Những đạo giáo
(sectes religieuses) ở Nam Bộ
Phan Lạc Tuyên
Đạo giáo Bửu Sơn
Kỳ Hương cũng như một số đạo
giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo,
tuy nó có phần nào dùng một số giáo lư Phật giáo.
Thực sự đây là một đạo giáo cứu
thế (religion messianiste) đă dược khai sinh không
những ở Nam Bộ mà cả ở vùng Đông Nam Á như
Philippines, Indonesia. Có nhiều đạo giáo tương
tự h́nh thành trong những điều kiện nhất
định của thời điểm chính trị và không
gian xă-hội : khi chủ nghĩa thực dân đế
quốc xâm lược vùng Đông Nam Á vào thế kỷ 16
trở đi, dù bọn vua quan phong kiến có đầu
hàng hoặc thỏa hiệp với bọn thực dân xâm
lược th́ tầng lớp sĩ phu và nông dân yêu
nước vẫn chống lại bằng mọi h́nh
thức.
Không thể chống lại
công khai bằng bạo lực quân sự, nho sĩ và nông dân
với khuynh hướng quốc gia cực đoan, bài
ngoại và mê tín đă sử dụng đạo giáo và
thần quyền để tập hợp và tổ chức
một cách bán hợp pháp hoặc hợp pháp bí mật,
hoặc công khai những lực lượng chống xâm
lược ngoại bang và sự bóc lột của bọn
phong kiến chủ đất, lúc ấy đă đầu
hàng hoặc thỏa hiệp với thực dân ngoại
bang.
Như vậy bản thể
của những đạo giáo trong lúc đó là nông dân, nho
sĩ yêu nước, chống phong kiến và chịu
ảnh hưởng của những trào lưu đạo
giáo cứu thế vốn sẵn có của xă hội Đông
phương. - Nam Bộ, những đạo giáo như :
Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,
Ḥa Hảo v.v... cũng đều mang những thuộc tính
như vậy.
1) Đạo Bửu
Sơn Kỳ Hương: 1849
Hoàn cảnh lịch sử khi ra
đời của đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương vào giữa thế kỹ XIX (1849) là trong hoàn
cảnh đất nước và xă hội cực kỳ
rối ren từ Bắc vào Nam. Trong khi đó xă hội suy
thoái, vua quan ngu dốt, bất tài, lại thêm nạn tham
nhũng, bóc lột, sưu cao thuế nặng, triều
đ́nh kỳ thị chém giết tôn giáo : cấm
đạo Gia Tô, cấm lập chùa thờ Phật. Nạn
mất mùa, đói kém, kinh tế phá sản, các bệnh
dịch hoành hành đă khiến nhiều cuộc khởi
nghĩa và bạo động nổ ra khắp mọi
nơi. Lợi dụng cơ hội này, thực dân Tây
phương tác động bằng nhiều cách để
gây rối loạn nhằm thực hiện ư đồ xâm
lược. Trong điều kiện lịch sử như
vậy, ḷng dân ly tán, cố chống lại triều
đ́nh và bọn địa chủ mới đang phát
triển.
Ở miền Bắc có các
cuộc khởi nghĩa của nông dân và nho sĩ như :
Phan Bá Vành năm 1826 (Thái B́nh, Nam Định), Lê Duy Lương
năm 1833(Ninh B́nh, Hưng Hóa), Nông Văn Vân năm 1833 (Cao Bằng,
Lạng Sơn, Tuyên Quang). - miền Nam có cuộc khởi
nghĩa của Lê văn Khôi năm 1833. Thực chất
đây là cuộc khởi nghĩa của nho sĩ, nông dân
nghèo và dân tộc thiểu số chống lại nạn áp
bức bóc lột của triều đ́nh, bọn chủ
đất và sự đô hộ của thực dân Pháp.
