Phật giáo Việt Nam và quần chúng
tại miền Nam Việt Nam từ
đầu thế kỷ 20
Quách Thanh Tâm
(Bài
phát biểu trong Hội Thảo "Hướng phát
triển Phật giáo Việt Nam: quá khứ, tương
lai",
Trúc Lâm Thiền Viện
tại Pháp, 8-9-1996)
Miền nam Việt Nam mang nhiều nét
đặc thù sâu đậm mà ảnh hưởng
đến tâm linh và đời sống của quần chúng
chưa bị kỹ nghệ hay đô thị hóa quá khích chi
phối. Kể từ ngày sử ghi có người Việt
đến cư ngụ làm ăn trên đất nầy
đến nay đếm được chỉ hơn 400
năm (1623: phái bộ chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu
được lập cơ sở thuế ở Prei-Nokor:
Saigon; 1658: Trịnh Hoài Đức ghi là có "lưu dân
Việt đến sống chung với người Miên khai
khẩn ruộng đất''; 1698: Nguyễn Hữu
Cảnh đặt ra Gia Định phủ với xứ
Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh
Trấn Biên; xứ Sài G̣n làm huyện Tân B́nh, dựng dinh
Phiên Trấn. Vùng Long Hồ dần dà được
nối vào Gia Định, vùng An Giang nối vào Long Hồ...)
(1). - một vùng c̣n nặng nét "đất mới''
đó người dân nơi đây rất gần gũi
với thiên nhiên, trầm ḿnh trong trời đất bao la,
gởi ḿnh cho quỷ thần đỡ nâng trừng
phạt.
I -
Những nét đặc thù của miền Nam Việt Nam tác
động đến đời sống tâm linh của con
người.
Miền Nam là một châu
thổ mà địa thế c̣n đang xây dựng ở
nhiều nơi. Cao độ chung không quá 1-3m trung b́nh trên
mặt đồng bằng. Châu thổ mênh mông (39952 km2), tuy
cao độ có khác đi ít nhiều tuỳ nơi, nhưng
độ khác biệt nầy không làm mất cái cảm giác
bằng phẳng của toàn phần. Châu thổ c̣n có
nhiều vùng trũng như vùng trũng giữa Châu
đốc và Hà Tiên, vào mùa nước lớn 5000m3/giây
đổ vào đây trước khi chảy ra vịnh Thái
Lan. Những khu vực trũng sót thấp hơn 1m rất
thường gập ở miền tây bị ngập
nước vào mùa mưa. Đồng bằng Cà Mau c̣n có nhiều
chổ nằm trong t́nh trạng lầy lội (2). Trên cái
địa diện bằng phẳng đó, một núi con,
một g̣ khiêm nhượng nhưng nổi bật ra là
một nơi được xem như thiêng liêng linh
địa (núi Bà Đen ở Tây Ninh; Thất sơn ở Châu
Đốc, núi Châu Thới ở Biên Ḥa). Nhiều chùa cổ được
dựng lên tại những nơi nầy. Sự tín
ngưỡng và ḷng sùng bái của người dân vẫn c̣n
mạnh.
Rừng ngập rậm
rạp âm u, nhiều muỗi ṃng, rắn độc và thú
dữ, tuy ngày nay đă chế ngự nó được
một phần nào, nhưng âm hưởng huyền bí
vẫn c̣n phảng phất và vẫn c̣n ít nhiều tác
động đến trí tưởng tượng chung.
Hằng năm, mực
nước sông Tiền và sông Hậu lên cao từ tháng VII
đến hết tháng XI, cao nhất vào các tháng IX và X. Tuy
ngập lụt không đe dọa như ở châu thổ
sông Hồng v́ có nhiều nguồn thoát thủy (3), nhưng
cái cảnh trời nước bao la làm cho việc đi
lại rất khó khăn trong mùa lũ cũng đă gieo
ấn tượng cô liêu, nhỏ bé cho những ai sống
trong những đêm yếu đèn mờ ảo với
tiếng nước vỗ chập chờn dưới
cọc nhà. Thân phận con người trong môi trường
đó th́ có khác ǵ "vách đổ với tường
xiêu'' (Mai Trực Thiền Sư Viên Chiếu 999-1090).
Miền Nam Việt Nam vào
những thế kỷ XVII-XVIII là một vùng thưa dân
đất trống so với châu thổ sông Hồng. Các
điểm tụ cư rải rác trên các giồng
đất tương đối cao.
