CÂU HÒ VÂN TIÊN
Nguyễn Văn Sâm
1.
Chiếc ghe chài bành ky lững lờ trôi theo con
nước lớn. Cả tháng nay, chưa khi nào công
chuyện của những người bạn ghe nhẹ
nhàng như bữa nay. Sông lớn, nước chảy
chậm, tư bề ít ghe xuôi ngược, chuyện chèo
chống chỉ giao cho hai người cầm sào đi
dọc từ trước mũi ra sau lái rồi từ lái
tới trước mũi sửa hướng cho ngay dòng.
Chẳng bù với mấy bữa qua Vàm Nao, phá Đại
Ngãi nước xoáy như thác đổ, bạn ghe
người nào người nấy vật lộn với
sóng, mồ hôi mồ kê như tắm, mệt té ho mà cái ghe
cứ xà ninh xà nang lắc la lắc lư như ông
tướng thầy ba lúc thầy pháp lên đàn.
Khỏi chợ Bến Lức đâu độ
chừng ăn dập bả trầu, tới khoảng
chợ Đệm Bình Điền thì trời chập
tối. Lác đác trên trời mấy vì sao hôm thập thò
nhấp nháy. Trời sập tối tựa như tấm
màn đen được giăng sẵn đâu đó
tuốt luốt trên trời đợi tới giờ
giủ xuống để che phủ trần gian. Trăng
hạ huyền đã mọc từ lâu phết một
bệt sáng óng ánh. Cảnh vật êm đềm trong gió hiu
hiu mát lạnh gợi nhớ người thân thuộc
ở quê nhà. Phải lấy
hết can đảm Lành mới theo má bước lên
chiếc ghe bự xộn này để xin quá giang.
Chuyện quá giang của đàn bà con gái trên ghe thương
hồ chủ ghe đại kỵ.
Đất có Thổ Công, sông có Hà Ba, trên ghe trên
tàu thiếu gì người khuất mày khuất mặt.
Chuyện đàn bà ngày tháng
có thể làm cho người ta xúi quẩy mất nghiệp
như chơi. Nhưng may quá, nhờ tiếng thơm
của tía từ trước, ông bà chủ ghe đã vui
vẻ nhận lời. Bây giờ mình chờ đợi
những gì xảy ra ở xứ văn minh sẽ tới.
Một mình mình. Ghe càng đi xa phong cảnh càng lạ, càng
thấy nao nao nhớ nhà. Nhớ đám mía trước sân
xào xạc tận bờ sông mỗi ngày giặt giũ,
nhớ hàng lu nái im lìm giữa hai gian nhà, nước mưa
chứa lâu ngày ngậm một ngụm cũng đủ mát
rượi cổ họng mấy lúc trưa trời
nắng chang chang. Nhớ má
ưa lúc thúc dưới bếp làm chuyện này chuyện
kia không hở tay. Nhớ những buổi tối má con
hủ hỉ dưới yến sáng lờ mờ của
cái đèn con cóc dầu mù u nho nhỏ. Bây giờ những
thứ thân thiết đó mỗi lúc một biền
biệt, biết bao giờ mới được gặp.
Còn anh Hai nữa, cả tháng nay đi làm xâu vét kinh Ông
Đốc đâu miệt Tân Châu – Hồng Ngự mà chớ
hề nghe nhắn nhe tin tức gì về. Nghe nói mỗi ngày
nhà nước cho lãnh hai vắt cơm, mấy hột
muối cục với lại một miếng khô mực
nhỏ bằng hai ngón tay tréo, trả có xu rưởi không
đủ mua một bánh thuốc rê mà phải hụp
lặn dưới nước giầm mình múc sình xắn
đất. Ở đó muỗi mòng, đỉa vắt. Mình
đi đây kể như anh em cách biệt. Cực
chẳng đã bỏ làng chứ thuở tía chưa bị bắt
thì nhà đâu đến đổi.
Mắt Lành rưng rưng, muốn thút thít khóc như
ở nhà mà sợ bạn ghe chộ nên phải dằn,
phải nén. Nhưng sao như có cái gì trong lòng đẩy ra
làm Lành buồn man mác như lúc nhỏ bị rầy oan. Lành ngó vô góc, chỗ lườn
ghe được phân khoang chứa chén dĩa kiểu. Hàng hàng lớp lớp, chén dĩa
nhận giữa đống trấu đầy ắp. Được vài chục dĩa
Càn Long chia chắc đở khổ. Thứ này dân chợ
họ chuộng lắm. Chánh
cống bên Tàu. Mua về chưng trong tủ kiếng
để thiên hạ trầm trồ cũng mát mày mát
mặt. Bao nhiêu họ lại
không thảy tiền ra bưng về. Lành chép miệng quay
về thực tế. Nhưng mà người giàu nứt
vách đổ tường, kẻ không có đồng xu dính
túi. Họ cho đặt chưn lên ghe là may rồi. Nếu
không biết đâu bây giờ mình còn lụi đụi
đâu đó dưới miệt dưới. Quá giang
từng chặng mệt hơn nhiều. Chắc sáng mai
tới bến. Rồi lại
còn chuyện lạ nước lạ cái, hỏng
biết có gặp người bà con hong. Chỉ biết
họ ở chỗ xóm Đạo Chợ Đủi,
gần trường con gái Chợ Đủi, mà không
biết chắc ở đâu. Để nữa lên đó
cất công kiếm coi. Kiếm hỏng ra là phận gái
bơ vơ quê người xứ lạ đó. Lành tặc
lưỡi như thấy má mình vô lý kỳ cục. Khi khổng khi không cái bắt người
ta đi khơi khơi. Rồi biết chuyện gì sẽ
xảy ra. Ở quê nhà bữa rau bữa cháo nhưng hủ
hỉ có mẹ có con. Lo gì
mấy chuyện lặt vặt ăn uống. Có mắm ăn mắm, có muối
ăn muối. Với lại chim trời cá nước
thiếu gì, lấy lộp, lấy nò đặt một
ăn cả ngày hỏng hết. Rau cỏ mọc lu bù sau
vườn, lềnh khênh thiếu điều muốn
nhổ bỏ. Đói đâu mà sợ? Có lẽ má sợ
tụi đầu trâu mặt ngựa trong xóm trong làng
đang được thế được thần làm
trời làm đất. Rồi Lành sụt sùi ngang, khóc ngon
khóc ngọt. Nhớ tới lời dặn lúc chia tay càng
thấy chuyện má con gặp lại mong manh như cánh
chuốn chuồn. Chắc con biết chuyện
người đàn bà có chồng con bị cọp ăn mà
vẫn không dọn nhà đi nơi khác? Tại vì chỗ đó không có quan lại khắc
nghiệt đó con.