Người sáng lập ra
đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là ông Đoàn Minh
Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh năm 1807 ở làng
Ṭng Sơn, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp) trong một gia
đ́nh nông dân. Ông học b́nh thường, đọc sách
Phật từ lúc cón nhỏ. Ông lập đạo từ
năm 1849, lúc ông đă ngoài 40 tuổi và nơi truyền
đạo đầu tiên là đ́nh làng Kiển Thạnh,
tỉnh Long Xuyên. Thời điểm ông truyền
đạo là năm nông dân mất mùa đói kém, nhiều
nơi có giặc cướp nổi dậy, bệnh
dịch lan tràn, dân chúng điêu linh. Ông vừa giảng
đạo, vừa chữa bệnh bằng thuốc và
nhiều người đă khỏi bệnh. Họ tin vào
pháp thuật của ông. Do đó dân chúng tôn ông làm Phật
thầy Tây An v́ khi ông chữa bệnh tại Tây An cổ
tự ở Châu Đốc, mọi người gọi ông là
"Phật sống". Ông tự gọi đạo
của ông là Bửu Sơn Kỳ Hương và có bài thơ
truyền tụng :
Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên
Sơn trung sư mạng địa Nam
tiền
Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
Hương xuất tŕnh sanh tạo nghiệp yên.
và cho rằng Bửu Sơn
Kỳ Hương lấy Thất Sơn là nơi xuất
phát sẽ tỏa sáng năm châu bốn biển và lúc đó
ḥa b́nh thịnh vượng lâu dài. Đạo Bửu Sơn
Kỳ Hương lấy tứ đại trọng ân làm
nền tảng. Bốn ân lớn đó là :
- Ân tổ tiên cha mẹ.
- Ân
đất nước.
- Ân
tam bảo.
- Ân
đồng bào, nhân loại.
Bửu Sơn Kỳ
Hương khuyên mọi người học Phật tu
nhơn (tu nhân, tích đức và niệm Phật).
Sau một thời gian
truyền đạo, triều đ́nh nghi ông nổi
loạn nên ông bị Tổng Đốc An Giang bắt giam, sau
đó ông được thả ra, nhưng ông vị bắt
buộc phải tu tại Tây An cổ tự để
triều đ́nh dễ bề kiểm soát những hành
động của ông. Sau bảy năm giảng
đạo, năm 1856 Phật Thầy Tây An viên tịch
tại Tây An cổ tự ở Núi Sam (Châu Đốc) và
phần mộ ông nay c̣n ở đó.
Hai mươi tám năm sau khi
ông mất (1884), triều đ́nh Huế đầu hàng
thực dân Pháp xâm lược, nhưng phong trào kháng Pháp trong
nhân dân lại bùng lên mạnh mẽ ở Nam Bộ. Hầu
hết các tín đồ của Bửu Sơn Kỳ
Hương đều tham gia vào cuộc kháng chiến. Trong
số những tín đồ đă có những người
là lănh tụ của cuộc kháng chiến như
Trương Công Định (1862) tức B́nh Tây Đại nguyên
soái, Nguyễn Trung Trực (1861) - người anh hùng
"Hỏa hồng Nhật Tảo", đốt cháy tàu
chiến Espérance của quân xâm lược Pháp tại sông
Nhật Tảo, Trần văn Thành (1867) khởi nghĩa
tại vùng Láng Linh thuộc tỉnh An Giang. Thực dân Pháp
có bọn tay sai giúp đỡ đă đàn áp tàn bạo. Sau
khi phong trào kháng chiến chống Pháp tạm thời
thất bại, đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương lại được tiếp tục
dưới h́nh thức giảng đạo trong nông dân vùng
An Giang. Trong số những ông đạo có : Đức
Phật Trùm năm 1868 tự nhận là hậu thân của
Phật Thầy Tây An giáng thế, cho sử dụng ḷng phái
màu đỏ có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông
Phật Trùm là người Khmer, đă truyền đạo
sang cả đất Campuchia. Thực dân buộc tội ông
làm loạn và bắt đi đày nhưng sau đó thả
về. Ông mất tại núi Tà Lơn năm 1875.
2)
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa:
Người sáng lập
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là ông Ngô Viện, húy là
lợi nên gọi là Ngô Lợi. Ông sanh năm 1831 tại
Mỏ Cày (Bến Tre), ông tự học lấy, đọc
sách Phật và năm 20 tuổi viết Bà La Ni kinh. Ông
lập đạo năm 36 tuổi (1876), tự xưng là
Đức Bổn sư và khi nhận đệ tử, ông
cũng phát ḷng phái có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương.
Năm 1872, ông đưa các
tín đồ tới xă An Lộc (An Giang) dựng chùa, thành
lập và truyền bá đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
(TÂHN). Sau đó ông đưa một số đệ tử
vào vùng Thất Sơn (Bảy Núi) khai hoang lập trại
ruộng ; và trong 14 năm lập ra bốn thôn : An Định,
An Ḥa, An Thành và An Lập, thôn nào cũng đều cất
chùa giảng kinh.
Đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa thờ trần điều, thờ Phật, Sơn
thần và trăm quan cựu thần liệt sĩ. Về
giáo lư, ông Ngô Lợi tiếp tục hoằng pháp như
Bửu Sơn Kỳ Hương : Tứ đại
trọng ân, học Phật tu nhơn nhưng không ly gia cát
ái, không ăn chay trường và cũng hạn chế sát
sanh. Về cách đối nhân xử thế th́ theo
đạo Nho, đạo Lăo và theo Thiền Tông. Tín
đồ TÂHN mặc áo vạt ḥ, quần lá nem nhuộm
đen, bới tóc hoặc để xơa tự nhiên, đi
chân đất, trước cửa nhà có bàn thờ thiên hai
tầng, thờ thiên La thần và Thổ Trạch Long
thần. Các tín đồ tụng riêng những kinh của
đạo này lập ra như : Phổ Độ Bàn Đào, Linh
Sơn Hội Thượng...
Pháp môn tu hành của
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là :
- Tŕ niệm theo Thiền tông
;
-
Xử sự theo Nho giáo.
-
Luyện tinh, khí, thần theo Lăo giáo.
-
Ấn quyết, thần chú theo Mật tông.
Vào ngày 15 tháng 07 năm Tân
Tỵ (1881), nhân dịp một buổi hành lễ lớn,
thực dân Pháp cho quân vào đàn áp, bắt bớ bắn
giết khiến mọi người phải chạy lánh
nạn sang Campuchia, sau đó ít tháng lại trở về
chỗ cũ. Năm 1885, thực dân Pháp lại đem quân
vào càn quét lần thứ hai, đốt phá chùa chiền,
khiến mọi người phải chạy trốn,
nhưng sau đó ông Ngô Lợi lại dẫn tín đồ
trở về. Năm 1887, thực dân Pháp lại cùng tay sai
là Tổng đốc Trần Bá Lộc kéo quân vào đàn áp
hai lần, bắt nhiều tín đồ đày ra Côn
Đảo và bắt buộc các tín đồ c̣n lại
phải trở về nguyên quán. Năm 1888, ông Ngô Lợi
lại bị bắt nhưng trốn thoát nhờ sự che
chở của nhân dân quanh vùng này. Như vậy trong 12
năm (1876-1888), thực dân Pháp đă đàn áp đạo
TÂHN bảy lần (tín đồ gọi là đạo
nạn), đốt phá chùa chiền, bắt bớ, tra
tấn, tù dày và đốt nhà cửa tín đồ, quyết
triệt hạ đạo một cách vô cùng man rợ.
Đức Bổn sư Ngô
Lợi viên tịch năm 1890 tại núi Tượng. Ít lâu
say đó có sự phân hóa trong đạo TÂHN. V́ không c̣n ai
kế vị nên mọi việc đều giao cho ông Tṛ, ông
Gánh phụ trách. Do vậy, mỗi nơi hành đạo khác
nhau, thậm chí có một số vị làm phù chú chữa
bệnh rơi vào sự mê tín dị đoan làm sai lạc
giáo lư ban đầu của đạo. Cho đến
năm 1902, tại vùng kinh Vĩnh Tế xuất hiện
một nhà sư vóc dáng gầy ốm, ăn mặc kiểu
đàn bà, chèo thuyền vừa đi bán khoai vừa
giảng đạo "Sấm giảng người
đời" được một thời gian th́
mất dạng. Dân trong vùng gọi là Sư Văi bán khoai. Tín
đồ TÂHN cho đó là hậu thân cúa Phật Thầy Tân
An tái xuất hiện để giảng đạo cứu
đời.
3) Đạo Ḥa Hảo:
Người lập ra đạo Ḥa
Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ, sinh năm 1918 tại làng
Ḥa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh An Giang (có sách nói sanh
năm 1919). Theo tín đồ đạo Ḥa Hảo th́
họ tin ông là hậu thân của Phật Thầy Tây An
đă nhiều lần chuyển kiếp qua đức
Bổn sư Ngô Lợi (1831) (TÂHN), đức Phật Trùm
1868 và Sư Văi Bán Khoai (1902). Ông lập đạo Ḥa
Hảo năm 1939 và cũng vừa đi chữa bệnh
vừa đi giảng đạo. Ông bị Pháp bắt
năm 1940, cho vào nhà thương điên Chợ Quán, sau
họ đưa ông về giam Bạc Liêu. Khi Nhật
hất Pháp (1945), quân đội Nhật cứu ông Huỳnh
Phú Sổ mang về Sài G̣n và trả tự do cho ông năm
1944, từ đó ông tiếp tục đi khuyến nông và
giảng đạo trong khu vực Hậu Giang... Năm
1945, ông Huỳnh Phú Sổ có tham gia UBKCNB (Ủy Ban Kháng
Chiến Nam Bộ) và sau đó mất tích trong một
trường hợp khó hiểu vào tháng Tư 1947 tại
Đốc Vàng (Đồng Tháp Mười) mà tín đồ Ḥa
Hảo ngày nay cho rằng ông tạm vắng mặt (?).
