PHẬT GIÁO HÒA HẢO
VÀ
NÔNG DÂN MIỀN NAM
BS
Trần
Nguơn Phiêu
Kể
từ ngày Lễ Kỷ Niệm 60 năm Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo, không khí sinh hoạt của
nền đạo lý Hòa Hảo bỗng nổi lên ào ạt ở khắp các miền đồng bằng sông Cửu Long,
như vào thuởû những ngày trước tháng Tư năm 1975. Sau khi cưỡng chiếm được miền
Nam, những người trong tập đoàn Cộng sản Đệ tam đã có chủ trương sẽ dẹp tan Phật
Giáo Hòa Hảo trong vòng 15 năm. Hơn 40 năm về trước, khi lấy quyết định ám hại
Đức Thầy, họ cũng có chủ trương như vậy nhưng đã mang lấy thất bại trong âm mưu
này. Sau ngày toàn thắng nắm lấy vận mạng cả nước, với toàn quyền sinh sát trong
tay, họ tin chắc sẽ thành công phen này, nhưng rồi cuối cùng họ vẫn thấy dân
chúng nông thôn Nam bộ vẫn kiên trì âm thầm nuôi giữ niềm tin vào giáo lý đã
được Đức Thầy rao giảng từ 50 năm trước. Chúng ta hảy thử tìm hiểu vì sao Phật
Giáo Hòa Hảo đã có cơ hội phát triển thâm sâu trong vùng đất phì nhiêu này của
đất nước Việt Nam, nhất là trong những lúc gần đây, mặc dầu bị bao vây, đàn áp,
có khi nguy hiểm đến tính mạng, các tín đồ Hòa Hảo vẫn bạo dạn tổ chức các lễ
truyền thống của giáo phái.
Những bậc trí thức phần đông ít chú trọng đến hiện tượng Phật Giáo Hòa Hảo ở
miền Nam, nhất là các trí thức miền Bắc. Người viết bài đã có rất nhiều bạn bè
thân thích di cư vào Nam sau ngày phân chia đất nước năm 1954. Phần lớn đều thú
thật : khi vào miền nam, họ cứ tưởng Hòa Hào là những nông dân cường khấu,
chuyên ăn gan uống mật kẻ thù, như Cộng sản vẫn tuyên truyền trong bao năm ở Bắc
.
Việc này thật ra không có gì đáng trách vì trong tình thế nhiễu nhương thời
Kháng chiến, cũng như sau này dưới thời Đệ nhứt Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình
Diệm, một người theo Thiên Chúa giáo, việc tìm hiểu giáo lý PGHH không được cơ
hội khai triển.
Trong khi đó, ngay cả những người theo tín ngưỡng Phật giáo truyền thống, khi có
được cơ hội tìm hiểu giáo lý do Đức Thầy rao giảng cho dân chúng Nam bộ, đã
thường phải giật mình chợt hiểu vì sao một Giáo chủ trẻ tuy chỉ thọ có 27 tuổi,
thời gian khai sáng đạo và hoạt động ngắn ngủi trong vòng 7 năm, lại có thể gây
được những ảnh hưởng sâu đậm, bền vững cho bao thế hệ về sau.
Vào thuở khởi đầu, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã được biết tiếng như người có khả
năng huyền bí chữa trị được nhiều bịnh tật. Thời gian này chỉ kéo dài vào khoảng
hai năm. Sau đó thực dân Pháp đã tìm các biện pháp cách ly Đức Thầy với dân
chúng, quản thúc Thầy ở các vùng Cần Thơ, Sa Đéc, Sóc Trăng, Bạc Liêu...và cuối
cùng bắt nhốt vào Bịnh viện Tâm trí Chợ Quán ! Trong thời gian này, Đức Thầy vẫn
tìm cơ hội giao truyền giáo lý, nhất là viết các Sấm Giảng để phổ biến trong dân
chúng.