Bên cạnh người
Khờ Me đă sinh sống tại đây từ
trước khi người lưu dân Việt đến
lập cư, c̣n có người Hoa từ những năm cuối
thế kỷ thứ XVII sang xin định cư. Họ là
những phần tử không thần phục nhà Măn Thanh,
gồm nhiều hạng người thương nhân, binh
lính, nho sĩ, tu sĩ phật giáo, họa sĩ, thầy lang,
dưới sự hướng dẫn của Trần
Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch. Chúa
Hiền Vương (Nguyễn Phúc Tần 1948-1987) đă cho phép
họ vào định cư tại vùng Biên Ḥa-Gia Định,
lập Đại phố châu (Biên Hoà) phồn thịnh và
Mỹ Tho Đại phố (1682 và 1683).Về phía Tây, Mạc
Cửu đến lập nghiệp trên đất khmer vào
đầu thế kỷ XVII sau về thần phục Chúa
Nguyễn và nhờ đấy mà miền biên ải Hà Tiên
đă trở thành điểm tụ di dân người Hoa và
giữ vai tṛ tiền địa trong việc khai quan mở
cơi cùng bảo vệ biên cương. Là những thành
phần sinh hoạt năng động, thêm được
qui chế hành chánh ưu đăi (4) trong quá khứ họ
vừa là một sức mạnh dân số (5,5% dân số
toàn miền Nam vào thời điểm 1946-1986 ) (5), vừa
là một sức mạnh kinh tế vừa là một
lực lượng văn hoá đáng kể trong quá tŕnh
dựng nước miền Nam. Ảnh hưởng
người Hoa trong lănh vực tôn giáo là một yếu
tố quan trọng. Tuy nhiên nếu các thiền sư theo
luồng di dân vào Nam đa số là người Trung hoa,
như thiền sư Viên Quang trụ tŕ tại chùa Giác Lâm,
một ngôi chùa cổ tại thành phố Hồ Chí Minh ngày
nay và được xem là tổ đ́nh của phái Lâm
Tế, ḍng đạo Bổn Ngươn Nam bộ, tuy các
chi phái được nhắc đến thường là
Lâm Tế và Tào Động gốc từ Trung Quốc, nhưng
Phật giáo Nam bộ giao ḥa nhiều ảnh hưởng
địa phương nên mang rất nhiều đặc
thù dân tộc tính. (6)
" Nhiều ngôi chùa của
người Hoa, có các vị tổ khai sơn là những
thiền sư Trung Quốc, cũng đă có mặt tại
vùng đất mới đồng thời với cuộc
di dân của người Việt. Nhưng trong quá tŕnh
lịch sử, khá nhiều ngôi chùa nầy đă dần
dần chuyển sang cho người Minh Hương hoặc
trở thành chùa Việt như chùa Long Thiền (Đồng
Nai); hoặc biến thể sang hướng khác, trở
thành ngôi chùa Minh Sư sau nầy (đặc biệt là chùa
ở Long An). Do đó, trước đầu thế
kỷ XX, chùa Hoa thờ Phật là chính ít được
nhắc đến, chỉ phổ biến dạng miếu
thờ thần, được dân gian quen gọi là chùa,
một dạng tín ngưỡng dân gian của người
Hoa..." (Trần Hồng Liên, Phật giáo Nam bộ từ
thế kỷ 17 đến 1975, tr. 14)
Trên bước
đường di dân lập nghiệp trong môi trường
hoang dă thiếu nhiều tiện nghi, Trời Phật là
niềm tin vô tận trước bao hiểm họa đói
khát bệnh tật. Đối với những ai hằng ngày
phải chạm mặt với muôn vàn thử thách th́
Trời và Phật là đấng thiêng liêng, Trời và
Phật là một, là ánh sáng đưa đường
đến b́nh an, đến miền cực lạc.
Phật bà Quan âm là vị Bồ tát rất gần gũi
với quần chúng. Vở kịch Quan Âm Thị Kính đă
từng được bao thế hệ đọc xem, cái
gương nhẫn nhịn, từ bi, cái ḷng tin vững
chắc nơi đấng Vô Thượng đă đưa
Phật giáo từ bi tịnh độ vào quần chúng
một cách sâu đậm tuy gián tiếp:
" Ngoài Tam quan nếu có ḷng
thành
Trên
cửu phẩm cũng nhờ Phật chứng "
Những lời trên đây mà
một tác giả đă gán cho Thị Kính khi nàng chịu oan
sống nuôi con người thành con ḿnh ngoài cửa tam quan
chùa là tấm gương hi sinh, từ bi vô lượng mà
người dân dă mộc mạc đă ghi trong tâm khảm
của ḿnh. Nương cửa Phật sẽ phải là
những người hoàn hảo vượt lên trên cả
những huấn điều nhân đạo thường
nhật.
Cũng trong hoàn cảnh dân
thưa nước độc, mà bệnh thời khí
thường hoành hành gây chết chóc, nên truyền thống
tin tưởng vào các hoạt Phật hiện ra để
cứu độ chúng sanh rất thịnh ở nhiều
nơi như vùng Láng Linh, miệt Rạch Giá. Sức tin vào
các vị đạo Lành dùng nước chữa bệnh,
không học mà làu thông kinh thánh, biến hóa thần thông, tái
sinh độ thế, nếu có phản ánh ít nhiều Lăo
giáo tu tiên trường sanh bất tử, th́ cũng nói lên
nhu cầu tâm linh của quần chúng , cần dựa vào
một mănh lực siêu nhiên bất phân giai cấp từ bi
vô lượng để có thể giữ vững can
đảm mà chống lại với môi trường
khắc khổ .
- châu thổ điểm
tụ cư cũng hiếm hoi. Quần cư thường
là ở những doi đất hoặc ở những ngă ba
sông. Sinh hoạt trao đổi do đó thường
cũng được phát triển cùng độ với
nông nghiệp. Tín ngưỡng dân gian dựa vào thần tài,
vào các thần linh độ họ đi về an ổn,
làm ăn phát đạt không đối kháng với tín
ngưỡng Phật giáo. Trái lại khi làm ăn
được lợi, họ c̣n đền đáp lại
bằng cách xây chùa đặt tượng tri ân Phật
Trời.
