuyện chuyên môn đem quyển Le petit Chose
của Alphonse Daudet ra giảng, kể cho nhau nghe để
cùng cười hì hì về chuyện đã qua mặt
được thầy Khiêm với những tờ
đơn cáo lỗi vắng mặt đứa nầy
viết giùm đứa kia, chuyện hùn tiền mướn
ông xích lô già vô gải đầu gải tai xin phép vì “con
mình” đã bị bịnh nghỉ hết mấy ngày,
hoặc rủ những đứa chịu chơi không
phải một lớp mà ba bốn lớp lân cận
trốn học ngồi lềnh khênh đầy rạp hát
bóng Nam Việt hay lang thang khắp nơi trong Sở Thú.
Tôi, nghe lời bạn bè, xin
đi tiểu, để qua mấy lớp lớn, đi
thật chậm hay thập thò vãnh tai nghe tiếng
được tiếng mất mấy ông Tây bụng
phệ cắc nghĩa bài để rồi ước ao
phải chi mình sanh ra trước vài năm, nói tiếng Tây
hay như mấy ảnh, ra đường không sợ ông
Tây, bà đầm…
Thầy Thiều thể
hiện một sự dung hợp kỳ diệu giữa
Đông Tây. Thời đó rất nhiều giáo sư vào
lớp, ngồi yên vị trên ghế, mắt nghiêm khắc
đão qua đão lại xem học trò có đứng nghiêm hay
không, sau khi thấy cả lớp im phăng phắc
thầy mới ra lịnh ngồi xuống. Chưa hết,
tất cả khoanh tay trên bàn, thầy vừa ý mới cho
mở tập ra. Thầy Thiều không vậy, chờ
học sinh ngồi xuống là thầy viết bài trên
bảng và bắt đầu giảng. Thầy nói đến
sự kính thầy học, nhưng không khúm núm, trọng
thầy nhưng không sợ để xa cách, thân nhưng
không lờn… Với tôi lúc đó như có điều gì
lạ lùng trong mấy khái niệm trên.
(San Antonio, TX 09-82)