ĐẠO
H̉A HẢO TRONG LỊCH SỬ
Trần
Gia Phụng
1.
BỐI CẢNH ĐỊA LƯ
Phật
giáo Ḥa Hảo là tông phái Phật giáo do Đức Giáo
chủ Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng ngày 18 tháng 5
năm kỷ măo (4-7-1939), tại làng Ḥa Hảo, quận Tân
Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), gần
biên giới Việt Nam – Cambodia. Do đó, trước khi nói
đến Phật giáo Ḥa Hảo, chúng ta nên t́m hiểu
sơ lược nơi xuất phát đạo Ḥa Hảo.
Châu
Đốc nguyên đất của Chân Lạp (Cambodia). Vào
năm 1757, tại Chân Lạp xảy ra tranh chấp ngôi báu.
Chúa Nguyễn là Vơ Vương Nguyễn Phúc Khóat (cai trị
Đàng Trong 1738-1765) cử Mạc Thiên Tứ, tổng
trấn Hà Tiên, cầm quân qua Chân Lạp, lập Nặc Tôn
lên ngôi vua tức Outey II (trị v́ 1757-1775).
Nặc
Tôn cắt đất Tầm Phong Long tặng chúa Nguyễn
và cắt năm phủ Cần Bột (Kampot), Hương
Úc (Kompong Som), Trực Sâm (miền nam Treang), Sài Mạt (Bentey
Méas) và Linh Quỳnh tặng Mạc Thiên Tứ. Chúa
Nguyễn lấy đất Tầm Phong Long đặt thành
đạo Châu Đốc, nhập vào dinh Long Hồ (vùng
Hậu giang ngày nay), và giao năm phủ cho Mạc Thiên
Tứ sáp nhập vào trấn Hà Tiên.(1) Về sau, vua
Tự Đức (trị v́ 1848-1883) trả năm phủ
nầy lại cho Chân Lạp.(2)
Dưới thời các vua nhà
Nguyễn, Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang. Sau khi sáu
tỉnh Nam Kỳ chính thức bị nhượng cho Pháp
bằng ḥa ước 1874, ngày 5-1-1876, thống đốc
Pháp là Duperré kư nghị định cải tổ hành chánh,
chia Nam Kỳ lục tỉnh thành 4 khu vực hành chánh
(circonscription administrative) là Sài G̣n, Mỹ Tho, Vĩnh Long,
Bassac. Mỗi khu vực hành chánh được chia nhỏ
thành nhiều tiểu khu hành chánh (arrondissement administratif).
Bassac là vùng phía nam sông Hậu, được chia thành các
tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà
Ôn và Sóc Trăng.(3) Tiểu khu Châu Đốc tức
tỉnh Châu Đốc sau nầy, là nơi có làng Ḥa Hảo
quận Tân Châu.
Như
thế, có thể nói vùng Ḥa Hảo, Tân Châu, Châu Đốc
là vùng đất nhập Việt tịch trễ nhất
trong lịch sử Việt Nam, vào năm 1757 và chỉ
hơn một trăm năm sau th́ bị Pháp xâm chiếm.
2. PHẬT GIÁO TỨ ÂN
Người Việt trước
đây vốn theo tam giáo Phật, Nho, Lăo. Trong ba đạo
giáo trên, lúc đầu, Phật giáo phát triển mạnh
dưới thời nhà Lư (1010-1225), nhà Trần (1226-1400). Qua
thời nhà Lê (1428-1789), do ảnh hưởng từ khi Minh
thuộc (1407-1428), Nho giáo càng ngày càng thịnh hành.
Vào
thế kỷ 17, nước ta xảy ra nội chiến
giữa hai họ Trịnh Nguyễn. Chúa Trịnh
mượn cớ tôn pḥ vua Lê, hùng cứ đất
Bắc. Chúa Nguyễn muốn tách ra tự lập ở
phương Nam, chống lại chúa Trịnh và ở vào
thế chống lại vua Lê.
Trong giai
đọan chống lại vua Lê, chúa Nguyễn không thể
nói chuyện “trung quân”, và đề cao Nho giáo. Nho giáo là
một triết thuyết chính trị hậu thuẫn
mạnh mẽ cho chế độ quân chủ. Để
tạm thời thay thế Nho giáo, các chúa Nguyễn phát
triển Phật giáo, dùng Phật giáo làm nền tảng
tư tưởng và tinh thần, để có thể
tập hợp quần chúng. Các chúa Nguyễn cho xây dựng
chùa chiền khắp nơi, mời cả tăng sĩ
Trung Hoa sang giảng đạo.
Lúc
đó, ở miền Nam, di dân mới bắt đầu khai
canh, khẩn hoang, mở ruộng, lập vườn.