Nam bộ đă là một
thuộc địa gần một thế kỷ (1862-1945).
Sự va chạm với nền văn minh âu tây nơi
đây đă có một cường độ mạnh.
Nhưng sự va chạm nầy đă không làm mất cá tính
dân tộc, mặc dù cũng có lúc nhiều người
đă chạy theo phong trào âu hóa, xem văn minh truyền
thống nặng ảnh hưởng Trung hoa là hủ
lậu. Một trong những phong trào kháng Pháp và chấn
hưng truyền thống dân tộc được thể
hiện qua phong trào chấn hưng Phật giáo. Rất
nhiều sách báo và nghiên cứu giáo lư cũng như những
phong trào khuyến thiện được ra đời.
Sự sôi nổi của các hoạt động chấn
hưng, nhất là sau 1920 đă nói lên tiềm lực
mạnh mẽ của nhu cầu tâm linh và ḷng tin vào
đấng Phật Nhất Như Tự Tại của
quần chúng. Ngoài các tổ chức, các hội Phật
học, nhiều giáo phái được ra đời, c̣n có
rất nhiều phật tử tu tại gia. Các cư sĩ
danh tiếng như Đoàn Trung C̣n, Mai Thọ Truyền đă
đóng góp rất nhiều cho phong trào. Đạo Phật trong
giai đoạn kháng Pháp thầm lặng hoặc phát lộ
trong nửa đầu thế kỷ XX đă đi rất
gần với quần chúng, đă ḥa chung với ḷng yêu
nước, cứu nước của dân gian. Tu không những
là t́m hạnh phúc cho cá nhân, mà c̣n cầu cho chiến sĩ
thành công, cho ḥa b́nh sớm về với đất
nước. Tu cũng không phải là đến chùa đúng
giờ đúng lúc, mà ở bất cứ nơi nào, miễn
là tâm thành, th́ được Phật chứng. Tu thiền,
tu Tịnh rất được ngưỡng mộ. Thiền
Tịnh song tu rất quen thuộc với những ai t́m
đường học đạo thuở bấy giờ:
"Phật tức tâm
Phật tại nơi ḷng
Tâm
tức Phật ḷng thành có Phật"
Hai câu thơ nầy hầu
như đă nói lên một sự hiển nhiên, v́ nó
được cảm thức như một dư âm
của tiếng nói tâm hồn Việt vọng lại
từ xa xưa qua các lời nói, câu thơ của các
bậc tiền bối (7):
"Trong núi không có Phật,
Phật chỉ có trong tâm"
(câu trả lời Trần
Thái Tông của Quốc sư Viên Chứng, khi vua muốn lên
núi Yên Tử để t́m Phật)
Hoặc những câu sau đây
của Trần Thái Tông (1225-1258) trong bài Cư trần
lạc đạo:
"Bụt ở cuông nhà,
Chẳng
phải t́m xa,
Nhân
khuẩy bổn, nên ta t́m Bụt
Đến
cốc hay, chín Bụt là ta"
(ngụ ư muốn nói Phật
ở trong - cuông - nhà. Nhà là nơi ta tạm ngụ trong
kiếp sống nầy mà cũng có thể là thân ta nơi
ngũ uẩn kết tạo ra h́nh hài. Ta chẵng phải
đi t́m xa Phật. Không thấy Phật hiển nhiên là v́
quên mất cái gốc nguồn của ta - khuẩy bổn:
quên mất gốc - là Phật. Nếu cố phá vô minh th́
biết ngay chính - chín: chính - ḿnh là Phật)
Hoặc qua lời thơ
của Nguyễn Trăi:
"Bụt ấy là ḷng,
bụt há cầu" (Quốc Âm thi tập)
II - Tiềm
lực phát triển
Phật giáo phủ trùm
thế giới tâm linh của đa số người dân
Nam Việt và tiềm ẩn trong đường
hướng sinh hoạt đối xử xă giao. Những thuật
ngữ nhà Phật hầu như gắn liền với
sự việc hằng ngày cũng như ở những lúc
trọng hệ trong cuộc đời của từng cá
nhân. Ngôi chùa là nơi gột rửa tội lỗi, là
nơi bảo bọc người lâm nạn. Thuư Kiều,
Nguyệt Nga đă từng nương cửa Phật.
Bốn chữ "sống gởi thác về'' hàm chứa
bao nhiêu là êm ái là âu yếm cho những ai đang khắc
khoải rời bỏ cơi đời đầy cát bụi
nầy. "Tiêu diêu nơi cực lạc'' dù cho xa xôi, dù cho
huyền ảo đến đâu cũng là một ánh sáng
dẫn đường để vượt bao gian
khổ của cái xă hội loài người nhất là
ở những nơi c̣n kém mở mang hay c̣n bị bóc
lột.