Khi đề cập đến một tôn giáo, có hai vấn đề chánh cần tìm hiểu : phần giáo lý là
nội dung căn bản và phần hình thức là việc thực hành tín ngưỡng. Chúng ta hãy
tìm xem các đặc thù của nền PGHH . Người viết bài vốn chỉ là một người theo đạo
Phật nhưng không phải là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, nên chắc sẽ có những sai
sót trong phần trình bày. Mong các vị cao kiến trong PGHH niệm tình tha thứ và
chỉ giáo nếu có những gì thiếu sót hay sai trái.
GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO
Đạo Phật là đạo giác ngộ, chỉ lối đưa đường dẫn dắt con người từ cõi đau khổ đến
cõi an lạc . Đức Phật tức đức giác ngộ đã vì lòng thương xót chúng sanh, khai
ngộ cho tất cả mọi người được giác ngộ như chính đức Phật.
Ông Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy cho tín đồ một nội dung Phật pháp đúng theo lời
chuyển Pháp Luân của Đức Phật. Những ai đã có dịp đọc lại các thuyết giảng của
Đức Thầy đều phải khâm phục vì Ông đã đem giáo lý nhà Phật đến đại chúng nông
dân, một cách rất gần gũi nhưng rất trọn vẹn, từ con đường trung đạo đến tam
nghiệp, tứ diệu đế, tứ vô lượng tâm, tứù ân, ngủ giới, lục độ, bát chánh đạo,
thập thiện, thập nhị nhân duyên !
Đức Thầy chỉ có chút phần thay đổi trong thứ tự Tứ Ân. Ngoài ra, trọn vẹn nội
dung là đúng với những lời Đức Phật đả dạy cho đệ tử của Ngài trong Phật giáo
nguyên thủy. Ông Huỳnh Phú Sổ không hề có chủ trương một nền Phật giáo nào khác.
Đường vào cõi Phật có ngàn Pháp môn. Đức Thầy là người thấu hiểu căn cơ chất
phác của người nông dân, là những người ít học, không thể tự lực hành trì các
pháp tu tối thắng, tối cao để vượt ra khỏi tam giới, thoát nạn trầm luân trong
tam đồ, lục đạo.Vì thế nên Ông Huỳnh Phú Sổ đã chọn Pháp môn Tịnh Độ là một
pháp tu phù hạp với căn cơ của người nông dân Nam Bộ. Ông khuyên đạo hữu :
«
Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa »
Khi chỉ mới 23 tuổi, Ông đã viết bài " Phật là gì ?" để tín đồ hiểu rõ hình ảnh
Đức Phật như Ngài đã tự giới thiệu khi còn tại thế : Ngài là người giác ngộ, một
đạo sư chỉ dắt chúng sanh con đường và phương pháp đi đến giải thoát. Ông Huỳnh
Phú Sổ đã cho tín đồ sự hiểu biết để họ không bị mê hoặc, tôn sùng Đức Phật như
một vị thần linh.
Thử đọc lại bài nói trên như một thí dụ điển hình, để biết rõ những lời văn thực
tiễn, gần gũi của Ông Huỳnh Phú Sổ, những lời dạy dễ lãnh hội, đã ăn sâu vào tâm
hồn chất phác của người nông dân miền Nam :
"Phật giả là Giác giả (Người giác ngộ). Giác giả là Tĩnh giả ( Người tĩnh thức).
Khi Đức Thích Ca thành Phật thì Ngài nói pháp Tứ đế mà độ đời trước hơn các
pháp, và chỉ con đường Trung Đạo cho người hành theo.
Đường Trung Đạo của Phật :
Không trưởng dưỡng xác thịt quá ư sung sướng như : ăn nhiều, ngủ nhiều, chẳng lo
làm công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái quá thì sanh nhiều dục vọng
mê đắm, làm cho trí đạo tối tăm, không đạt huệ được .
Không nên hành xác hay ép xác thái quá như : phơi nắng dầm sương, bỏ ăn, bỏ ngủ,
làm lụng quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ hay sanh bịnh hoạn nhiều, người
mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém cỏi, nhọc mệt, trí hóa lu mờ, không đủ
sức mà học Đạo đặng.