Mọi nỗ lực tập trung vào việc sản
xuất nông phẩm, xây dựng nông nghiệp. Làng mạc
mới được tổ chức, chưa có chùa chiền,
chưa có tăng lữ, chưa có thầy dạy chữ.
Trong khi đó, nhu cầu tâm linh của di dân rất khẩn
thiết và rất quan trọng trong cuộc sống
mới. Di dân cần một điểm tựa tinh thần
để vững tin trên bước đường
mạo hiểm, khai phá.
Đáp
ứng nhu cầu nầy, năm 1851, Đoàn Minh Huyên (1807-1856) dựa trên nền
tảng giáo lư nhà Phật, đă khai sáng một tông phái
Phật giáo mới là Bửu Sơn Kỳ Hương (Núi
quư hương kỳ diệu), c̣n được gọi là
đạo Lành, tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An
Giang. Ông chủ trương bài trừ mê tín dị đoan,
giản dị hóa nghi thức Phật giáo cho phù hợp
với đời sống nông dân, không có tăng sĩ, không
cất chùa mà tổ chức khẩn hoang, lập trại
cho nông dân vừa sản xuất vừa tu học. Về tu
nhân, Đoàn Minh Huyên
khuyến khích dân chúng luôn luôn đền đáp “tứ
đại trọng ân” (bốn ân lớn) là; ÂN TỔ TIÊN
CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO (trong
đạo Phật), ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LỌAI.
Điều đáng chú ư là ngoài “tứ đại trọng
ân”, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không có giáo
lư ǵ khác được đưa ra, và căn bản
vẫn là cách tu tập theo Phật giáo cổ truyền.
Lúc
bấy giờ, các quan chức địa phương nghi
ngờ Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, nên
chuyển ông về chùa Tây An trên núi Sam (cũng ở An Giang)
để dễ kiểm soát. Có thể v́ vậy, dân chúng
gọi ông là Phật thầy Tây An.(4) Sự nghi
ngờ của các quan chức nhà Nguyễn chứng tỏ
Phật thầy Tây An đă được khá đông
quần chúng tin theo, nên các quan chức lo ngại ông làm
lọan.
Thông
thường, các tổ chức thế quyền của các
tôn giáo liên kết với các thế lực cầm quyền
để phát triển. Các nhà cầm quyền cũng thích
liên kết với các tổ chức thế quyền
của tôn giáo để củng cố và bảo vệ
quyền lực. Ngay như Phật giáo Việt Nam
trước đây, được các triều đại
Lư Trần hỗ trợ, và ngược lại các tăng
lữ Phật giáo ủng hộ hai triều đại Lư,
Trần.
Điểm
đặc biệt của Phật giáo Tứ Ân là xuất
phát từ dân chúng, chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh
và đời sống của dân chúng, không có hệ thống
giáo quyền, không dựa vào chính quyền, và không phục
vụ chính quyền. Nhu cầu đời sống của
dân chúng lúc đó là tổ chức canh tác, khai khẩn
đất hoang, sản xuất nông nghiệp.
Phật
thầy Đoàn Minh Huyên từ trần năm 1856 tại
chùa Tây An. Lúc bấy giờ, tại miền Nam, xuất
hiện nhiều vị sư theo khuynh hướng Bửu
Sơn Kỳ Hương như Phật Trùm mà không ai
biết tên, Đức Bổn sư Ngô Văn Lợi (hành
đạo khoảng 1870-1890), Sư Vải Bán Khoai (hành
đạo khỏang 1901-1902) và Nguyễn Đa (gốc B́nh
Định, hành đạo cuối thế kỷ 19).(5)
Phật
thầy Tây An có 12 đại đệ tử gọi là Thập
nhị hiền thủ, trong đó nổi tiếng nhất
là Trần Văn Thành và Nguyễn Văn Thới. Trần
Văn Thành, thường được gọi là Cố
Quản, giữ chức chánh quản cơ, khởi
nghĩa chống Pháp ở Láng Linh (An Giang) cuối năm
1872, nhưng bị thất bại và mất tích năm 1873.
Nguyễn Văn Thới (1866-1927), thường
được gọi là Ba Thới, tác giả bộ Kim
cổ kỳ quan, là một tác phẩm chú giải và khai
triển giáo lư tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Giai
đọan Ba Thới và bộ Kim cổ kỳ quan có
thể xem là thời kỳ chuyển tiếp từ
Phật giáo Tứ Ân sang một tông phái mới là Phật
giáo Ḥa Hảo.
3.
PHẬT GIÁO H̉A HẢO
Phật
giáo Ḥa Hảo (PGHH) do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ
thành lập tại làng Ḥa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh
Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), ngày 18 tháng 5 năm
kỷ măo (4-7-1939). Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920), là con trai
đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị
Nhậm, một gia đ́nh nông dân trung lưu.