Hương chức hội tề địa
phương ác độc nhũng lạm còn ác hơn
cọp dữ. Bởi vậy
ông bà mình mới nói: Tàn chính
mãnh ư hổ. Con phải đi khỏi chỗ này
để bảo vệ thân ...
Giọng má run run trong nước mắt. Thân gái xa nhà
hiểm nguy nhưng đi được cứ đi. Ai
cũng muốn xa chốn này. Thời cuộc làm mấy
thứ lộn tùng phèo hết. Làng nước bây giờ có
thuộc về mình nữa đâu. Thuộc về tụi
nó. Mà tụi nó móc ngoéo nhau rễ chùm rễ mớ.
Người dân như mình đành chịu cảnh thờn
bơn thôi. Lép một bề.
Sống tới ngày nào hay ngày nấy. Đợi chờ.
Mấy cây rơm trước sân kia nếu biết đi
đã đi mất từ lâu rồi...
Bây giờ mình ra khỏi vòng tay của má, tự
đối phó với đời.
May nhờ rủi chịu. Phải quyết
định lấy, không còn chuyện mỗi chút mỗi “má
ơi.”
Tiếng hai người bạn ghe kéo Lành ra khỏi
giòng suy nghĩ triền miên.
-Tới Ba Cụm rồi đó. Anh biết bối Ba
Cụm mà, lơ mơ nó cuỗm hàng hết bị nạo
tróc da đầu đó. Với lại hai gói áo quần
của tụi mình. Có bề gì
có nước bận xà lỏn ra chợ.
-Biết rồi, đừng làm tài khôn. Tụi nó
thường đi trên ghe cui hay ghe vàm. Để cho thiên
hạ tưởng đâu làm ăn chơn chất. Tụi bán vàm, bán rồi đi
xuồng nhỏ xẹt qua xẹt lợi, coi trời ơi
đất hỡi trái lại thiệt thà... Ở đời thiệt khó.
Đâu ngờ.
-Ừ. Cũng tại bị không ngờ mà hồi
nẵm có chiếc ghe chài chở lúa, tụi bối xông nhang
mê xúc cha nó gần hết ghe.
Tom góp quần áo vàng vòng của bà chủ bộn bàng
...
-Xuỵt. Xuỵt. Kìa cái
ghe cui ở đàng sau đương cặp theo ghe mình cà.
Dám mấy chả lắm chứ hổng chơi đâu. Coi
bộ dạng sanh nghi quá, cứ xôm xôm tới hoài.
Lành lấy ống tay áo dụi nước mắt ngó
về phía sau. Một chiếc ghe cui cũng đi theo dòng.
Ghe bự bề ngang mà cụt đòn, coi quê kệt,
loại ghe chở củi, chở tràm. Trong bóng tối, cái
mui lỡ ngoài sau lái như một bệt đen in trên
nền trời thưa thớt sao khuya. Trên đó thấp
thoáng bóng hai người. Một điếu thuốc lâu lâu
lóe sáng rực quơ lên quơ xuống, một cái
đầu tóc khắc rõ nét trên nền trời mờ
mờ tỏ tỏ xa xa. Trong bóng đêm, một giọng hò
ngọt lịm lan truyền qua không khí tĩnh mịch
đi thẳng vô từng lỗ chân lông người nghe.
Ngọt hơn đường cát, mát hơn
đường phèn. Lành rùng mình, chân tay nổi da gà.
Tiếng hò quí phái như công tử ngày xưa dạo
chợ, dịu nhĩu như con gái giã gạo chày đôi,
chày ba hát hò dưới trăng.
Hò ơ ... Có gió đông hung
mới biết tùng bá cứng
Có
ngọn lửa hồng mới biết thức vàng cao
Thuyền
quyên sánh với anh hào
Đây
không thả lá gieo đào như ai
Hò
ơi ... Trúc kia đã lợp cùng mai
Như
chàng họ Lục sánh vai với chị Hai họ Kiều
Xin
nàng giữ dạ đừng xiêu
Nếu
một mai (hò ơ ...) thuyền anh ra biển Bắc,
ruột đau như thắc, nước mắt dầm
dề, xa cách hương quê, giáp vàng Lục Tỉnh, anh
cũng liều (mà ... hò ... ơ) trở về thăm e ...
m ...
Lành khớp ngang như lúc nhỏ đứng
trước cây roi mây cật dài sọc của ông thầy
già chi hồ giả dã. Muốn lên tiếng mà miệng
cứ như quíu lại. Mở đầu nói chí mình,
khuyến dụ là chuyện bình thường, cách buông
vần câu thúc ở trên, phóng túng ở dưới, tỏ
rằng đã lăn lóc nhiều trong câu hát điệu
hò. Điệu này mình chỉ
có nước vảnh tai nghe chứ không thể nào
đối đáp được. Hai cái ghe tiếp tục
trôi. Không gian im lặng nặng nề, âm thanh e...m.. e...em...
vẫn còn bao quát đâu đây trong gió đêm lành lạnh,
quấn quít trong làn da chéo áo mọi người.
Lâu lắm mới có tiếng hò đáp của giọng
con gái trong trẻo, quyến rũ, nhưng ngắn gọn
như bất cần lời ong tiếng ve:
Hò ơ ... Gá duyên thì
phải lựa (mà) xem,
Hò
ơ ... Coi thử (hò ơ ...) đó là thằng Bùi Kiệm
hay anh Vân Tiên (hò ơ ...) em mới trao lời ...