Phật giáo chan ḥa trong tâm
tư của mỗi người Việt qua những câu hát
giọng ḥ, qua những huấn dụ đậm đà t́nh
thương nhân loại:
"Thương người
như thể thương thân
Người
ta phải bước khó khăn, đến nhà
Đồng
tiền bát gạo mang ra
Rằng:
"Đây cần kiệm gọi là lám duyên''
May ta
ở chốn b́nh yên,
C̣n
người tàn phá chẳng nên cầm ḷng
Tiếng
rằng "ngày đói tháng đông'',
Thương
người, bớt miệng bớt ḷng mà cho.
Miếng
khi đói, gói khi no
Của
tuy tơ tóc, nghĩa so ngh́n trùng
Của
là muôn sự của chung:
Sinh
không, thác lại tay không, có ǵ"
Nguyễn Trăi: Gia Huấn ca,
câu 313-323
Phật giáo c̣n làm gần
gũi con người với nhau dù trong bể khổ, hay
cùng giải thoát ngoài ṿng sinh diệt. Thế th́ c̣n lạ ǵ
khi những người di dân vào Nam trên đất khách
lại thấy ấm ḷng khi cùng chung niệm "Nam mô''.
Thân phận con người rồi "ai cũng như ai''
đă được diễn tả qua bao lời văn
thắm thiết của Nguyễn Du trong "Văn Chiêu
hồn'':
"Ai tới đó
dưới trên ngồi lại
Lấy
chút ḷng chớ ngại bao nhiêu
Phép
thiêng biến ít ra nhiều
Trên
nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh
Phật
hữu t́nh từ bi tế độ
Chớ
ngại rằng có có không không"(8)
Nguyễn Du: Văn Chiêu
Hồn, câu 177-182
Hoặc qua những câu
dịch bài ngụ ngôn "Quỷ Vô thường và
tiều phu'' của Jean de La Fontaine:
"...............................................
Vô thường hỡi dùm ta dắt
lối
Lánh trần ai trăm mối nợ đời
Quỉ nghe hiện đến tận nơi
Hỏi "rằng có chuyện chi mời đến ta?''
Quỉ càng hỏi lăo già càng sợ
Rồi ngẫu nhiên nói trớ cho qua
Rằng xin nhờ gánh củi về nơi quê nhà
Tuy đă biết trần ai cay đắng
Nhưng khuyên đừng thở vắn than dài
Rồi đây rồi cũng có ngày
Nợ nần trăm mối rảnh tay cho mà
Hơi nào tha thiết thiết tha
- trong bể khổ có ta có ḿnh"
Jean de La Fontaine: La Mort et le bucheron,
bản dịch của Lê Đức Mậu(?), 1934 (9)
Qua những nhận xét trên ta
có thể nói là " người Việt c̣n, nước
Việt c̣n th́ c̣n người theo đạo Phật"
Tuy nhiên, Phật giáo Nam
Việt uyển chuyển khế lư khế cơ. Là
đất của lưu dân, lại là đất đă
từng bị ngoại thuộc, miền Nam Việt Nam đă
là nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc ôm ấp
tận trong đáy ḷng v́ sách vở buổi đầu khó
có. Miền Nam c̣n là nơi mà Trời Phật rất gần
gũi, thân thương ḥa trong thiên nhiên vô tận. Đây
cũng là nơi các Phật Bà rất được tôn sùng
(tại núi Bà Đen hay Bà Đênh thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, Tây
Ninh; ở làng Vĩnh tế Châu Đốc, thờ Bà Chúa
Xứ, nhưng tại đây không rơ là nhân dân có tôn là
Phật Bà như ở Tây Ninh chăng?)
Trong quá tŕnh đấu tranh
dành độc lập, Phật tử tu tại gia đă t́m
trong niềm tin của ḿnh, tùy tŕnh độ kiến
thức (cư sĩ lăo thành, thường dân tay lấm chân
bùn quê mùa mộc mạc...) một động lực
để vững tin vào tương lai và một sự
ấm ḷng trong vị tha lai láng. Tu c̣n là không quên cỗi
nguồn dù theo nghĩa hẹp là không quên tinh thần dân
tộc, quê cha đất tổ hay dù theo nghĩa rộng là
trở về với Phật tính vĩnh hằng.
Và giờ đây trong bôn ba
của hiện tượng đô thị hóa, của văn
minh hiện đại trọng lợi hơn người
trên thế giới, thử hỏi Phật giáo có c̣n khả
năng cứu độ, đi thẳng vào ḷng
người nữa chăng? Miền Nam Việt Nam với
các đặc thù của một địa phương
hạn hẹp có thể vin vào Phật giáo để đi
vào một thế giới tín ngưỡng đại
đồng vũ trụ, hay lại v́ sức mạnh
của cá tính ḿnh mà lôi Phật giáo vào hàng một tín
ngưỡng nặng địa phương tính, chỉ có
mănh lực cho một cộng đồng nhất
định, trong một không gian nhỏ bé?