Tiếp
nối Phật giáo Tứ Ân, đạo Ḥa Hảo chủ
trương cải cách đạo Phật theo đúng
với đời sống thực tế của nông dân,
không thiết lập giai cấp tăng lữ, không tổ
chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản, không chú
trọng đến h́nh thức, không làm chùa nguy nga, không tạc
tượng, đúc chuông, không đốt vàng mă, khuyến
khích các nghi lễ giản dị trong việc thờ
phụng, cưới xin, tang lễ.
Sự nghiệp truyền giáo
của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ có thể chia
thành hai giai đọan:
- Giai đọan thứ
nhất
(1939-1942):
Từ
khi khai đạo, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ
vừa thuyết pháp, vừa sáng tác nhiều kệ
giảng, dựa trên giáo lư nhà Phật, khuyên người
gắng sức tu hành để thoát những tai ương
do thời cuộc đưa đến. Những kệ
giảng của Đức thầy thuần túy bằng
tiếng Việt, rất giản dị, lại có vần
điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ
và dễ lập lại hằng ngày trong cuộc sống,
nên rất dễ phổ biến. Trong giai đọan
nầy Đức thầy đă sáng tác năm sách kệ
giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.
Phật
giáo Ḥa Hảo càng ngày càng phát triển, khiến
người Pháp lo ngại. Ngày 18- 5-1940, tức khoảng
một năm sau ngày khai đạo, Pháp giải Đức
thầy Huỳnh Phú Sổ từ làng Ḥa Hảo về Châu
Đốc để điều tra. Sau đó, Pháp đưa
ông về Sa Đéc, rồi về làng Nhơn Nghĩa,
rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ, quản thúc từ ngày
23-5-1940. Nhiều tín đồ Ḥa Hảo được
tin, liền t́m đến thăm. V́ vậy, sau ba tháng
ở Cần Thơ, người Pháp đưa ông lên Sài
G̣n, an trí tại nhà thương điên Chợ Quán.(6)
Ngày 5-6-1941, người Pháp lại dời Huỳnh giáo
chủ về Bạc Liêu. Do sự can thiệp của quân
đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được
thả và được đưa về sống ở Sài
G̣n từ tháng 10-1942.
- Giai đọan thứ
hai (1942-1947):
Do hoàn
cảnh chính trị, từ năm 1942 Đức thầy
Huỳnh Phú Sổ bắt đầu tiếp xúc với các
nhân vật chính trị Nam phần, và bắt đầu
dấn thân vào con đường họat động chính
trị. Năm 1944, Huỳnh Phú Sổ thành lập Bảo An
Đoàn PGHH tại một số tỉnh miền Tây.Vào
đầu năm 1945, về mặt đạo, ông tiến
hành thành lập ban trị sự tỉnh hội PGHH. Đức
thầy cho xuất bản sách Cách tu hiền và sự ăn
ở của một người bổn đạo
bằng văn xuôi, lưu loát, minh giải về “tứ ân,
tam nghiệp, thập ác, bát chánh” trong đạo Phật, và
giảng về nghi thức thờ phụng, cúng lạy,
tang lễ, hôn nhân…
Cũng
trong năm 1945, về phương diện chính trị,
Huỳnh giáo chủ lập Việt Nam Vận Động
Hội để tranh đấu đ̣i độc lập
và thống nhất cho xứ sở. Từ đây, có thể
nói Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tham gia tích cực
vào cuộc vận động cho nền tự do dân
chủ của đất nước. Khuynh hướng
nầy được Đức thầy bày tỏ trong
bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ
thất ngôn liên hoàn, sáng tác năm 1946 như sau:
“Thấy dân thấy nước
nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,
Đuổi bọn xâm lăng, ǵn đất nước,
Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”(7)
4.-
ĐẠO H̉A HẢO BỊ VIỆT MINH ĐÀN ÁP
T́nh h́nh Việt Nam và thế
giới biến chuyển nhanh chóng do việc Hoa Kỳ
thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Nhật
Bản là Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngày 9-8-1945. Nhật
hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô
điều kiện ngày 14-8-1945, th́ cũng trong ngày nầy,
tại Sài G̣n, Huỳnh Phú Sổ cùng các lănh tụ
đảng phái dân tộc thành lập Mặt Trận
Quốc Gia Việt Nam Thống Nhất (MTQGVNTN). Mặt
trận nầy kết hợp Việt Nam Vận
Động Hội (Ḥa Hảo), Cao Đài, Tịnh
Độ Cư Sĩ, Liên Đoàn Công Chức, Thanh Niên Tiền
Phong và nhóm trí thức. Việt Minh không tham gia mặt
trận nầy.