Tiếng hò dứt mà Lành vẫn còn bàng hoàng chưa
tỉnh. Giọng người
ta trong vắt như nước nhìn thấy sâu dưới
đáy, cao như nhạn lượn chín từng mây.
Giọng của mình cũng có tiếng ở chòm xóm đó,
nhưng mà so với người thì có nên thân nên hình gì
đâu. Bất quá như
mới biết múa quọt quẹt trước thầy võ
vậy thôi. Đi xa mới
biết trời cao đất rộng. Cao nhơn tất
hữu cao nhơn trị.
Hò ơ ... Lên xe (mà) nhường chỗ bạn
ngồi, nhường nơi (mà) bạn dựa, (hò ơ
...) nhường lời (mà) bạn phân ...
Hò ơ ... Anh đây cũng muốn (mà) kết nghĩa
giao ân
Hò ờ ... Anh không phải là thằng Bùi Kiệm, sao
chín mười phần (mà) bạn lại ngại nghi ...
Lành đã hiểu, họ hò giao tình, buông ong thả lá,
giả đò như họ không đi chung ghe, giả đò
như không quen biết. Cũng vui.
Họ mở thắt bằng ý thơ Vân Tiên,
để coi đi xa tới đâu.
Người con gái bắt quàng thiệt đẹp.
Vừa dẫn sách, vừa nói chí mình.
Hò
ơ ... Thể Loan là
đứa vô nghì
khinh bần phụ khó,
(hò ơ ...)
người
đời (mà) được mấy kẻ ưa ...
Như vậy là quá rõ, còn đánh tiếng mình đã có
nơi. Mọi chuyện
đổi thay đều không hợp với luân
thường đạo lý.
Thường mở đầu cách này khó cho phe nam. Cánh
cửa đã đóng, ván đã đóng thuyền. Nhưng
giọng nam vẫn cất lên vừa tha thiết dụ dỗ,
vừa khinh thường ngạo mạn:
Em ơi, gái kiếm chồng nơi giàu sang nương
dựa, đặng sáng với chiều lên ngựa
xuống xe, đừng lấy thằng ghe chài, sáng ngồi
lườn tối nằm be, để thân con gái má
phấn không kẻ chở che, uổng đời ...
Hai người bạn ghe cười với nhau.
Tụi nó xách mé mình rõ ràng. Có chọc ghẹo ai đâu? Nói gì
thì nói, sao mạt sát ghe chài.
Tức quá. Phải mình biết hò! Họ ngó Lành như
hỏi ý, như cầu hiền. Lành bối rối. Lên tiếng hay không? Mẹ dạy
con gái phải ít ăn ít nói.
Miệng bằng tay, tay bằng miệng đâu
tốt lành gì. Thôi nhắm
mắt bịt tai, ngày mai tới chỗ. Cuộc đời
mới trước mặt đáng lo hơn. Vui gì mà hát
với hò. Quan trọng gì mà tranh hơn thua lời ăn
tiếng nói.
Xa trong đêm vắng, tiếng người con gái
cất lên buộc tội:
Chuyện
nợ duyên ông Tơ bà Nguyệt định bởi Trời
Anh
ơi đừng giở thói bốc rời, ví như
thằng Bùi Kiệm để tiếng đời hậu
lai ...
Rồi bắt qua giọng khác:
Lọng che
dương dầu sườn cũng lọng, ô bịt
vàng dù trọng cũng ô. Trai như anh mù văn dốt võ,
gái như em vẽ phụng thêu rồng, phải chi anh là con
trai của Lục Ông thì em gắng công chờ đợi
chứ lấy chồng làm chi ...
Lành cười. Hay quá. Câu trả lời gián tiếp.
Đáng đời. Ai biểu chọc gái. Bây giờ có
nhiều chuyện không biết đâu mà nói. Lắm kẻ tình tào khang tấm mẳn
bỏ lửng để vui với bọn hương
chủ, hương kiểm, hương tuần dốt
nát. Nhiều người bấm bụng trao duyên cùng
người mình khinh bỉ, hy vọng gỡ rối cho gia
đình. Chuyện đó thiếu gì. Mấy tiếng “Theo
nghĩa quân chống lại Đại Pháp” như
lưỡi gươm kề cổ ai ai cũng sợ. Mấy tiếng “tàn dư
ngụy đảng, tay chưn bộ hạ cựu trào”
như một thứ thuốc nổ làm bay cửa bay nhà.
Bọn hương chức hội tề được
dịp là làm tới có thương ai, có xúc động vì ai
bao giờ. Chúng rảy cùng đường một lũ chó
săn rình mò, nay phao vu đặt rượu lậu,
mốt tố cáo bán sớt lúa trốn thuế. Đẩy
xô đàn ông vào tù ngục để giở thói bóc rời
đàn bà. Chúng ví như thằng Bùi Kiệm để
tiếng đời hậu lai, lềnh khênh trong làng, trong
xóm, khen Đại Pháp anh hùng không ngượng miệng,
hoan hô Pháp Lang Sa vĩ đại không tiếc lời. Chúng
sung sướng được làm chim cú nhưng muốn
đậu cành mai, hãnh diện làm khỉ rừng xanh,
nhưng trong bụng muốn vin cành quế. Quên câu dầu sườn cũng
lọng dầu trọng cũng ô. Phận mình ra đi một
phần cũng vì lẽ đó. Chúng lấp ló ngoài ngõ,
rồi sẽ bước vô nhà. Ở xứ văn minh này
thì khỏi đi, thiếu gì người tài. Lành
cười mắc cỡ với mình. Nếu có gì, mình
sẽ tự nguyện như Nguyệt Nga, ôm bức
tượng đợi chờ dầu da nhăn, má hóp,
dầu chân run, tóc bạc cũng được.
Đời người mấy ai được gặp Vân
Tiên, đâu phải ai ai cũng có thể thủ tiết
như nàng Nguyệt Nga? Duyên may một đời
người chưa dễ gặp ...
Trên sông đêm, tiếng hò vẫn tiếp tục,
đang biến dạng tới một hình thức cao
hơn, gần với bản vọng cổ hoài lang
điệu Bạc Liêu ...