III -
Hướng phát triển
Tín ngưỡng thấm
nhuần dân gian, nói chung cho tất cả Việt Nam. Riêng
miền Nam, thấm độ ấy càng cao v́ con
người nơi đây đă phải vật lộn với
một môi trường khe khắt, đă phải bó tay
trước bao nhiêu bạo lực, niềm tin cuối cùng
của họ chỉ c̣n trông nhờ vào ḷng từ bi vô
lượng của đấng Vô Thượng , hoặc
vào những quyền lực thần bí vượt khả
năng của con người trần thế. Đến
lập nghiệp ở nơi xa lạ, họ nuối
nắm nhiều với Ông bà cha mẹ, với những anh
hùng liệt sĩ mà khí thiêng vẫn c̣n phảng phất dù
đă qua đời (thờ Nguyễn Trung Trực tại
Rạch Giá, thờ Trương Định tại G̣ Công). Các
nhân vật của thế giới vô h́nh nầy, trong ḷng dân
gian, trong trí tưởng tượng của họ
đều núp bóng từ bi, nương cửa Phật, sẳn
sàng theo Phật tế độ chúng sanh.
A
- Hướng tiếp cận dân gian, nhập thế,
cứu khổ cứu nước
V́ các lư do nêu trên, đạo
Phật, tại đây, sau một thời kỳ suy thoái
đă được chấn hưng từ những năm
sau 1920 (10) theo hai chiều hướng chính:
1/ gần gũi thân
thương, giác ngộ tâm linh, trau dồi nhân đức
ân cần giúp đỡ trong những nhu cầu tối
thiểu hằng ngày,
2/ đậm đà tinh thần yêu nước.
Nhiều tổ chức,
nhiều hội được ra đời như Thiên
Thai Thiền giáo tông liên hữu hội (1935, Bà Rịa)
với tờ Bát Nhă Âm làm tập chí phổ thông; Thiên Thai
giáo quán tông, Pháp Hoa tông (1936)...; hội Kiêm tế (1936,
Rạch Giá) với nhiệm vụ vừa hoạt
động Phật học vừa kinh bang tế thế.
Cơ quan truyền bá của hội là tạp chí Tiến
hóa chủ trương chú trọng nhiều về hành
động, canh tân, đến độ đ̣i hủy
bỏ truyền thống "đầu tṛn áo vuông'' (theo
Trần Hồng Liên); Thiền Tịnh đạo tràng
(1948), và c̣n nhiều tổ chức thiên về nghiên cứu
giáo lư hay ngược lại trọng về khía cạnh
phước thiện, hoặc có ít nhiều màu sắc chính
trị đấu tranh khác...
Tuy nhiên để có thể
suy luận sâu thêm một ít, xin nhấn mạnh
trường hợp Phật giáo Ḥa Hảo. Giáo phái nầy
được chính thức thành lập ngày 18 tháng năm
Kỷ măo (1939). Giáo chủ là ngài Huỳnh Phú Sổ
(1919-1947) sinh quán làng Ḥa Hảo quận Tân Châu, tỉnh Châu
Đốc trước, nay là xă Phú Mỹ huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang. Vào năm 1975, tín đồ của
đạo có khoảng 3 000 000 người (theo Etudes
viêtnamiennes, Le delta du Mekong, numéro spécial, 1984), và riêng tỉnh
An Giang có hơn 1 triệu tín đồ, chiếm 85,4% dân
số toàn tỉnh vào cuối những năm 1980 (theo
Nguyễn Công B́nh, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường:
Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
NXBKHXH, TP HCM, 1990, 380). Ra đời trong lúc lịch sử thế
giới giao động v́ thế chiến thứ hai
vừa nhen nhúm, và cuộc diện chính trị Á châu đang
chuyển hướng, Phật giáo Ḥa Hảo, đặt
vào ḍng lịch sử đạo giáo và tư tưởng
Việt Nam nói riêng, và của lịch sử Việt Nam nói
chung, là một thí dụ linh động của đời
sống tinh thần trong một vùng ở trong một
thời điểm nhất định. Nếu về sau
Ḥa Hảo có đi sâu vào đời sống trên b́nh diện
tham gia chính trị hoặc đấu tranh vơ trang, th́ phân xét
lư do, hay luận đúng sai của các sự việc ấy
không nằm trong khuôn khổ của bài tham khảo nầy,
và cũng ra ngoài khả năng của tác giả.
V́ địa bàn hoạt
động cùng trên một vùng địa lư (vùng Thất
sơn), v́ có nhiều điểm trùng hợp trên b́nh
diện giáo lư và hành tung của các vị được tín
đồ tôn làm giáo chủ, hoặc Phật, xuất
hiện để cứu thế độ dân (viết kinh
giảng, cứu bệnh mầu nhiệm không cần
thuốc), dựng cờ cứu nước, nên có
truyền thuyết gắn liền Ḥa Hảo với các giáo
phái Bửu sơn kỳ hương do Đoàn Minh Huyên sáng
lập (truyền từ 1849-1856), Tứ Ân hiếu
nghĩa của Ngô Văn Lợi (truyền đạo
từ 1879-1890).Tín đồ "Bửu sơn kỳ
hương'' c̣n tin là đức Phật Thầy Tây An (Đoàn
Minh Huyên) đă bốn lần tái sinh chuyển kiếp:
Đức Phật Trùm ở núi Tà Lơn truyền đạo
từ 1879-1890; Đức Bổn sư Ngô Văn Lợi ở
núi Tượng; Sư văi bán khoai ở biên giới Miên -Việt;
Đức Huỳnh Giáo Chủ, người khai sáng đạo
Ḥa Hảo ở làng Ḥa Hảo (11).