Ngày 21-8-1945, MTQGVNTN tổ chức
cuộc mít tinh khổng lồ tại Sài G̣n, có thể lên
tới khoảng 200,000 người tham dự, kêu gọi
dân chúng đoàn kết, hy sinh tranh đấu cho nền
độc lập của đất nước. Tuy có công
khơi động phong trào yêu nước lên cao độ,
nhưng MTQGVNTN không mạnh dạn nắm lấy chính
quyền, để cho Mặt trận VM nhanh tay tổ
chức biểu t́nh, cướp chính quyền như ngoài Hà
Nội. Ngày 25-8-1945, Trần Văn Giàu, thuộc VM tuyên
bố thành lập Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời (Lâm
ủy Hành chánh).
Trước đó, tại Âu Châu,
Đức đầu hàng ngày 7-5-1945. Đại diện
Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp thượng đỉnh
tại Potsdam, gần Berlin, quyết định về
tương lai nước Đức. Bên cạnh đó,
ngày 26-7-1945, cũng từ Potsdam, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa cùng
gởi cho Nhật một tối hậu thư, buộc
Nhật đầu hàng vô điều kiện. Về
vấn đề Đông Dương, tối hậu thư
quyết định rằng quân đội Nhật sẽ
bị giải giới ở Bắc vĩ tuyến 16
bởi quân đội Trung Hoa, và ở nam vĩ tuyến 16
bởi quân đội Anh, và không nói ǵ đến việc ai
sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật
về nước.
Pháp liền nhân cơ hội
nầy, theo quân Anh trở lại Đông Dương. Khi
đại tá Cédile nhảy dù xuống Tây Ninh ngày 22-8-1945, th́
5 ngày sau, tức ngày 27-8-1945, Trần Văn Giàu gặp Cédile
để thương thuyết.
Tức
th́, Lâm uỷ Hành chánh của VM bị phản đối
mạnh mẽ. Việt Minh liền họp cùng MTQGVNTN ngày
4-9-1945 tại trường Mỹ Nghệ Gia Định
(gần bệnh viện Nguyễn Văn Học),
dưới sự chủ tọa của Đức
Huỳnh Phú Sổ, đồng ư cải tổ Lâm uỷ Hành
chánh. Cuộc cải tổ nầy được thông qua
trong cuộc họp đêm 7-9-1945 tại trụ sở
Tổng công đoàn đường De la Grandière
(đường Gia Long), theo đó Phạm Văn Bạch
làm chủ tịch Lâm uỷ Hành chánh, Trần Văn Giàu làm
phó chủ tịch kiêm uỷ trưởng quân sự.
Huỳnh Phú Sổ được mời làm cố vấn
trong Lâm uỷ Hành chánh.
Chỉ
hai ngày sau (9-9), Trần Văn Giàu tung người bao vây
bắt Huỳnh Phú Sổ tại văn pḥng, nhưng ông thoát
được. Việt Minh t́m bắt giết những nhân
vật quan trọng của Ḥa Hảo như Huỳnh
Thạnh Mậu (em ruột Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn
Xuân Thiếp, Trần Ngọc Hoành tại Cần Thơ;
Chung Bá Khánh, Đỗ Thiều, Vơ Văn Thời tại Trà
Vinh, Vĩnh B́nh; đồng thời VM ra lệnh giải tán
MTQGVNTN, và bắt các lănh tụ của mặt trận
nầy.