Bớ em ơi, em
đừng thấy ăn bận quần dài áo rộng,
gấm nhiễu, khăn điều, lược
đồi mồi giắt tóc, giầy da bóng chưn mang, em
kiến là người quân tử. Em đừng thấy
ăn bận quần rách áo rưới, vải thô vải
đủi nón nỉ lủng đội đầu, chân
không trần sình dất, em chê là kẻ tiểu nhơn.
Chớ em không quên chuyện Thạch Sanh đóng khố gãy
đờn, bắt con chim đại bàng cứu nàng công
chúa, về sau có ai hơn được chàng...
Bớ em ơi, em đừng học thói Thể Loan, ham
nơi vinh hiển, bỏ đàng (đã) hứa duyên. Em
ơi cũng đừng học thói Điêu Thuyền,
sớm mơi ôm Lữ Bố, chiều về tựa
kề người nó gọi bằng cha, em hãy ở sao
như Kiều Nguyệt Nga, giữ niềm chung thủy
sang qua kết nguyền, về sau gặp lại Vân Tiên...
Lành chập chờn trong giấc ngủ giữa tư
bề sao rơi, bên tai văng vẳng câu hò trộn với
những câu thơ Vân Tiên vẫn thường nghe hồi
thuở nào xa xăm lắm. Trong giấc mơ, Lành sung
sướng mỉm cười với hình ảnh Vân Tiên
đầu đội kim khôi, tay cầm thương
bạc, mình ngồi ngựa ô lẫn lộn với
một tình cảm thẹn thùng bỡ ngỡ của
bước đầu gặp người tình, khoan khoan
ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai
...
Nước sông vẫn chảy lững lờ, chiếc
ghe cui xa dần khoảng cách, trong đêm vắng mơ
hồ đâu đó có tiếng người chùi xuống
nước. Nhẹ nhàng,
thiệt nhẹ nhàng ...
2.
Mấy ngày giáp Tết như một đám tang trong lòng
Lành. Bộ mặt âm u của
ông bà chủ làm áy náy mọi người. Tiếng hò
được trả bằng giá cắt cổ mổ
họng thắt hầu bao. Tiếng hò đu đẩy
mọi người vào cảnh phiêu bồng dọn
đường cho bọn bối. Gói quần áo bay bổng
theo hình ảnh Vân Tiên. Cái ô nữ trang, tiền bạc
của chủ ghe mất hút theo những lời lý hò huê tình
ngọt lịm. Mình khổ
đã đành, vì quá thờ ơ, vì không đoán trước
được chuyện xảy ra. Dân chúng nghèo khổ vì
sưu thuế, phải bóc lột nhau để sống.
Làm gì có chuyện hát hò suông được. Họ bê bối
để sinh tồn, thông minh vặt để khỏi
bị hủy diệt. Mấy năm trước đâu có
cảnh này. Thiên hạ hiếu khách, thích mời mọc
đưa đón chiêu đãi người phương xa.
Nhưng sự mất mát của vợ chồng
người chủ ghe bị hiểu như một sự
xui xẻo do mình mang tới.
Người ta không chịu nhìn thực tế vì
đâu có bối. Người ta cằn nhằn những
người gần gũi. Trông mong tìm gặp bà con
để rời khỏi chỗ này. Nếu hình ảnh cha mình không quá
lớn trong lòng họ thì chắc mình đã cù bơ cù
bất, lang thang đầu đường xó chợ
rồi. Biết chuyện gì
đã xảy ra. Rồi
chuyện cái kiềng vàng nữa.
Tên anh chị ở Cầu Ông Lãnh đã giựt ngay
trên cổ mình mấy ngày trước làm mình thiếu
điều muốn lọi cần cổ. Nếu không
nhờ anh Nam. Phải anh Nam không? Lúc đó mình vừa
mừng vừa sợ, nghe được tiếng
được tiếng mất, không biết trúng tên không –
bắt thằng đó phải trả lại ngay chiều
hôm đó, bây giờ mình không còn đồng xu dính túi.
Người sao vô tình thi ơn bất cầu báo.
Từ đó tới nay cả tuần mà cũng không
lảng vảng đâu đây để mình nói một
tiếng cám ơn. Mình còn ở đây có bao lâu nữa
đâu? Rồi chân trời góc
biển, biết đời đưa đẩy đi
đâu! Lành bỗng nhiên ngượng nghịu ngó xuống
hàng nút bóp của cái áo bà ba mới hồ dương
giấy hiệu Nhảy Đầm hồi hôm qua. Mình phải lòng rồi. Nhớ
nhung, trau chuốt. Nguyệt Nga đã gặp Vân Tiên.
Nhưng mà kết tuồng có chăng như ý? Ngó lên bờ,
mọi người như đã rút hết vô nhà để
sửa soạn cúng ông bà, chờ giờ tốt xuất hành
đón Xuân hái lộc. Từng đống dưa hấu tràn
đường, cao nghều nghệu như núi, mấy
trăm cần xé cam quít, cả dọc ghe chuối, cả
đoàn ghe hàng bông mấy bữa trước, tưởng
chừng không thể nào tiêu thụ hết, bây giờ
chỉ còn trơ trọi mấy đống rác rến ngút
ngàn. Bữa tiệc thịnh
soạn cho bầy ruồi xanh vu vu khó chịu. Như bãi
chiến trường sau cơn giặc và chiến sĩ
không may của cả hai phe... Lành nao nao với sự so sánh
bi quan vừa hiện ra trong trí. Có lẽ mình chịu
ảnh hưởng của cuộc hành trình vừa qua. Có
sóng gió, có trộm cắp, có hình ảnh Nguyệt Nga tự
trầm. Không nên. Có gì đâu? Còn cái kiềng vàng.
Người còn thì của cũng còn. Mấy bộ
đồ vạt của bà chủ cũng tạm
đỡ mấy ngày Xuân. Tìm được nhà bà con
rồi thì mọi chuyện sẽ đương nhiên
giải quyết. Bữa nay mồng một Tết mình cú
xụ nữa thì sanh giặc.