Nên người biết Đạo chẳng ép xác thái quá, mà cũng chẳng để nó sung sướng quá độ,
chỉ ăn ngủ có chừng mực, làm việc vừa với sức mình, giữ gìn sức khỏe mới mong
được Đạo Pháp.
Vậy Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng,
chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn của
mình.
Điều cần yếu là phải :
LÀM HẾT CÁC VIỆC THIỆN
TRÁNH TẤT CÁC ĐIỀU ĐỘC ÁC
QUYẾT RỬA TẤM LÒNG CHO TRONG SẠCH ".
Ông Huỳnh Phú Sổ đã có cả triệu tín đồ hưởng ứng tu hành vì Ông đã thuyết giảng
đúng trình độ đại chúng bình dân trong đó phần lớn là nông dân, đúng thực trạng
xã hội Việt Nam phần đông là ít học, ít hiểu biết. Tuy nhiên những bài giảng của
Ông vẫn đúng theo giáo pháp, lại được Ông khai triển đúng căn cơ của tín đồ bình
dân.
Trong những thập niên gần đây, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh là người đã nổi danh
chẳng những trong giới Phật tử người Việt mà còn là một Thiền sư được các giới
Âu Mỹ thán phục. Mỗi khóa tu của Hòa thượng và Tăng đoàn Làng Mai đến từ Pháp để
tổ chúc ở Bắc Mỹ thường có khoảng từ 700 đến 2000 thiền sinh tham dự. Vào cuối
khóa tu, thường có khoảng từ 100 đến 700 người tiếp nhận Ba quy và Năm giới.
Những người theo học phần lớn thuộc thành phần có học thức và trình độ khá cao.
Thiền sư Nhất Hạnh đã thành công ở ngoại quốc vì Ông đã thích ứng việc giảng dạy
cho đại chúng khác với đại chúng ở Việt Nam. Văn bản Ngủ giới hiện nay của Ông
là kết quả của sự hành trì trên 25 năm giảng dạy. Thay vì theo Giới bản xưa: "
Không được sát sinh, Không được trộm cắp, Không được tà dâm, Không được nói dối,
Không được uống rượu ", Hòa thượng Nhất Hạnh đã giảng lại như sau: ( Xin chỉ kể
2 giới về Sát sinh và Tà dâm để làm thí dụ tiêu biểu)
"Giới Thứ Nhất: Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo
hạnh Đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết
hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là
trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con.
.............................................
Giới Thứ Ba: Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo
tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và
mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là
vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra
đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và
của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những lời cam kết của mình và của kẻ khác.
Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây
nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa."
Thông cảm được tâm trạng giới trẻ và nhất là giới trẻ Tây phương vốn không ưa
thích các công thứùc ra lệnh, cấm cản hoặc ép buộc, Thầy Nhất Hạnh đã trình bày
lại Năm Giới trong một hình thức nhẹ nhàng, thoải mái hơn, nhưng vẫn giữ được
nguyên vẹn bản chất của giới pháp.
Văn bản Ngủ Giới của Thầy Nhất Hạnh với hình thức mới đã được các giới trẻ Tây
phương chấp nhận dễ dàng hơn. Thầy đã trở thành một danh tăng truyền bá Phật
pháp ở hải ngoại, nhờ vào việc cách mạng và hiện đại hóa trong việc hoằng pháp.
Văn bản Năm Giới của Thầy là kết quả của sự hành trì và giảng dạy trong 25 năm.
Văn bản không có danh từ Phật học chuyên môn này đã phải trải qua ba lần tu
chỉnh.
Bây giờ chúng ta hãy trở lại xem hơn 50 năm về trước, khi còn trong lứa tuổi
hơn hai mươi, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã thuyết giảng cho giới nông dân chất phác
và ít học vùng Cữu Long ra sao.
Xin được trích dẩn làm thí dụ, để so sánh, những gì Đức Thầy đã dạy trong " Tam
Nghiệp và Thập Ác " về 2 giới : Sát sanh và Tà dâm.
1- SÁT SANH: Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lúc
lớn khôn, vì phải sống chung chạ với thế giới người hung tàn, bạo ngược, tánh
nết liền ô nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.