Nếu nhận tiền thân
của Ḥa Hảo là Bửu sơn Kỳ hương và
Tứ Ân hiếu nghĩa th́ những truyền thống ḥa
hợp nhiều tín ngưỡng, đơn giản hóa nghi
thức, không thờ tượng cốt chỉ thờ trần
dà (Bửu sơn kỳ hương thờ trần
điều -vải đỏ, khác màu dà nâu đậm
ở đây -) "tùy cơ hóa độ'', không nặng
về h́nh nhi thượng, đều có thể thấy
ở cả ba giáo phái. Dựa trên căn bản Tứ Ân:
ân cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân
đồng bào nhân loại, đạo nầy đă cho người
dân miền tây nửa đầu thế kỷ XX một
thích ứng đầy đủ mọi mặt với nhu
cầu tâm linh của họ. Bốn trọng ân nầy
nguyên là khái niệm "Tứ Ân'' của Phật giáo Trung
Quốc: ân phụ mẫu, ân quốc vương, ân tam
bảo, ân chúng sinh, đă được cụ thể hóa,
Việt hóa, và c̣n có thể nói gần gũi hóa với
quần chúng bằng cách đặc ân đất
nước và ân cha mẹ ở hàng đầu.
Tín đồ vẫn dựa
vào pháp môn "tu nhân học Phật''. Các bộ kinh Giác Mê
của Phật thầy Tây An, Sám giảng người
đời của Sư Vải Bán Khoai, Sám giảng thi
văn toàn tập của Huỳnh Giáo Chủ vẫn c̣n
được tín đồ nghiền ngẫm.
B
- Hướng đặc chú vào h́nh thức tổ chức
gia đ́nh Phật tử và nghiên cứu phổ thông kinh
điển
Một trong những mục
đích chính của phong trào chấn hưng phật giáo là
nhằm tạo điều kiện cho "chư sơn
thiền đức đoàn kết lại để
chỉnh đốn tăng già, kiến lập Phật
học đường, diễn dịch, xuất bản
kinh sách Việt ngữ''., thí dụ như mục đích
của tổ chức Lục Ḥa Liên xă ra đời năm
1920 (12).
Nhiều hội đoàn, sách
báo được ra đời:
- Hội Phật học Việt nam
(1950)
- Ni giới Nam Bộ (1927), với trường Ni
đầu tiên của Nam Bộ
- Đoàn thể Phật Tử (Gia đ́nh Phật Tử, Thanh
Niên Phật Tử, Học sinh, sinh viên Phật Tử...)
- ......
Các sách báo hỗ trợ cho
phong trào chấn hưng, và hoằng hóa trong giai đoạn
trước 1975 ra đời với tinh thần
đổi mới trong Phật giáo (Phật hóa tân thanh niên,
Phật học tổng yếu, Vô thần luận, Chân lư
của Tiểu thừa và Đại thừa của tăng
sĩ Thiện Chiếu 1898-1974), với ư chí nghiên cứu
sâu rộng kinh sách, đem kinh sách vào quần chúng như các
công tŕnh của những vị Ḥa thượng Khánh Ḥa,
Huệ Quang, Khánh Anh (Hoa Ngiêm nguyên nhân luận, Tại cư
sĩ luật, Duy thức triết học, Khánh Anh văn
sao)...Những tập san Pháp Âm Phật Hóa Tân Thanh Niên,
Từ bi Âm, Duy Tâm, Từ Quang, Phật Học.. là những
cơ quan ngôn luận đă đem lại sự tranh
luận sôi nổi về các vấn đề Phật giáo
với những nhận thức mới và những khuynh
hướng khác nhau, tuy hầu hết đă bị chính
quyền thuộc địa đ́nh bản sau vài
số.(13)
Một thí dụ về
nhiệt tâm đưa đạo đến gần với
quần chúng là việc phiên dịch ghi chú bộ kinh
Diệu Pháp Liên Hoa do Cư Sĩ Đoàn Trung C̣n (14) bằng
thể thơ song thất lục bát rất quen thuộc
với người dân. Lời văn b́nh dị, dể
hiểu, ấm áp:
Chúng tôi mừng rỡ bồn chồn
Cũng như kẻ khó dạ nôn bạc nhiều,
Hôm nay nhờ phật dắt d́u,
Hưởng thâu của lạ trăm ch́u quí thay
Câu 50-54, phẩm "Tín Giải'' Kinh
Pháp Hoa
Kết
luận: Hướng phát triển hiện nay
Tôn giáo "sinh ra cùng với
xă hội loài người, do con người sáng tạo ra
nó, rồi con người lại bị chi phối bởi
nó. Tôn giáo c̣n tồn tại lâu dài'' (Theo Đặng Nghiêm
Vạn). Tuy nhiên ngày nay, xu thế thế tục hóa ngày càng
phổ biến trong nhiều tầng lớp xă hội trên
thế giới. Hai xu hướng dường như
đối nghịch nhau trên có thấy tại miền Nam
không và có chèn lấn được thua nhau ra thế nào?