Lành sửa soạn cái cười thiệt tươi
chào hai vợ chồng khi họ từ tấm bửng
sửa soạn bước lên ghe sau khi đi xin xăm
về. Người đàn bà
tươi cười nói với Lành, chỉ về phía
chỗ đoàn múa lân đang tụ tập, chỗ có
tấm bia ông cọp trước đình Cầu Muối.
- Lành, em lên bộ coi lân Sài Gòn kìa. Vui lắm, mấy
thuở lên đây gặp dịp Tết...
Rồi như đoán trước được lòng
Lành, bà ta nói thêm:
- Ối, hơi sức đâu mà buồn. Chuyện
năm cũ hao tài khỏi tán mạng, nó lấy gói quần
áo của em, như gánh cái xui xẻo của em. Sang năm mới sẽ khá
hơn. Coi lân đi. Để ghe cộ đó dì coi cho. Ngày
tư ngày Tết mà. Nếu có thì giờ ghé chùa Bà xin lá
xăm đầu năm. Bà linh lắm. Đi dọc theo mé
sông tới đầu chỗ đường Bồ
Rệt thì thấy liền ...
Để vui lòng người, Lành dạ dạ rồi
bước lên tấm bửng lên bờ, nhập vào đám
đông đang bắt đầu lũ lượt. Từ
xa nhạc trống lân dồn dập, tiếng trống tùng
tùng, tùng cắc có sức hấp dẫn kỳ diệu. Lành
nhập vào đoàn người thưởng ngoạn
hồi nào hổng hay. Giữa vòng khán giả, đoàn
người múa lân ăn bận quần áo võ sĩ gọn
ghẽ tề chỉnh giống như tấm hình vẽ
trên tờ giấy bản mục nát, mối ăn lỗ
chỗ được cuộn tròn nhét phía sau trang thờ mà
Lành thường được coi trong mấy ngày giỗ
lớn của gia đình. Lành
nao nức và tự thấy mình lạ lùng. Họ múa lân,
họ đánh võ, họ biểu diễn thương,
đao; chuyện này thường quá, có gì đâu? Mọi năm đoàn lân Phụng
Hiệp bắt đầu múa riết từ xế
chiều ba mươi tới hết ngày mùng năm, coi
đà mãn nhãn rồi. Nhưng lân Lục Tỉnh quê mùa
rẫy bái thế nào cũng thua lân chợ, chánh cống Sài
Gòn. Quần áo bình thường bà ba vải ú đen, chưn
quen đạp sình đất, nức nẻ, múa hay thì có hay
đó nhưng mà thấy nó kỳ kỳ. Quần áo của
đoàn lân này xao xuyến lòng Lành. Ống quần cột túm
bằng dây cao su ràng rịt lên tới ống quyển. Áo chẽn, thắt đằng
chỗ bụng, có vẽ cái đầu lân đỏ chói phía
sau lưng. Nón lá nhỏ vành, sơn đỏ, trên chóp có
đính một cái ngù nhọn lễu. Giống hệt
như chú lính thú ngày xưa trên Cao Man, Cần Giọt,
chỉ có điều họ không có đầu tóc. Họ
cũng không để râu. Nhưng bao nhiêu đó cũng
đủ để kỷ niệm hồi còn nhỏ
hiện về. Cặp mắt thành kính, mấy ngón tay run run
trân trọng của tía trước mấy cây bạch
lạp lung linh, khi vuốt tấm hình:
-Ông con đó. Người lãnh chức Cai Đội
trong đoàn nghĩa quân của Trương Công, chịu
trách nhiệm từ bờ sông bên này Cần Giuộc
tới cửa Gò Công, ra mút tới mấy Hòn Đất, Hòn
Cu ngoài biển. Sau này, Trương Công bị phản, quy
thần, nghĩa quân tan nát. Người dắt dìu tía
về đây, giờ thì mọi sự đổi thay,
cơ trời chuyển dịch, lòng người ly tán. Tía
chỉ mong giữ gìn tiết tháo, hốt thuốc giúp
đời, đợi ngày theo ông bà. Chuyện đội
đá vá trời để người tài đức ...
Cặp mắt tía long lanh, mơ màng. Chút hãnh diện
về dòng dõi lâu lâu mới được nhắc tới
pha với sự an phận thủ thường của
một cuộc sống tránh né lâu ngày chầy tháng thấp
thoáng trong ánh mắt nhìn mông lung đó. Hai tía con ngồi ngó
ra cửa hèn lâu, mọi người theo dòng suy gẫm
của riêng mình...
Trời càng xế trưa, càng nhiều người túa
ra từ mấy căn nhà xa xa trong xóm, theo tiếng
trống thúc giục. Con lân có hàm râu bạc dài ngót gang tay
đang quay bên này, nghinh bên kia chờn vờn như hí
cầu, múa sừng như tranh châu trước căn nhà có
treo tiền. Cặp mắt lồi nhúc nhích, trợn dọc
trợn ngang. Cái miệng lớn tổ chảng hoác ra
quặp lại như sẵn sàng nuốt trọng ai dó trong
đám người bu quanh. Cái sừng chiết đen thui,
cong queo, mỗi lần chồm tới như muốn
rạch bụng người coi. Ghê thiệt. Nghề này
mình đâu có phải tay mơ. Múa đầu lân bằng hai
tay đã đành mà múa luôn hai cẳng với những cái
đá, cái co chưn, cái thủ bộ lẹ làng gọn
ghẽ, dòm sơ qua cũng biết tay nghề. Mười mấy phong pháo nối
với nhau rũ từ mái nhà xuống gần sát
đất, được châm ngòi. Tiếng nổ lốp
bốp đùng đùng làm tai ai tai nấy đều kêu vo
vo. Con lân, lạy thụt lùi ba lạy trước ngạch
cửa. Nó ngước lên ngó cái cờ đỏ thêu
mấy chữ vàng “Cầu Ông Lãnh Hoa Việt Thanh Niên Lân
Hội” lòng thòng mấy cây cải “xà lách” và một dọc giấy “ngẩu” mới tinh được treo chót vót trên
nóc nhà rồi múa loạn xạ như giận dữ.