Trong khi
đó, với sự giúp đỡ của Anh, Pháp
đưa quân vào Sài G̣n, dần dần tái chiếm toàn
bộ Nam Kỳ. Ngày 5-2-1946, tướng Leclerc tuyên bố
tại Sài G̣n rằng Pháp đă hoàn tất việc b́nh
định Nam Kỳ và nam Trung Kỳ. Ngày 5-3-1946, quân lính
Anh chính thức chấm dứt nhiệm vụ và rút ra
khỏi Việt Nam.(8)
Giáo
chủ Huỳnh Phú Sổ vẫn tiếp tục hoạt
động chống Pháp. Ngày 21- 9-1946, ông chính thức thành
lập Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng, gọi
tắt là Dân Xă Đảng, được đồng bào
miền Tây hưởng ứng mạnh mẽ. Tuyên ngôn
của Dân Xă Đảng do Huỳnh Phú Sổ công bố,
nhấn mạnh: "Việt Nam Dân Xă Đảng là một
đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi
triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ
nghĩa dân chủ: "chủ quyền ở nơi toàn
thể nhân dân". Đảng Dân Xă chủ trương
"toàn dân chánh trị, thế tất đảng chống
độc tài bất cứ h́nh thức nào."(9). Một
lần nữa, Việt Minh lại mời Huỳnh Phú
Sổ hợp tác. Tuy bề ngoài tỏ ra đoàn kết,
nhưng từ tháng 12-1946, nghĩa là từ khi bùng nổ
cuộc chiến tranh với Pháp, VM đưa ra ba mật
lệnh cho nhân viên, bằng tất cả các cách, triệt
hạ uy tín Đức Huỳnh Phú Sổ, phá vỡ tổ
chức Dân Xă Đảng, và thủ tiêu các lănh tụ
của đảng nầy.(10)
Những
cuộc xô xát giữa Dân Xă Đảng và VM càng ngày càng
trầm trọng. Ngày 16-4-1947, Bửu Vinh, chi đội
trưởng Vệ Quốc Quân, và Trần Văn Nguyên,
thanh tra chính trị miền Tây, mời Đức Hùynh Phú
Sổ đến họp để giải quyết các
cuộc xung đột giữa lực lượng hai bên
tại Sa Đéc. Nhân đó, đoàn của Đức
Huỳnh Phú Sổ bị tấn công tại kênh Đốc
Vàng Hạ (thôn Tân Phú, Kiến Phong). Việt Minh đem ông
đi mất tích.(11) Tín đồ Ḥa Hảo tin rằng ông
chưa chết, nhưng cho đến nay (2007), 68 năm sau
biến cố kênh Đốc Vàng Hạ, chưa có tin
tức ǵ cụ thể về việc ông c̣n sống.
Ban
Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo
trước 1975
Sau khi
Đức thầy Huỳnh Phú Sổ mất tích,
Đức ông Huỳnh Công Bộ, phụ thân của
Đức thầy, đứng ra lănh đạo PGHH cả
về mặt đạo, lẫn mặt đời.
Lực lượng Ḥa Hảo lúc đó vừa chống
Pháp, vừa chống VM. Tuy nhiên, cũng có khi quân Ḥa Hảo
bắt tay với Pháp chống VM. Ở miền Tây, lực
lượng Ḥa Hảo do 4 nhân vật chính chỉ huy là: 1)
Trần Văn Soái (Năm Lửa) ở Cái Vồn, Cần
Thơ và Vĩnh Long. 2) Nguyễn Giác Ngộ ở Chợ
Mới, An Giang. 3) Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ở An Giang, và
Cần Thơ. 4) Lâm Thành Nguyên ở Châu Đốc và Hà
Tiên.(12)
5.-
ĐẠO H̉A HẢO TỪ 1954 ĐẾN 1975
Chiến
tranh chấm dứt năm 1954. Theo Hiệp định
Genève (20-7-1954) nước Việt Nam bị chia hai ở
sông Bến Hải, ngang qua vĩ tuyến 17. Hồ Chí Minh
và đảng Lao Động tức đảng CSVN, cai trị
phía bắc, chính phủ Quốc gia dưới quyền
Quốc trưởng Bảo Đại ở phía nam.
Lúc
đầu các thế lực Ḥa Hảo ủng hộ và tham
gia chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cải tổ ngày 24-9-1954,
như các ông Trần Văn Soái (quốc vụ khanh, ủy
viên Quốc pḥng), Lương Trọng Tường
(tổng trưởng Kinh tế), Nguyễn Công Hầu
(tổng trưởng Canh nông).(12). Dần dần, chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm muốn tập trung quyền
lực vào trung ương, quy tập các lực
lượng chính trị và giáo phái vào tay chính phủ. Ngày
27-1-1955, thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm ban hành
nghị định số 41-NV, cấm Việt Nam Dân
Chủ Xă Hội Đảng (Dân Xă Đảng) của PGHH,
không được hoạt động.(13) Có thể v́
chính sách tập trung quyền lực về trung ương
của chính phủ, hai tháng sau, các nhân vật Ḥa Hảo
trong nội các Ngô Đ́nh Diệm từ chức ngày
30-3-1955.(14) Từ đó, rạn nứt giữa chính phủ
Diệm và các giáo phái càng ngày càng trầm trọng.
Chính
phủ Diệm mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do
đại tá Dương Văn Đức chỉ huy
từ 5-6-1955 đến 29-12-1955, b́nh định miền
Tây. Chính phủ đặt các tướng Ḥa Hảo là
Trần Văn Soái (Năm Lửa) và Lê Quang Vinh (Ba Cụt)
ra ngoài ṿng pháp luật, tiến đánh căn cứ đóng
quân của các tướng nầy từ Cần Thơ
xuống tới Châu Đốc.