Từ những năm gần
đây nhu cầu tâm linh của quần chúng Nam bộ
nổi bật qua nhiều sự kiện được
quan sát:
- việc xây cất trùng tu
chùa chiền tại Việt Nam, và tại Nam bộ có
một cường độ đáng kể. Tại
nhiều quận trong thành phố Hồ Chí Minh số chùa
khang trang, mới được xây thấy được
rất nhiều. Số người đi cúng chùa đông
đảo cả nam lẫn nữ, cao tuổi hay c̣n trong
tuổi thanh-tráng niên.
- Những ngày vía hội
tại Châu Đốc hay tại Tây Ninh số người hành
hương rất đông, mà thành tâm của họ không
thể nghi ngờ. Mục đích hành hương có thể
có nhiều ư kiến phê phán, nhưng ḷng thành ngưỡng
mộ là một sự hiển nhiên.
- Sách báo, các bài nghiên cứu,
dịch giải kinh tạng được và sẽ
được xuất bản nhiều, trường
viện ở đủ các cấp đă mở và sắp
mở, sinh hoạt thường xuyên. Các chú tiểu c̣n
vừa được học trường đời và
trường đạo (căn cứ vào những quan sát
không thể được xem là toàn diện cho cả
Việt Nam tại một vài chùa ở Huế và trong
tỉnh Biên Ḥa).
- Nhu cầu tôn giáo Việt Nam
được bộc lộ qua các số liệu (do ban
Tư tưởng -Văn hóa trung ương cung cấp và
đăng trên tập chí Giác ngộ, số 10 bộ
mới, tháng 6-1996, tr. 23): Việt Nam có khoảng gần 80%
dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo qua 6
tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Giáo phái
Ḥa Hảo, Hồi giáo. Tín đồ Phật giáo có
khoảng 10 triệu không kể 2 triệu tín đồ Ḥa
Hảo và nhiều triệu người Việt tự xem
ḿnh có nếp sống hợp với giáo điều
Phật dạy.
- Thờ phượng ông bà
cha mẹ quá cố là một bổn phận mà đa số
người Việt dù giàu hay nghèo đều cố tâm làm
tṛn. Theo tài liệu điều tra mẫu của Viện
nghiên cứu đạo giáo năm 1993 th́ tại thành
phố Hồ Chí Minh, 84,3% người không theo đạo
thiên chúa có thờ phượng tổ tiên (nam: 80,5%; nữ:
88%). Ngày Vu Lan báo hiếu là một ngày lể lớn trong
ḷng người Việt. Đô thị hóa cường
điệu làm cho nhà ở lên giá, gia cư hẹp đi,
nghĩa trang xa xôi, nên việc thờ phượng
thường hay nhờ nhà chùa lo liệu. Tro người
thân, di ảnh người thân nương cửa Phật.
Ngôi chùa đi vào ḷng mọi người như thế
mỗi lúc mỗi đậm đà thêm lên.
Cá tính của Phật giáo
miền Nam có được trọn vẹn trên đà
tiến hóa vô biên hiện nay không? Ḷng yêu nước,
giữ nước của một vùng đất mới trong
quá tŕnh lịch sử cận đại đă gắn
liền Phật và đời trong đa số quần
chúng. Tinh thần "uống nước nhớ nguồn''
"tạc dạ ghi ơn'' là một nét sâu đậm
của bản thể cá nhân, th́ những ảnh
hưởng ngoại nhập khó làm mất đi căn
bản và địa phương tánh.
Phật tử Nam bộ
của thế kỷ thứ XXI có bị có bị
"đóng khung'' trong một vùng địa lư hẹp ḥi
chăng? Làm sao thế được khi mà giáo lư nhà
Phật là một giáo lư đại đồng. Tất
cả chúng sanh đều có Phật tính. Mọi
người trong "mười loài'' (thập loại
chúng sinh) rồi th́ cũng sớm muộn ǵ cũng
được trở về "quê'', về ''nhà'', về
ḷng Phật nhiệm mầu. Những kẻ:
"Lang thang làm khách phong trần măi
Ngày vắng xa quê vạn dậm trường''
Trần Thái Tông
chỉ là những
người chưa thức tỉnh thôi. Bốn biển là
nhà, bao la là cửa Phật th́ c̣n ngại ǵ rào dậu.
Từ bi vô lượng, Phật dạy thương người
hơn cả thương thân, ngọn cỏ côn trùng
đều là những thành phần trọng kính của
vũ trụ. Đâu là ta đâu là ngừơi, đâu là quan
trọng, đâu là kém hèn?:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không
Từ Đạo Hạnh
Bài dịch của Phan kế
Bính:
Có th́ có tự mảy may
Không th́ cả thế gian nầy cũng không
Thử xem bóng nguyệt ḍng sông
Ai hay không có có không là ǵ?