Những tiếng chắc lưỡi hít hà nổi lên
đây đó. Đã thiệt. Nặng bộn chớ bộ
chơi đa. Múa coi nhẹ hổng, như Hạng Võ
cử đỉnh. Cả giờ rồi coi bộ có
thấm thía gì đâu.
Một nhúm năm người lo dựng lên một cây
tre tầm vong già, bự bằng bắp tay, cao nghều
nghệu. Họ lấy thế kềm cứng vây tre. Con lân
múa một vòng, ngó lên, ngó xuống như ước
lượng trước khi leo. Trò này Lành đã
được coi một lần ở chợ Cần
Thơ lúc nhỏ. Người múa lân máng cái đầu lân vô
một cánh tay, leo lên cây tre thẳng tắp, trơn lu.
Tuốt trên chót vót có xỏ ngang một thanh tre nhỏ, anh
ta sẽ nhào lộn trên đó, trong tiếng trống. Chòm
râu trắng phất phơ theo chiều gió, oai phong lẫm
liệt như lão tướng xung trận. Thình lình
tiếng trống gò lại nhỏ hơn, rời rạc
hơn, con lân bỗng nhẩy phóc đứng trên một cái
ghế đẩu múa may một đổi rồi
đưa ra một chưn thẳng tắp. Từ trong
đám võ sĩ đứng đàng sau, một con lân râu
muối tiêu nhỏ thó, mặt mày cũng vằn vện
vậy, nhưng có vẻ nhu mì hơn, chầm chậm
bước ra. Cách đi đứng múa may, chờn vờn
cũng nhẹ nhàng phong nhã, phiêu hốt. Nó lạy con lân râu
bạc ba lạy rồi chun qua dưới chưn chầm
chậm, khép nép như sợ sệt. Lành ngạc nhiên. Thói
thường chỉ có lân lạ mới lạy chạy
mặt nhau thôi. Còn đây hai con lân cùng đoàn mà. Họ làm
ăn cái gì kỳ cục vậy?
Có tiếng oang oang của một người muốn
cho thiên hạ biết mình ta đây thông thạo:
-Lân Cầu Muối lạy tôn lân Cầu Ông Lãnh làm
đại ca đó. Nó chịu
nhục lòn trôn giữa chợ. Như Hàn Tín lúc thất
thời. Tám năm rồi, năm nào nó cũng phải làm
cái mửng này. Có năm còn bị phun nước miếng
lên sừng. Có năm bị giựt râu ...
Người khác kể rành rọt lớp lang ý chừng
là dân cố cựu, nhao rún ở đây:
-Từ hồi có trận chém lộn ở xóm họ
đạo Chợ Đủi gần chỗ mả của
Á Thánh Gẫm vì chuyện giành múa cho nhà thông gia của Bá
hộ Xường, Sáu Tiết, anh chị của lân
Cầu Muối, bị chém chết, đoàn lân rã đám.
Nhưng Út Hồng, anh chị bự của lân Cầu Ông Lãnh,
cứ cho làm chuyện kỳ cục này hoài. Mỗi lần coi là mỗi
lần tức muốn bể bụng, nhứt là nhà mình
ở xóm Cầu Muối. Tuy hổng ăn nhập gì
tới mình, nhưng mà khó chịu ...
-Anh biết tại sao không? Út Hồng thấy một
vùng nhỏ híu bằng bụm tay mà có hai anh hùng. Như
nước có hai vua vậy mà...
Làm sao anh ta chịu được nên bắt tay
với đám “mã thầu
dậu” ở Chợ Lớn, đám Tây u xếp tụi
bồi bếp ở Bồn Kèn lừa dịp chém lén Sáu
Tiết trong khi hai đàng đã hứa với nhau là bất
tương xâm, chỗ ai náy ở, đường ai nấy
đi...
Ngừng một lúc như để lấy hơi, ông
ta nói thêm, có dây có nhợ:
-Tội nghiệp đám em út, lớp bị mua
chuộc, lớp giải nghệ, tứ tán hết. Đã
vậy mà Út Hồng còn chưa bằng bụng nên diễn
tích nầy để làm nhục mấy tay anh chị còn sót
lại của lân Cầu Muối chơi. Thêm nữa,
để dằn mặt mấy người muốn làm
sống lại đoàn lân cũ.
Bây giờ họ một mình một chợ, muốn
làm mưa làm gió gì hổng được? Ai vô đó mà
cản họ? Nhưng mà... làm vừa vừa chứ. Làm quá ai mà nhịn...
Lành nghe hết câu chuyện. Cô lắc đầu.
Thiệt hết chỗ nói.
Chết rồi mà cũng không yên. Người ta
giải tán rồi còn kéo ra làm xấu làm hổ. Vậy
cũng mang tiếng anh chị một khúc sông, một
bến chợ. Người theo mình trùng trùng điệp
điệp đâu cũng ngót nghét cả trăm có ai tranh
cãi gì đâu? Làm chi chuyện thù vơ oán chạ. Nhẹ
thể mà thêm mất lòng mất bề.
Tiếng trống vẫn tiếp tục nhẹ nhàng,
lơi nhịp. Con lân râu muối tiêu vẫn kiên nhẫn lòn
tới lòn lui dưới chưn con lân râu bạc vênh vang.
Những giọng cười thinh thích hăng hắc chen
giữa những cái nhăn mặt xốn xang trong đoàn
võ sĩ. Một vài tên anh chị đâu đây xì xào mấy
tiếng chửi thề bất bằng “đ. họ” và những cái háy nguýt nháng lửa.
Không khí căng thẳng như bữa dàn trận chém
lộn hồi năm ngoái ở Lăng Tô giữa đám anh
chị bên Khánh Hội với mấy tay tổ xóm Cầu
Kiệu mà Tây Tà phải trầy vi tróc vẩy mới
giải tán được...
Nghe chuyện, mình là đàn bà con gái mà cũng giận tím
gan, cũng bức rức khó chịu. Như bến mình
đậu ghe thiếu mặt anh hùng. Như đã lầm
trao thân gởi phận nhằm anh chồng bị thịt,
giá áo túi cơm...