Loài người giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù
hiềm, vì hiếu thắng...nghĩa là họ giết nhau vì sự lợi ích của một người, của một
nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia...Đó là người đối với
người.
Người đối với thú cầm sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì
miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín,...sát hại sanh vật cúng tế...vì sự vui
thích...kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước. Họ bắt
thú vật làm tấm bia cho nhắm trong những lúc cao hứng, quên hẳn rằng sanh vật
cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân loại
vậy... Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người không chịu thuốc
thang, khẩn vái Phật Trời cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế thần
cúng thánh, kêu cốt kêu đồng. Họ không tìm nguyên nhân các sự họa hoạn, không
chịu tìm hiểu rằng những tai biến xẩy ra đều do căn tiền báo quả hậu, và không
chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền. Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ,
họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.
Thế nên hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các gia
súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo... chẳng khá sát hại vì chúng đã giúp ích cho ta
trong các việc sanh hoạt hằng ngày. Tóm lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có
thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt hãy cử hẳn....
2-
TÀ DÂM: "Muôn việc lành, hiếu thuận đứng đầu, ngàn việc dữ, tà dâm đứng trước ".
Sách sử thường bảo như thế. Lần dở xem sử sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn
khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ trong gia đình đến kẻ xa người lạ. Nó
là mầm gây ra biết bao thảm trạng. Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn
với Dương Quý Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế? Giàu ỷ của, hiếp dâm kẻ khó,
quan ỷ quyền cưỡng bức đám dân hèn. Gian phu dâm phụ, từ xưa đến nay luôn luôn
đều có.
Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế,
phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau dồi lòng hiếu trung
trinh tiết.".
Những lời thuyết giảng của Ông Huỳnh Phú Sổ vì mang tính cách bình dân nên không
khỏi bị một số tăng ni chê là kém cỏi, tầm thường, hoặc giáo lý PGHH không có gì
là cao siêu, là chân chánh. Nhưng những ai hiểu đạo Phật đều phải công nhận là
các bài thuyết pháp của Ông tuy giản dị nhưng rất trong sáng và chan hòa tư
tưởng Phật giáo. Ông chỉ đặc biệt chú trọng nhiều đến Tứ Ân như Phật Thầy Tây
An. Ngoài ra Ông không có chủ trương đưa ra những tư tưởng Phật học gì mới lạ
Trình độ nông dân của 90 phần trăm tín đồ của Ông vào thời khoảng nhiễu nhương
1940 khó có thể thông hiểu được các tư tưởng cao siêu chứa đựng trong thiên
kinh, vạn quyển của triết lý Phật giáo. Hoằng pháp bằng những bài thơ chuyên chở
đạo Phật vào sâu trong tâm nảo tín đồ là một thành công sâu đậm, bền vững. Trong
một thời gian ngắn ngủi độ 7 năm, ngoài những việc khó khăn khác phải đương
đầu, quả thật trong lịch sử miền Nam, chưa thấy có một giáo chủ nào có thể cóù
được hơn 2 triệu tín đồ trên một dân số khoảng 10 triệu vào thời đó.
HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG PGHH
Sự
thành công đặc thù của PGHH, đưa đến sự hiện diện trường tồn ở miền Nam
cho đến ngày hôm nay, mặc dầu đã phải trải qua bao nhiêu biến cố tưởng cần phải
được suy gẫm cặn kẽ hơn.
Hình thức tín ngưỡng của PGHH là một yếu tố quan trọng. Đây quả thật là một cuộc
cách mạng, đang được nhiều học giã về tôn giáo nghiên cứu.
Ông Huỳnh Phú Sổ đã thố lộ trọng trách lâm phàm của Ông là việc phải chấn hưng
Phật pháp: Từ ngày chư Tổ bặt truyền y bát đến nay, chơn pháp của Phật bị người
đời làm sai tinh nghĩa nên một ngày một suy đồi. Ông tự nhận là đệ tử trung
thành của Phật Thích Ca, lãnh sứ mạng giáo truyền một nền đạo vô vi, khác với
lối âm thinh sắc tướng của phái Thần Tú. Ông kêu gọi:
“
Khuyên sư vãi mau mau cải hối,
Làm vô vi chánh đạo mới mầu;
Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có”
Vì thế Ông Huỳnh Phú Sổ chủ trương:
“
Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú”
..................