Một thắc mắc
cuối cùng là: sự đơn giản hóa, cụ thể
hóa trong quá khứ gần đây có thể tŕ kéo Phật giáo
Nam Việt đi xa với những thắc mắc cao siêu,
với những vấn đề tâm linh, h́nh nhi
thượng không? Thiết tưởng đặt vấn
đề nầy chỉ là một thắc mắc trí
thức thôi. Con đường đi đến giải
đáp cao siêu của thân phận con người của ư
nghĩa cuộc đời, sống làm ǵ? chết về đâu,
là con đường muôn nẻo mà lư luận uyên thâm
chỉ là một thôi. Hành hay luận, hành bằng thân xác hay
bằng trí năo, thân hay tâm, nếu không có "ḷng thành'' th́ c̣n
thiếu mất một cái ǵ căn bản vậy. Nam
Bộ là nơi chung sống của nhiều cộng
đồng trong đó cộng đồng người Khmer
theo Phật giáo Nam tông chiếm một vị trí quan
trọng. Số chùa khmer ở bốn tỉnh đồng
bằng sông Cửu long năm 1994 không nhỏ (Vĩnh Long
12; Cần Thơ: 24; Sóc Trăng: 89; Trà Vinh: 142) (15). Như
thế các nẻo đường lại càng nhiều chi,
làm sao trả lời đơn giản được?
Chú thích
(1) Theo Sơn Nam "Lịch
sử khẩn hoang miền Nam'' Saigon 1973, 24.
(2) Theo Lê Bá Thảo "Thiên
Nhiên Việt Nam'', in lần thứ hai, Hà Nội, 287-288
(3) Nước sông Cửu Long
chảy ngược về Biển Hồ chờ ngày xuôi
lại; hoặc nhờ sự phân lũ qua hệ thống
kinh rạch chằng chịt
(4) Làng người Hoa trung
thành với nhà Minh được gọi là "Minh
Hương xă'' (làng đốt hương tưởng
niệm nhà Minh theo Vương Hồng Sển), làng Minh
Hương đầu tiên được lập tại
Hội An vào khoảng 1645-1650. Trong Nam làn sóng di dân người
Hoa theo đà tăng tầm quan trọng. Nên khi Nguyễn
Hữu Chỉnh vào chia ranh dựng nền hành chánh, ông
đă qui tụ họ vào hai nơi: một ở làng Thanh Hà
dành cho những di dân mới đến (Trấn Biên) và
một ở làng Minh Hương (Phiên Trấn). Dưới
thời Tây Sơn, dân hai làng lại nhập vào một, và
sau đó họ là những thành phần đầu tiên
của thành phố Chợ Lớn. Tuy nhiên với thời
gian danh từ "Minh Hương" không c̣n chỉ
một địa danh nhứt định gắn liền
với một địa bàn địa lư nhứt
định mà là một từ chỉ những người
con lai Hoa-Việt (cha Hoa mẹ Việt), những
người Hoa sinh tại Việt nam, và những
người Hoa mới đến định cư. Xem thêm
Tsai Maw Kuey: Les Chinois au Sud-Viêtnam, Paris 1968 và Nguyễn Thế
Anh: L'immigration Chinoise et la colonisation du Delta du Mékong, in The
Viêtnam review Autumn-Winter 1996 Hoàng Sanh Thông ed. Mekong Printing inc.CA
pp.154-177; Huỳnh Lứa (chủ biên): Lịch sử khai
phá vùng đất Nam bộ, TP HCM, 1987
(5) Cf. E.S. Ungar "The struggle
over the Chineese community in Viêtnam, 1946-1986, Pacific Affairs, 60, 4, (1987-88)
Nguyễn Thế Anh dẫn, như trên, tr. 156
(6) Xem thêm Trần Hồng
Liên: Phật giáo Nam bộ, từ thế kỷ 17
đến 1975, TP Hồ Chí Minh, 1966 và Đạo Phật trong
cộng đồng người Việt ở Nam Bộ-Việt
Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, NXBKHXH, TP HCM, 1995
(7) Xem thêm Thiền học
đời Trần, Viện nghiên cứu Phật giáo TP
Hồ Chí Minh, 1995 Nhiều tác giả: Gs. Minh Chi, HT Thích Thanh
Từ, ...
(8) Xem thêm Quach Thanh Tâm: "
Văn Chiêu hồn ou la compassion transcendée...'' trong Notes sur la
culture et la religion en Péninsule indochinoise, L'Harmattan 1995
(9) Đây là lời thuộc ḷng,
nên không bảo đảm là đúng hẳn
(10) Xem thêm Trần Hồng
Liên: Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ thứ 17
đến 1975, TP HCM, 1996 và Đạo Phật trong cộng
đồng người Việt ở Nam Bộ - Viêt Nam, TP
HCM, 1995
(11) Theo Vương Kim và Đào
Hưng : Đức Phật Thầy Tây An, Long Hoa Saigon 1953
(12) Theo Trần Hồng Liên,
Phật giáo Nam bộ..., 33
(13) Như trên ,61
(14) Chúng tôi cũng không quên các
công tŕnh đóng góp của các bậc Ḥa Thượng, Cư
sĩ khác như Mai Thọ Truyền: Pháp Hoa huyền
nghĩa, 1959; Khánh Anh : Hoa Nghiêm nguyên nhân luận, 1952; Thích
Thanh Từ: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải, 1993;
Thích Thiện Châu: Thiền định và cuộc sống
hôm nay, 1995 .. cùng nhiều công tŕnh khác của các vị trên
hay của nhiều vị khác
(15) Không quên Phật giáo
Bắc Tông của người Hoa. Những chiều
hướng hội nhập việt hóa được quan
sát ở nhiều nơi. Trần Hồng Liên,: Phật giáo
Nam Bộ..., 99-107 và 115
Nguồn: Chim Việt Cành Nam