Ông Huỳnh Phú Sổ
được tín đồ tôn là Huỳnh Giáo chủ,
vẫn lấy giáo lư Tứ Ân làm căn bản nhưng
chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, bỏ lệ
cúng kiến, gơ mơ tụng kinh và không vẽ h́nh đúc
tượng. Ông soạn ra một số kinh sách như :
Sấm giảng người đời, Thi văn giáo lư...
Tại mỗi thôn ấp đều có Độc giảng
đường để giảng giáo lư Ḥa Hảo.
Cuối năm 1944, ông
Huỳnh Phú Sổ lập ra Việt Nam Nghĩa sĩ
đảng (đảng Dân xă), Mặt trận Quốc gia
thống nhất và Mặt trận Quốc gia liên hiệp
nhằm mục đích cũng cố địa vị
của hoạt động này trong hoạt động chính
trị.
Sau khi ông Huỳnh Phú Sổ
biệt tích, một số đệ tử như Năm
Lửa (Trần văn Soái), Phàn Lê Huê (Nguyễn thị
Gấm - vợ Năm Lửa), Hai Ngoán (Lâm Thành Nguyên), Ba Gà
Mổ (Nguyễn Giác Ngộ), Chín FM, Trương Kim Cà
đua nhau tập hợp tín đồ, thành lập lực
lượng vũ trang riêng, cát cứ từng vùng
để "mưu đồ bá vương", bóc
lột lớp tín đồ nông dân sùng đạo, và có khi
họ đánh lẫn nhau. Số chức sắc này hợp
tác với Pháp và sau đó lại về đầu hàng
Diệm - Nhu (Nguyễn Giác Ngộ được phong
thiếu tướng, Ba Cụt trung tá). Nhưng sau ít lâu
họ lần lượt bị Diệm - Nhu sát hại
hoặc thanh toán bằng cách này hay cách khác. Trong chế
độ thực dân cũng như tay sai của đế
quốc, một số người đầu cơ chính
trị đă lợi dụng đạo Ḥa Hảo
để truyền bá mê tín, lừa dối nông dân vùng
đồng bằng sông Cửu Long, đưa họ vào
những hành động sai trái đối với Tổ
quốc như Hai Lực chỉ huy nóm Dân vệ Ḥa Hảo,
nhóm Hai Bành... Thế lực đế quốc ngoại bang
cũng đă âm mưu lâu dài gây ảnh hưởng văn
hóa - kinh tế trong vùng nhân dân Ḥa Hảo bằng nhiều
biện pháp kinh tế và văn hóa, đặc biệt là
đă thành lập Viện đại học Ḥa Hảo và
cho nhiều sinh viên, trí thức Ḥa Hảo đi du học
ở Mỹ, Pháp, Nhật...để gây cơ sở và uy
tín trong giới trí thức.
Từ 1954 tới ngày giải
phóng miền Nam, một số đông anh em binh sĩ trong
các trung đoàn của Ba Cụt cũ (trung đoàn
Nguyễn Huệ, Lê Quang) ở vùng Đồng Tháp Mười
đă cùng với những cán bộ kháng chiến cũ thành
lập lực lượng vũ trang chống Diệm - Nhu
từ 1957 và những đơn vị này đă tham gia tích
cực vào cuộc đồng khởi ở Đồng Tháp
năm 1960.