“
Đạo vô vi của Phật ân cần,
Nối theo chí Thích Ca ngày trước”
Ông Huỳnh Phú Sổ đã đặc biệt tạo nên một nền Phật giáo mới lạ, một nền Phật
giáo do các giới Phật tử tại gia điều hành, một nền Phật giáo cấp tiến, không có
giới tăng lữ tham gia.
Đức Thầy tuy không chủ trương xây chùa, đúc tượng nhưng trong " Lời khuyên bổn
đạo", Ông vẫn khuyên tín đồ phải kính trọng giới tăng sĩ, vẫn khuyến khích đi
chùa vào các ngày rằm, ngày vía của Đức Phật... Ông đã khéo léo tránh tạo sự bất
hòa giữa giới tăng sĩ và cư sĩ tại gia. Đức Thầy đã viết: " Hạng tại gia gồm
tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ
với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như
các nhà sư hay ni cô đặng. Thế nên ở tại nhà, họ phượng thờ Đức Phật, phát
nguyện quy y, giữ gìn giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh, răn lòng, ủng hộ
các sư ". Ông đặt trọng tâm vào việc tu tâm sửa tánh, khuyên không nên dựa vào
hình tướng, lễ nghi. Hình tướng như tượng Phật, chuông, mỏ chỉ là những trợ lực,
những phương tiện giúp để dễ tu tập nhưng lắm khi sự chấp vào hình tướng lại dẫn
đến sự sai lệch đạo pháp.
Về
thờ phượng, PGHH chủ trương các cư sĩ tại gia nên " thờ đơn giản cho lòng tin
tưởng trở lại tâm hồn...chỉ thờ một tấm trần màu dà...Màu ấy là sự kết hợp của
tất cả các màu sắc khác nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại
không phân biệt chủng tộc cá nhơn...Màu ấy tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của
nhà Phật ".
Ông Huỳnh Phú Sổ trong bài " Cách thờ phượng, hành lễõ và sự ăn ở của một tín đồ
PGHH " đã hướng dẩn rõ ràng để thốùng nhất hình thức thờ phượng, lễ bái, là một
việc mà giới Phật tử truyền thống lắm khi còn bị lúng túng. Những vấn đề thực tế
như học vấn, vệ sinh thân thể, tập thể dục...cũng được đề cập trong bài này. Đặc
biệt " Đối với các tôn giáo khác ", Đức Thầy đã khuyên tín đồ " không nên đụng
chạm đến cách thức tu hành của họ; Nhứt là không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu
người ta ...phải luôn luôn làm lành với họ ".
Tiến sĩ Lê Hiếu Liêm của Trường Phật Học Lýù Trần có viết: " PGHH không xây dựng
thêm chùa chiền mới nhưng đã thật sự xây dựng nhiều ngôi chùa nhất trong lịch sử
Phật giáo Việt Nam: mỗi mái nhà của tín đồ là một ngôi chùa, mỗi gia đình Phật
tử là một tăng thân tu học. PGHH đưa đạo Phật đến tận mỗi con người, mỗi gia
đình, mỗi mái nhà. Mỗi người tự trực tiếp thực hành đạo Phật trong mỗi giây phút
của cuộc đời mình, không cần trung gian của tăng ni và không cần hình tướng của
chùa chiền, hình tượng, chuông mõ " . Thật là một cuộc cách mạng lớn trong lịch
sử Phật giáo VN!