Sau
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng là chiến dịch
Nguyễn Huệ từ ngày 1-1-1956, tiếp tục b́nh
định miền Tây, do thiếu tướng Dương
Văn Minh chỉ huy. Ngày 2-3-1956, tướng Trần
Văn Soái tuyên bố trở về hợp tác với chính
phủ Diệm. Ngày 13-4-1956, tướng Lê Quang Vinh (Ba
Cụt) bị bắt ở Chắc Cà Dao, gần Long Xuyên.
Ngày 11-6-1956, Ṭa Đại h́nh Cần Thơ tuyên án tử
h́nh tướng Lê Quang Vinh. Ngày 4-7-1956, Ṭa án Quân sự nhóm
ở Cần Thơ, tuyên án tử h́nh tướng Lê Quang
Vinh một lần nữa. Ông bị hành quyết sáng ngày
13-7-1956 tại nghĩa địa Cần Thơ.(14)
Thủ
tướng Ngô Đ́nh Diệm đă thành công trong việc
tập trung quyền lực vào tay chính phủ, tiêu diệt
các giáo phái, nhưng cũng chính v́ vậy, chính phủ đă
phá hủy mạng lưới các cơ sở chống
cộng hạ tầng của PGHH, mà chính phủ không
thể thay thế được, tạo cơ hội cho
cộng sản xâm nhập vùng nông thôn miền Tây.
Ngày
1-11-1963, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị đảo
chánh. Thật lạ lùng, người đảo chánh ông
Diệm chính là người đă vâng lệnh ông Diệm
đánh phá Phật giáo Ḥa Hảo năm 1956, tướng
Dương Văn Minh. Từ năm 1964, Phật giáo Ḥa
Hảo tái phục hồi hoạt động, bầu
lại Hội đồng Trị sự Trung ương và
các ban Trị sự địa phương các tỉnh. Tuy
nhiên, t́nh h́nh thay đổi sau ngày 30-4-1975.
6.-
ĐẠO H̉A HẢO BỊ ĐÀN ÁP SAU BIẾN CỐ
30-4-1975
Từ
sau ngày 30-4-1975, khi cộng sản cầm quyền, Hội
đồng Trung ương và các ban Trị sự
địa phương PGHH bị giải tán và cấm
hoạt động. Tổ đ́nh PGHH bị cô lập.
Chẳng những đàn áp, Cộng Sản Việt Nam (CSVN)
c̣n bắt giết hay giam cầm dài hạn những nhà lănh
đạo PGHH.
Trước
sự phản đối của dư luận ở trong
cũng như ngoài nước, năm 1999, Liên Hiệp
Quốc gởi một phái đoàn đến điều
tra về t́nh h́nh tôn giáo tại Việt Nam. Lúc đó, nhà
nước CSVN mới lập Ban Đại diện
(chứ không phải ban Trị sự) PGHH ngày 25-6-1999. Quy
chế mới của Ban Đại diện quốc doanh
PGHH hủy bỏ đạo kỳ màu dà, rút gọn sấm
giảng của Đức thầy, hủy bỏ
Đại lễ tưởng niệm Đức thầy
hằng năm…(15) Ban Đại diện “quốc doanh”
nầy do Nguyễn Văn Tôn, tức Mười Tôn làm
trưởng ban.(16)
Khi ban
Đại diện quốc doanh PGHH do Mười Tôn
đứng đầu được thành lập, ông Lê
Quang Liêm, nguyên là Trưởng ban Trị sự Trung
ương PGHH cuối cùng trước năm 1975, mới
hoạt động trở lại dưới danh hiệu
PGHH THUẦN TÚY (PGHHTT). Dầu không được nhà
nước CS chấp nhận, nhưng PGHHTT
được nông dân hưởng ứng và tin theo đông
đảo. Nhà nước CS liền ra lệnh quản
chế ông Lê Quang Liêm từ tháng 3-2003, cho đến tháng
8-2004 mới chấm dứt.
Nhà
nước CSVN tiếp tục đàn áp việc hành
đạo và bắt bớ tín đồ PGHH, đến
nỗi ngày 5-8-2005, hai tín đồ PGHH tự thiêu ở An
Giang. Người thứ nhất là ông Vơ Văn Bửu
tại xă Mỹ An, quận Chợ Mới, và người
thứ hai là ông Trần Văn Út tại bắc Vàm Cống
quận Châu Thành.
Tin
mới nhất, ngày 6-6-2007, do ông Nguyễn Văn Cội,
phát ngôn viên khối PGHHTT cung cấp cho đài Á Châu Tự
Do, nhà nước CSVN hiện đang giam giữ 14 chức
sắc và tín đồ thuộc Giáo HPGHHTT, và kêu án từ 4
năm đến chung thân khổ sai, v́ tranh đấu
đ̣i hỏi tự do tôn giáo.(17)
Nói chung,
chế độ CSVN đàn áp PGHH có thể v́ các lư do chính
sau đây:
-
Thứ nhất, CSVN rất lo sợ các đ̣an thể hay
các tôn giáo có tổ chức quần chúng. Tuy không tổ
chức hệ thống giáo hội, nhưng “tín đồ
Ḥa Hảo là quần chúng có tổ chức”,(18) và tổ
chức khá chặt chẽ, nên CSVN rất lo sợ và
đề pḥng PGHH.