4 ) Đạo Cao Đài:
Nếu những đạo giáo khác
như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu
Nghĩa, Ḥa Hảo phát triển trên cơ sở nông dân vùng
đồng bằng sông Cửu Long th́ đạo Cao Đài
lại mang bản thể hoàn toàn khác hẳn. Đạo này
được lập ra do một số công chức
hạng trung của chế độ thực dân Pháp và
những đại diện chủ nghĩa tư sản và
công chức của Pháp (từ tri huyện đến thông
phán, kư lục, hội đồng...) và phát triển chủ
yếu ở Sài G̣n, các đô thị và thị trấn
miền Đông Nam bộ, nơi có ṭa thánh Cao Đài Tây Ninh. Sau
đó phát triển ra miền Trung ở Quảng Ngăi và có
một thánh thất ở Hà Nội. Đạo này có tham gia
những cuộc họp tôn giáo ở nước ngoài và có
lập thánh thất tại Phnom Pênh. Một số bà con
Khmer ở Tây Ninh cũng vào đạo Cao Đài.
Đạo Cao đài
được thành lập là do Đức Cao Đài giáng cơ cho
ông Ngô Văn Chiêu lúc đang làm Tri phủ ở Phú Quốc
vào năm 1921. Năm 1925 ông được đổi về
Sài G̣n và cùng lúc đó nhóm của một số công chức
của Pháp như Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư...
cũng cầu được cơ của Đức Cao Đài
t́m đến và bàn nhau lập đạo. Sở dĩ
đạo có tên gọi "Tam kỳ phổ
độ" là v́ đă có hai kỳ thượng
đế đă lập đạo, nay Cao Đài là lần
thứ ba và lấy thiên nhăn làm biểu tượng.
Đạo Cao Đài chủ
trương thống nhất các tôn giáo :
Phật giáo : Thích Ca Mâu Ni
Tiên
giáo : Lăo Tử
Nho
giáo : Khổng Tử
Thánh
giáo : Jésus Christ
Thần
giáo : Mahomet
Việc lănh đạo giáo
hội do ba cơ quan là Bát quái đài, Hiệp thiên đài do
Hộ pháp cai quản và Cửu trùng đài do Giáo tông cai
quản. Phía trước Ṭa thánh Tây Ninh có vẽ thiên nhăn và
một bảng hiệu trong có ghi hàng chữ : Dieu, Humanité,
Amour, Justice (Thượng đế, Nhân loại, T́nh
thương, Công lư) và h́nh ba vị thánh là Tôn Dật Tiên,
Victor Hugo và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài ra đạo Cao Đài
c̣n thờ các vị thần, thánh của các tín
ngưỡng và tôn giáo khác như : Brahma, Civa, Krishna (Vishnou),
Khương Thái Công, Quan Công, Lư Thái Bạch, Quan Thế Âm.
Về kiến trúc, điêu khắc, cách thờ phụng, y
phục, kinh kệ của đạo Cao Đài là sự pha tạp,
hỗn hợp của đủ các thứ tín ngưỡng
và tôn giáo Đông, Tây, kim, cổ ; do đấy được
mệnh danh là đạo hỗn hợp (Syncrétisme). Đạo
Cao Đài có xu hướng thân Nhật ngay từ đầu và
suốt từ 1945 đến 1954, lúc th́ họ hợp tác
với Nhật để đánh Pháp (Trần Quang Vinh
chỉ huy quân lực Cao Đài), lúc th́ họ hợp tác với
Pháp để chống lại nhân dân ta trong cuộc kháng
chiến chống Pháp (lực lượng Cao Đài của
Nguyễn Thành Phương, Lê văn Tất). Sau hiệp
định Genève (1954), họ lại hợp tác với
Diệm -Nhu (Trịnh Minh Thế, Nguyễn Thành Phương...).
Cũng có một số tín đồ Cao Đài đă giác
ngộ Cách mạng và tham gia kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, liên hiệp hành động với
MTDTGPMNVN như lực lượng Cao Đài của thiếu tá
Huỳnh Thanh Mừng đă liên hiệp hành động
với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
trong thời kháng chiến chống Mỹ.
Tín đồ Cao Đài phần
lớn ở khu vực Tây Ninh, Bến Tre và thành phố
Hồ Chí Minh. Tới nay đạo này đă phân hóa thành
nhiều nhóm và không thống nhất với nhau. Số tín
đồ toàn Nam bộ lối một triệu
người. Đạo Cao Đài chia ra nhiều chi phái như Cao
Đài Nguyễn Ngọc Tường, Cao Đài Câu Khe, Minh Kư...