SẤM GIẢNG, THI, KỆ CỦA HUỲNH PHÚ SỔ
Trong việc lễ bái ở các chùa, các thi, kệ, thường được viết dưới dạng Hán văn
hay Phạn văn. Trong thập niên 1980 gần đây, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng
dàoàn Làng Mai lần đầu tiên đã cho xuất bản " Thiền Môn Nhật Dụng " toàn bằng
Việt ngữ để giới Phật tử xữ dụng. Thiền sư Nhất Hạnh cũng đã nỗi tiếng do các
thi kệ do Ông sáng tác hay chuyển ngữ.
Có
rất ít bậc trí thức được biết là 40 năm về trước, Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch nhiều
thi kệ từ tiếng Hán ra Việt ngữ cho tín đồ của Ông.
Xin được nhân dịp này, thửû đọc lại các câu Chú thường được niệm, trích ra từ
tập Sấm Giảng Thi Văn của Ông Huỳnh Phú Sổ.
Các buổi lễ Phật giáo thường được khởi sự bằng bài Quán Tưởng, tóm gọn tinh hoa
Phật giáo của bộ kinh Hoa Nghiêm danh tiếng:
" Năng lễ, sở lễ, tánh Không tịch
Cảm ứng tương giao nan tư nghị
Ngã thử đạo tràng như đế châu
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền
Đầu diện tiếp túc qui mang lễ. "
Dịch nghĩa là: Con, người đang lạy Phật, và Phật, người đang được lạy, cả hai
cùng một bản tánh Không, nghĩa là không có tự thể bất biến, nghĩa là cùng do
nhân duyên trùng trùng tác động lẩn nhau mà có. Vì cùng một bản tánh nên sựï cảm
ứng giữa Ngài và con không thể nghĩ bàn. Con ở trong đạo tràng rực rỡ, đẹp đẻ,
sáng lạn như viên ngọc quý vô giá vô cùng. Trong đạo tràng này có sự hiện diện
của chư Phật mười phương. Cũng trong đạo tràng này thân con hiện ra trước mười
phương chư Phật.
Bài thi kệ này nay được một danh tăng dịch ra Việt ngữ và được đưa vào Nghi Thức
Tụng Niệm của PGVN:
" Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y "
Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch thành thơ như sau, một cách rất sát nghĩa:
" Sự lạy Phật vốn Không, yên tỉnh
Đạo cảm giao khó tính khôn bàn
Nay tôi ở trong đạo tràng
Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu
Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh
Có bóng tôi cũng sánh cùng Ngài
Từ chơn cho chí mặt mày
Cúi đầu làm lễ nguyện rày quy y "
Xin thú thật là riêng người viết bài, từ ngày biết được bài của Ông Huỳnh Phú
Sổ, mỗi bận đọc kệ Quán Tưởng, sự cảm thông với lời kinh đã được thấy trọn vẹn
hơn.
Nay thử xét thêm về các thi kệ của Thiền sư Nhất Hạnh và của Ông Huỳnh Phú Sổ,
cùng đề cập đến chung một số vấn đề.
Thiền sư Nhất hạnh đã nổi tiếng về những Thi kệ Nhật dụng như:
THỨC DẬY:
Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời.
RỬA TAY:
Múc nước để rửa tay
Xin nguyện cho mọi người
Có
đôi bàn tay khéo
Gìn giữ trái đất này
ĐIỀU TỨC:
Thở vào tâm tỉnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An
vui trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời
THỈNH CHUÔNG:
Ba
nghiệp lắng thanh tịnh
Gửi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn
Thầy Nhất Hạnh vừa là thiền sư lại cũng là thi sĩ, đã sáng tác hoặc phóng tác
qua thể thơ tự do những thi kệ tuyệt vời vừa kể trên. Bốn mươi năm về trước, Ông
Huỳnh Phú Sổ, tuy phải bị gò bó trong niêm luật, đã dịch rất sát theo nguyên bản
Hán văn các thi kệ trên như sau:
Về
bài " Rửa tay "
Hán văn: Dĩ thủy quán chưởng
Đương nguyện chúng sanh
Đắc thanh tịnh thủ
Thọ trì Phật pháp
Ông Huỳnh Phú Sổ viết:
Lấy nước tôi rửa sạch tay
Nguyện cầu sanh chúng được tay thơm lành
Ngỏ hầu nắm pháp vô sanh
Giữ gìn lời Phật ban hành từ xưa
Về
bài " Thỉnh chuông "
Hán văn: Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông
Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác
Ông Huỳnh Phú Sổ :
Nguyện tiếng chuông lành thông các cõi
Thiết vi địa ngục cũng nghe rành
Nghe rồi thân tịnh, tâm tròn sáng
Tất cả chúng sanh Phật đạo thành.