Nhưng Lành không phải bực bội gì lâu. Chuyện
tức nước bể bờ trước sau phải
có... Con chó dồn nó vô chưn tường nó còn quay lại
cắn, huống chi người.
Một tiếng hét muốn bể lỗ nhĩ từ
trong đám võ sĩ rồi một người hai tay
cầm hai thanh mã tấu bự bản, đưa thẳng
lên trời nói trong nước mắt:
-Đại ca ơi... Em chết bữa nay. Em chịu
hết nổi rồi. Tụi nó làm ô nhục mình quá. Em
chết thiệt đẹp, thiệt ngọt để
rửa nhục cho anh em mình nè đại ca...
Anh ta hươi đôi mã tấu sáng loáng a thần phù vô
chém con lân Cầu Ông Lãnh. Anh
chàng múa lân hết hồn lật đật đưa
đầu lân ra đỡ. Hai thanh mã tấu phụp
xuống ngọt như thể lướt qua thân cây
chuối non. Cái đầu lân bị xả làm ba miếng
lủng lẳng trên nan tre. Một tiếng ra lệnh
bằng giọng Việt Nam trại trại nhưng
sắc như dao thét lên từ đám người bận
đồ xá xẩu đứng lu bu chỗ ông địa
làm trò.
-Chém nó. Chém chết nó đi, thằng phá đám, thằng
phản thùng ...
Đoàn người đi chợ Tết coi lân kinh hoàng
chạy túa như ong bể ổ. Tiếng hét, tiếng la,
tiếng dao chặt vô thịt, tiếng người ngã,
cả thảy hợp thành một âm thanh khiếp
đảm, chết chóc như trận giặc chòm. Lành
bụm mặt chạy thục mạng để khỏi
phải thấy loạn đao trên thân thể một
người. Trong cơn hoảng hốt bất chợt
Lành mơ hồ thấy người anh chị yên hùng
đó có gương mặt phảng phất anh Nam...
3.
Ngày Tết qua lâu như cả chục năm dài. Câu
chuyện thằng Nam Cầu Muối chém lân Cầu Ông Lãnh
để chịu chết chuyền từ miệng
người này sang người khác. Nhiều người
thán phục, lắm kẻ chê bai, ai cũng có lý riêng: Anh
hùng, xuẩn động.
Nhưng ai cũng là người đứng ngoài. Bàng
quan mạnh miệng. Riêng Lành
đau thấu tim gan. Người chết xuất hiện
trong đời một lần thôi, nhưng như từng
nối kết thân thuộc từ muôn trùng thời gian
của thời Bàn Cổ. Việc ghi ơn giờ đây
trở thành nhỏ nhoi so với hành động yên hùng. Câu
nói, chết để rửa nhục cho anh em nhảy múa
trong đầu Lành khi ăn khi ngủ. Vang dội trong trí
lúc đi chợ, nấu cơm. Nó kéo hồn Lành ra khỏi
thân xác, nhập vô cảnh giới nào đó mù xa trên chín
từng trời. Nó giở hổng Lành lên khỏi mặt
đất, lửng lơ, tách khỏi thế giới
trần tục bợn nhơ. Lành trở thành xa vắng
trong khi có mặt, ngủ say trong khi đi đứng bình
thường.
Nhiều lần bà chủ ghe liếc Lành chắc
lưỡi nói với chồng:
-Tội nghiệp. Con nhỏ sao mà như mất
hồn. Nó lơ ngơ láo ngáo cả ngày. Điệu này làm
sao nó kiếm cho được nhà bà con. Hổng biết rồi mình
giải quyết làm sao. Bỏ thì thương,
vương thì tội...
Lành bắt gặp tiếng thở dài chấm câu sau câu
nói. Tiếng thở dài
thương hại đặc biệt đàn bà. Nàng
nghĩ mau về Nam. Về Vân
Tiên. Về Nguyệt Nga. Về trường hợp mình. Sao
lại tự nối kết đời mình với một
người chưa chắc đã biết tên mình, chưa
tỏ một chút gì tình ý, hơn nữa đã chết rồi.
Chắc mình bị oan hồn xui ghẹo. Hồn
người chết đâm chết chém vất vưởng
không siêu độ được phải tìm chỗ nào
đó tạm trú. Làm cô hồn. Làm một thứ ma
đưa lối quỷ đưa đường.
Phải đi ra Một Hình van vái mới được.
Mình thề sẽ thương yêu kính mến anh ấy
trọn đời và cầu vong hồn anh được
siêu độ. Vừa thề vừa vái. Một công hai ba
việc.
Bộ đồ bà ba cổ bà lai bà chủ cho hôm
Tết được lấy ra mặc. Cái áo hơi rộng, nhưng coi
bộ còn tốt, cái quần vừa vặn. Lành vắt
ngang cái khăn rằn quanh cổ, buông lòng thòng hai
đầu xuống, đong đưa trước
ngực, xăm xoi ngó vô kiếng, mỉm cười
với mình, rồi đon đả lên bờ. Trời xê xế, đèn
đường bắt đầu được thắp.
Trên đường Lò Heo, mấy con heo bị dồn trên xe
cá chở vô lò kêu en ét buồn thảm đến nhức
đầu. Phía gần Đường Giữa chỗ
hẽm nhỏ nối với đường Boresse, xóm
Lồng Đèn Kỹ Nữ, đã bắt đầu
thắp sáng đỏ xanh. Lành bước mau, đỏ
mắt vì mấy cái nhìn sàm sỡ của khách tìm hoa. Mấy
cái xe kiếng lợp bợp móng ngựa trên đường
chen với tiếng ken két ê răng của niền bánh
nghiến trên mặt đường đá. Từ xa, xe
lửa điện Sài Gòn – Chợ Lớn xẹt lửa
trên nóc, in một đóm lửa tua tủa ra như pháo bông
trong đêm càng lúc càng rõ, tới gần, qua mặt Lành
rối ngưng ở nhà ga Cuniac. Lành vui vui với xứ
văn minh về đêm. Đèn đuốc sáng trưng,
người ta đi lại dập dìu. Chẳng bù với
xứ khỉ ho cò gáy quê mình, mới sụp mặt trời
ai ở nhà nấy, buồn thỉu, buồn thiu …
Từ Một Hình, Lành thả dài theo bờ sông, về
lại ghe, kiểng nhà thờ Nhà Nước rềnh rang
đổ tám giờ. Nam thanh nữ tú dập dìu chỗ
vườn bông Đô Đốc.