5 ) Đạo Dừa:
Đạo Dừa do ông Nguyễn Thành Nam
sanh năm 1909 tại Phước Thạnh (Bến Tre)
lập ra. Ông đậu kỹ sư hóa học ở Pháp,
đă có vợ con. Đến năm 1943, ông bỏ gia đ́nh
vào núi Thất Sơn tu khổ hạnh. Một thời gian
sau, ông trở về và ở nhiều nơi để tu
đạo, từ Sài G̣n tới Mỹ Tho, Bến Tre.
Đến năm 1964 ông dựng tại cồn Phụng
thuộc tỉnh Bến Tre một đài bát quái cao 18 mét
để ngồi tu, người ta đồn rằng hàng
ngày chỉ uống nước dừa để sống,
do đấy có tên là Đạo Dừa. Ông cũng có ăn thêm
trái cây và đặc biệt vài năm mới tắm có
một lần và ở trên đầu tóc đanh lại.
Đạo Dừa chủ trương thờ cả Phật
Thích Ca lẫn Chúa Jésus, không dựng cốt Phật, chỉ
dựng Cửu trùng đài và theo cả giáo lư Phật, Lăo,
Nho. Sau mỗi lần tụng niệm (những bài tụng
do ông viết ra) đều đọc Nam Mô A Di Đà - Amen. Ông
tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Ḥa B́nh Nam
Nguyễn Thành, và nơi tu tại cồn Phụng có tên là
chùa Nam Quốc Phật. Ông mua một chiếc tàu cũ,
sửa lại và đặt là thuyền Bát nhă (nay là nhà hàng
nổi của Công ty Ăn uống tỉnh Bến Tre),
lấy làm nơi tu hành. Trong thời chiến tranh chống
Mỹ, có một số người Mỹ đến tu với
ông Đạo Dừa, trong số này có con trai của nhá văn
J. Steinbeck với những lư do không b́nh thường. Tín
đồ Đạo Dừa ngày càng phân hóa thành nhiều nhóm
nhỏ đi các nơi lập chùa miếu như nhóm
Đạo Chín Hồng ở Thủ Đức, nhóm Nguyễn
Văn Sự ở Long Thành, nhóm Ḥa đồng tôn giáo
của Lư Văn Thạnh ở Chợ Lớn... mang
nặng tính mê tín dị đoan. Số tín đồ Đạo
Dừa không đông lắm, chỉ tập trung tại
cồn Phụng và không có ảnh hưởng tới nơi
khác.
6 ) Những nhóm
đạo giáo khác:
Ngoài những tôn giáo lớn và
đạo giáo kể trên tại Sài G̣n và Nam bộ, c̣n có
nhiều nhóm đạo giáo khác được h́nh thành,
nhất là sau hiệp định Genève 1954.
Ta có thể kể đến
:
- Hội Thông thiên học.
-
Đạo Ba-hai (Baha'i-gốc ở Arab).
-
Việt Vơ Đạo.
-
Hồng môn Minh đạo.
-
Tổ tiên Chính giáo.
-
Thiên khai Huỳnh đạo.
và v.v...
Những nhóm đạo giáo
này không phát triển rộng răi và chỉ có một số ít
đồng bào theo đạo v́ tin vào "phép lạ",
thần quyền và mê tín dị đoan. Sau ngày giải phóng
miền Nam (30.04.1975), những nhóm đạo giáo này
phần lớn đă tự giải tán. Để ổn
định và hóa giải những sự tồn tại
trong các đạo giáo kể trên, điều quan trọng
là chúng ta phải thấy đại đa số tín
đồ các đạo này là nông dân nghèo, chưa có tŕnh
độ văn hóa và khoa học nên dễ bị ảnh
hưởng về dị đoan mê tín, thần quyền.
Đồng thời bà con nông dân đều có tinh thần yêu
nước nồng nàn, có tâm hồn chất phác, cần cù
chịu khó, hào hiệp và có truyền thống bảo
vệ văn hóa dân tộc.
Giải quyết vấn
đề ở đây cơ bản vẫn phải là nâng
cao đời sống kinh tế, văn hóa, đưa khoa
học kỹ thuật vào cuộc sống, chống quan
liêu, tham nhũng, bóc lột, dù bất cứ dưới
dạng nào. Vấn đề công bằng xă hội, tự
do tín ngưỡng phải được bảo
đảm triệt để, để bảo
đảm thực thi chính sách, đường lối
của Nhà nước./.
Phan Lạc Tuyên
Nguyệt San Giác Ngộ số 30-32
(tháng 9/1998)
Nguyên Ninh đánh máy
Nguồn: Chim Việt Cành Nam