Vài thí dụ kể trên tưởng cũng đã đủ để chứng minh nếu thi kệ nỗi tiếng của Thiền
sư Nhất Hạnh nay được quý trọng trong giới Phật giáo, thì thi kệ của Ông Huỳnh
Phú Sổ sáng tác cách đây hơn 40 năm cũng nên được coi như một đóng góp quan
trọng vào gia tài văn học Việt Nam.
KẾT LUẬN
Trong những trình bày vắn tắc vừa qua về Giáo lý, Hình thức Tín ngưỡng, Sấm
Giãng, Thi kệ Phật giáo Hòa Hảo, chúng ta có thể hiểu được phần nào vì sao nền
Phật Giáo Hòa Hảo đã bén rễ sâu xa trong tâm hồn người nông dân Nam bộ.
Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã cách mạng, hiện đại hóa Phật giáo truyền thống thành
một nền Phật giáo Thời đại. Những thành tựu Ông đã thực hiện trong thời gian
ngắùn ngủi 7 năm thật khó có thể giải thích ngoại trừ phải chấp thuận ý kiến xem
Ông là một vị Bồ Tát đã xuất hiện sau nhiều kiếp tu tập để cứu rỗi nông dân ở
địa linh Cữu Long.
Thời Đệ nhứt Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ban hành Nghị định số 41-NV
ngày 27-1-1955 cấm Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng( cơ quan tranh đấu của Phật Giáo
Hòa Hảo) không được hoạt động.
Thời Đệ nhị Cộng Hòa, sau Hiệp định Paris ra đời, e ngại có thể xảy ra các cuộc
đảo chính, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lịnh cho bộ Nội Vụ tước võ khí và
giải tán Tổng Đoàn Bảo An Hòa Hảo, ở Long Xuyên ngày 29-1-1975, giết chết 3 giáo
dân, làm bị thương 10 người, bắt giữ hơn 600 Bảo an viên.
Khi cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, sau nhiều lần thất bại trong chủ trương xóa
bỏ nền Phật Giáo Hòa Hảo, ngày 25 tháng 6 năm 1999, bạo quyền Cộng sản đã dàn
dựng một Ban Đại diện " Quốc doanh " và áp đặt một qui chế mớùi để thủ tiêu
truyền thống PGHH như hủy bỏ đạo kỳ màu dà, cắt xén 80% Sấm giảng, hủy bỏ Đại lễ
Tưởng niệm Đức Thầy v...v...
Mặc dầu phải gánh chịu bao khổ nạn trong quá khứ, người nông dân miền Nam tín đồ
Phật giáo Hòa Hảo vẫn kiên cường giũ vững niềm tin theo giáo pháp, tranh đấu cho
tự do tín ngưỡng.
Trong chiều hướng đấu tranh cho việc thành tựu một nước Việt Nam dân chủ, tự
do, chúng ta có trách nhiệm phải đóng góp vào Phong Trào Yễm Trợ Phật Giáo Hòa
Hảo Quốc Nội. Nền Phật giáo Hòa Hảo đã giữ miền đồng bằng Sông Cữu Long thành
một ốc đảo thanh bình trong suốt cuộc chiến vừa qua, một ốc đảo còn giữ vững nền
đạo lý truyền thống khi Cộng sản đã làm băng hoại luân lý ở hầu như khắp nơi
trong nước. Trong tương lai, đây cũng là một ốc đảo bảo đảm vững chắc trong việc
tranh đấu đem lại tự do dân chủ, dân quyền cho đất nước.
B.
S. Trần Nguơn Phiêu
Arlington, Texas
Tháng 7 năm 2000