- Thứ hai, có thể nói, trong
suốt thời gian chiến tranh vừa qua, CSVN khó thâm
nhập vào những khu vực có tín đồ PGHH. Những
làng Ḥa Hảo là những làng thanh b́nh nhất tại
miền Nam. V́ vậy, CSVN trả thù PGHH đă gây trở
ngại họat động của CSVN từ 1945
đến 1975.
-
Thứ ba, do việc Đức thầy Huỳnh Phú Sổ
bị CSVN hăm hại, CSVN biết rằng PGHH không phục
ṭng CSVN.
- Thứ
tư, đa số tín đồ của PGHH là nông dân.
Cộng sản Việt Nam theo chủ trương của
Mao Trạch Đông, lấy nông thôn bao vây thành thị, và xem
nông dân là thành phần ṇng cốt của cuộc cách
mạng. Thế mà nông dân miền Tây tin tưởng vào PGHH
hơn là tin tưởng CSVN. Đối với CSVN, đó
là một “tội lỗi” to lớn của PGHH, mà CSVN không
thể dung thứ được.
- Thứ
năm, trước việc CSVN đàn áp PGHH, các tín
đồ PGHH, với truyền thống bất khuất,
đă đứng lên tranh đấu đ̣i TỰ DO TÍN
NGƯỠNG, tức đ̣i NHÂN QUYỀN và DÂN QUYỀN, là
điều mà CSVN rất cấm kỵ.
- Cuối cùng, các tôn giáo khác
như Phật giáo, Ky-Tô giáo La-Mă, các tông phái Tin Lành, có
thế quốc tế, nên CSVN có phần dè dặt khi
đụng chạm, có thể bị dân chúng các nước
trên thế giới phản đối, gây ảnh
hưởng xấu đến ngoại giao hay ngoại
thương. Trái lại, PGHH là một tôn giáo thuần túy
Việt Nam, không có thế quốc tế. Ngoại trừ
những vi phạm nhân quyền trầm trọng, ít ai can
thiệp giúp PGHH V́ vậy, CSVN dễ mạnh tay với PGHH
mà ít sợ phản ứng quốc tế.
Đó là
những lư do chính khiến CSVN đàn áp không nương tay
những sinh họat của PGHH hiện nay ở trong
nước.
KẾT
LUẬN
Nói chung,
Phật giáo Tứ Ân và PGHH xuất hiện đúng lúc theo
nhu cầu tâm linh của nông dân miền Tây nam Việt Nam, và
là tôn giáo gắn liền với lịch sử dân tộc.
Đạo Phật đă được giản dị hóa,
phù hợp với tâm thức và đời sống của
nông dân, nên được nông dân tin theo rất đông. Có
thể nói, Đức Phật Thầy Tây An và Đức
thầy Huỳnh Phú Sổ là những vị tổng tuyên úy
Phật giáo của nông dân Nam Kỳ.
Điều
lạ lùng nhất là PGHH không có chùa, không có giáo hội, không
có tăng sĩ, không nghi lễ xa hoa, và PGHH chỉ có
những ban trị sự để tín đồ tự quản
lư với nhau, chỉ có những câu kinh tiếng kệ
đơn giản, phổ thông, không tiếng Phạn, hoàn
toàn bằng tiếng Việt. Thế mà PGHH đă đưa
cả một hệ thống triết lư cao siêu là
đạo Phật, đến tận từng cá nhân,
từng gia đ́nh, từng mái nhà, và trở thành kim chỉ
nam hướng dẫn đời sống tâm linh cũng
như đời sống xă hội cho cả một
khối dân khổng lồ hàng triệu nông dân miền Tây,
để mọi người cùng sống đạo,
sống lương thiện, hài ḥa với mọi
người, cùng thực hành đạo pháp ngay trong
đời thường.
Hiện
nay, ai cũng đồng ư rằng dưới sự cai
trị của chế độ CS, t́nh trạng văn hóa,
luân lư, đạo đức của xă hội Việt Nam
chúng ta đang suy thoái trầm trọng. Trong tiến tŕnh dân
chủ hóa ṭan cầu, chắc chắn chế độ CS
không thể tồn tại lâu dài. Sẽ đến lúc
tự do dân chủ trở lại trên quê hương
Việt Nam. Khi đó, chắc chắn PGHH sẽ đóng
một vai tṛ quan trọng trong việc phục hưng
nền văn hóa, luân lư và đạo đức cổ
truyền của dân tộc.