Mấy thầy thông thầy ký mang giầy “ăn phón” da bóng ướt
sức giở lên làm kiếng soi mặt nhổ râu được,
áo bành tô vải ka ki bốn túi, đầu chảy bảy
ba, cặp tay mấy cô tân thời, đầu tóc lòng thòng
khỏi vai, có cái đuôi bánh lái, coi thiên hạ bằng
nửa con mắt. Thấy
xốn mắt.
Đánh đôi đánh đo
cũng có khi có thì, có nơi có chốn, sao lại đem ra
chỗ thập mục sở thị. Mấy ông
mấy ngài còn theo nếp xưa, áo dài nhiễu đại
đóa dài tới gối, quần the rộng ống, chân
mang giày Canavaggio, đội nón cối trắng, râu ngạnh
trê vuốt sáp nhọn lễu, đề huề dạo
với vợ con, nói năng nhỏ nhẹ, cử chỉ
từ tốn. Mấy thầy
chú ngó Lành lườm lườm như ngạc nhiên,
như muốn nuốt sống.
Con gái sao một mình lang thang chỗ này. Lăng Tô là chỗ của
những cặp tình nhân, những người có gia đình. Lành thẹn thùng ngó xuống
đất, rảo bước thẳng. Xứ gì kỳ
cục, đàn ông, đàn bà cặp kè. Cột cờ Thủ
Ngữ cao nghệu, Tây Tà rượu chè ồn ào thấy
sợ. Phía cầu Quây, khúc giữa giòng sông đương
được quay xuôi theo dòng nước nhường
chỗ cho tàu đò chạy qua. Mấy người đi
chơi đứng hai bên cái cầu thiếu đó
cười cười nói nói, chỉ chỏ vui vẻ.
Chuyện lạ lùng. Chừng nào về quê phải kể
cho má nghe mới được. Cầu Quây đương
là cầu biến thành sông. Từ bến Khánh Hội,
mấy tay anh chị bến tàu thả xe đạp Alcyon
trắng nỏn qua dốc cầu Móng dài dằng
dặc. Coi vui vui.
Tiếng người nào đó bên tai Lành nhột
nhột khi Lành qua chỗ nhà băng xây bằng đá cao
nghều nghệu. Xin lỗi cô Hai... dám nào cô dừng chân cho
hỏi... Mắc cỡ
đỏ mặt. Lành ngúng
nguẩy bỏ đi. Chuyện chưa có gì hết nhưng
mà thấy có tang lòng. Mấy lời van vái trước ông
Một Hình làm mình nhẹ nhỏm hơn. Bây giờ trên tinh
thần mình thuộc về hương hồn anh
ấy. Phải xứng
đáng với người chết anh hùng. Chết rửa
nhục. Chết để khỏi cúi gầm mặt cho
chúng bôi tro trét trấu. Thiệt thòi phận gái một chút
cũng không sao. Thiên hạ có ai xứng đáng hơn
đâu. Cuộc đời lạ lùng. Câu hò trên sông của
tụi bối Ba Cụm ứng như lời thầy bói
linh. Rồi đây cuộc đời mình tuy buồn
thiệt nhưng đẹp, thơm như hoa dạ lý
tỏa hương, như tiểu thơ họ Kiều kia
thề không để tiếng chê cười, như
người bội bạc:
Dầu ai buông tiếng ngọc
dầu
ai đọc lời vàng
bông
sen hết nhụy bông sen tàn
em
đây giữ tiết như nàng Nguyệt Nga
....
chẳng thà em chịu đói, chịu rách theo cách bà
Mạnh, bà Khương…...
chớ
không như Võ Hậu đời Đường làm cho
bại hoại cang thường nhơ danh,
chẳng
thà nghèo khó ở túp lều tranh
chớ
không đành bội nghĩa như cha con Võ Công tham tài ...
Anh Nam đã thắp một ngọn đèn cho bạn
hữu để họ thấy cái nhục. Rồi sẽ
có những ngọn đèn khác. Rồi sẽ có người
nhờ yến sáng đó mà mở mắt ra. Rồi
những người trai trẻ đang rèn tập võ
nghệ mỗi chiều ở đường Lò Heo sẽ
thấy lại được cái nghĩa sống. Mình có
đớn đau trong dạ cũng có nhằm nhò gì đâu
đối với cái chết của người anh hùng.
Lành nói với mình chắc như đinh đóng cột:
“Mình sẽ thủ tiết. Phải thủ tiết. Có gió đông hung mới biết
tùng bá cứng, có ngọn lửa hồng mới biết
thức vàng cao. Mình sẽ ở vậy. Hay ít ra chờ
đến khi gặp được một anh Nam khác.”
Nụ cười sung sướng nở trên môi Lành. Bên kia
sông mấy ngọn đèn lù mù trước mặt Sở
Nhà Rồng bỗng nhiên sáng rực như nhà đèn Chợ
Quán vừa đổ thêm than vô lò. Lành bước mau về
phía Cầu Chong. Gần tới chỗ ghe đậu
rồi. Phải thắp cho anh ấy mấy cọng nhang. Gió sông Quai de Belgique thổi lên phơi
phới, mát rượi. Chỗ ga Cuniac, ban nhạc kèn
đồng vẫn say sưa biểu diễn, âm thanh
xập xình vang dội xuống mé sông làm bập bềnh
mấy chiếc ghe thương hồ đương
triền miên trong giấc ngủ. Lành mĩm cười,
bước mau, trong trí vang dội mấy câu thơ Vân Tiên
vừa chợt hiện:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình ...
(Trích tập truyện Câu Hò Vân Tiên, Gió Việt, TX, 1984)