TRẦN
GIA PHỤNG
(Tŕnh
bày trong LỄ KỶ NIỆM LẦN THỨ 68 - NGÀY KHAI
ĐẠO PHẬT GIÁO H̉A HẢO tại Toronto, 24-6-2007)
CHÚ
THÍCH
(1)
Quốc sử quán nhà Nguyễn,
Đại Nam thực lục tiền biên, quyển X,
bản dịch tập 1, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr.
166.
(2)
Phan
Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, quyển hạ,
Houston: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 446.
Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire
d’Annam, Saigon: 1906, tr. 338.
(3)
Huỳnh Ngọc Trảng chủ
biên, Sổ tay hành hương Đất phương Nam,
Nxb. TpHCM, 2002, tr. 389.
(4)
Cũng theo tác giả sách nầy,
danh xưng Tây An có thể bắt nguồn từ sắc
chỉ của vua Thiệu Trị ban cho Doăn Uẩn là “An Tây
mưu lược tướng quân”, v́ ông đă có công b́nh
định miền Tây.
(5)
Các
tài liệu viết về Phật thầy Đoàn Minh Huyên
và các vị trong tông phái nầy, dựa trên tài liệu
của: http://hoahao.org/default.asp?catid=21&nid=7530
(6)
Tại miền Nam, có câu ca dao: “Bao
giờ Chợ Lớn hết vôi / Tàu Tây hết chạy, th́
tôi hết khùng.” Có thể câu ca dao nầy nhắm chỉ
Huỳnh giáo chủ v́ ông đă từng viết quyển
Kệ dân của người khùng dài 476 câu, xuất bản
lần đầu năm 1939, và nay Đức Huỳnh giáo
chủ bị Pháp (Tây) bắt an trí ở nhà thương
điên Chợ Quán, gần Chợ Lớn.
(7)
Ngoài địa chỉ Internet trên
đây, tài liệu viết về Đức thầy
Huỳnh Phú Sổ c̣n theo sách: Sấm giảng thi văn ṭan
bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, do Ban Trị
sự Trung ương Phật giáo Ḥa Hảo Hải
ngọai ấn hành, Houston: 2004
(8)
8. Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam
de 1940 à 1952, Paris: Editions Du Seuil, 1952, tr. 176.
(9)
Ban Trị sự Trung ương
Phật giáo Ḥa Hảo Hải ngọai, sđd. tr. 533.
(10)
Lữ Giang, Những bí ẩn
đàng sau cuộc chiến Việt Nam, quyển 1, tái
bản lần thứ nhất, California: 1999, tr. 366. Mật
lệnh lần thứ nhất ngày 26-12-1946 của Kiều
Tấn Lập, giám đốc Sở chính trị thuộc
Nha công an; mật lệnh thứ hai của Phạm Hùng, ngày
30-1-1947, xứ ủy Nam Bộ; mật lệnh thứ ba của
Nguyễn Văn Tây, thanh tra chính trị miền Tây Nam
Bộ.
(11)
. Tài
liệu theo: http://hoahao.org/default.asp?catid=21&nid=7530
(trích ngày 12-6-2007).
(12)
. Đoàn
Thêm, 1945-1964, Việc từng ngày, Hai mươi năm qua,
California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tt.
156-157.
(13)
.
Trần Nguơn Phiêu, Những ngày qua, bút kư, Texas: Nxb.
Hải Mă, 2005, tr. 101.
(14)
Đoàn
Thêm, sđd. tt. 167, 199.
(15)
Trần
Nguơn Phiêu, sđd. tr. 102.
(16)
Theo
nguồn tin của một người quê Long Xuyên, hiện
sinh sống tại Toronto. Cũng theo nguồn tin nầy,
trước năm 1975, Mười Tôn nguyên là một tín
đồ Ḥa Hảo, v́ tranh chấp đất đai, gây
ra án mạng, nên bỏ theo CS để tránh tù tội.
Năm 1975, Mười Tôn là Tỉnh đội
trưởng tỉnh đội Long Châu Hà. Long Châu Hà là
một tỉnh ghép khi CSVN mới cầm quyền sau 1975,
gồm Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Về sau, chia
lại tỉnh th́ Long Xuyên-Châu Đốc đổi thành An
Giang, Hà Tiên đổi thành Kiên Giang.
(17)
Theo
các bản tin của đài Á Châu Tự Do (RFA) trong các ngày
liên hệ
(18)
.Trần Nguơn Phiêu, sđd. tr.
67 http://www.viet.no/content/view/1440/87/