QUAN NIỆM VỀ ĐẠI ĐẠO
CỦA CAO ĐÀI
MỘT NỀN TÔN GIÁO BẢN ĐỊA
VIỆT NAM
Việt Thu
Ra đời từ năm
Bính Dần 1926 trên mảnh đất miền Nam Việt
Nam, đạo Cao Đài được coi là một tôn giáo bản địa có
những tính chất đậm nét Nam Bộä. Thật
vậy, người tín đồ Cao Đài trong đạo
phục là trang phục truyền thống của
người Việt với áo dài trắng, đàn ông có thêm
khăn đống đen và búi tóc cùng cḥm râu đă là
những h́nh ảnh của người Việt sống
ở vùng đất phương Nam vào những năm
đầu thế kỷ 20, đă tạo nên những
dấu ấn khó phai về một tôn giáo thường
được người dân quê miền Nam gọi nôm na
là “đạo Tam Kỳ” hay “đạo thờ Một
Mắt”
Tôn giáo Cao Đài
được h́nh thành từ sự giáng cơ chỉ
dạy của một Đấng Vô H́nh xưng danh là
Ngọc Hoàng Thượng Đế, hoặc Đấng
Tối Cao mà trước
đó, con người đă từng nghe nói đến qua
những truyền thuyết dân gian hay tôn giáo khác, với
những danh xưng khác nhau như Đức Chúa Trời
của Thiên Chúa giáo, Thánh Ala của Hồi giáo,... Nói một
cách dễ hiểu hơn, Giáo
chủ của đạo Cao Đài không phải là con
người tu chứng, đạt Đạo rồi
xiển dương chân lư mà ḿnh chứng ngộ thành
một tôn giáo như tất cả các tôn giáo đă ra
đời trước đó, mà chính là Đấng Tạo
Hóa với cách gọi nôm na của con người là “Oâng Trời”.
Với tôn chỉ “ Tam giáo
qui nguyên-Ngũ chi phục nhứt”, đạo Cao Đài
chủ trương “vạn giáo đồng nhứt lư”,
tức quan niệm tất cả các tôn giáo trên thế gian
này cũng đều một gốc Thượng
Đế, phát sinh tùy theo hoàn cảnh lịch sử,
địa lư của từng thời kỳ cho phù hợp
với phong tục và tŕnh độ tiến hóa của con
người. V́ vậy, đạo Cao Đài tin tưởng,
thờ cúng tất cả chư Phật Tiên Thánh Thần và
dung hợp tinh hoa giáo lư của ba nền tôn giáo Nho- Thích- Lăo
đặt trên nền tảng :công b́nh- từ bi-bác ái.
Mặt khác, qua sự giáng
dạy của các Đấng Thiêng Liêng bằng cơ bút ,
tôn giáo Cao Đài tin rằng lịch sử cứu thế
của nhân loại gồm 3 thời kỳ: Nhứt kỳ
và Nhị kỳ Phổ độ đă qua với sự ra
đời của các tôn giáo lớn trên hoàn cầu; nay
đến thời kỳ thứ ba, là giai đoạn
kết thúc một chu kỳ tuần hoàn của vũ
trụ, chính Đức Thượng Đế giáng
trần bằng linh điển, khai mở con
đường tận độ loài người qua h́nh
thức một tôn giáo được Ngài đặt tên là “Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” hay c̣n gọi là “đạo Cao Đài” do
tá danh của Ngài là “Cao Đài Tiên Oâng” .
Dù muốn dù không, cũng
phải nh́n nhận, mặc dù đă ra đời gần ¾
thế kỷ, đă được đứng vào hàng
ngũ tôn giáo, đạo Cao
Đài vẫn c̣n quá trẻ trên tiến tŕnh ổn định để
truyền bá một hệ thống giáo lư nhứt quán mang
tính phổ quát, một công việc mà qua lịch sử các
tôn giáo đă cho thấy không dễ dàng và nhanh chóng. Bởi lẽ đó, tôn giáo Cao
Đài đă gặp nhiều sự ngộ nhận, từ
danh xưng “Đại Đạo” cho đến nền
tảng giáo lư.
Đối với đa
số người tín đồ Cao Đài, sự xuất
hiện của đạo Cao Đài trên vùng đất Nam
bộ đă đáp ứng được nhu cầu tinh
thần của họ trong lúc phải đương
đầu với nhiều sự khó khăn trong đời
sống cũng như sự bất măn trước sự
xâm nhập ồ ạt của nền văn hóa
phương Tây vào những năm thực dân Pháp xâm
chiếm Việt Nam. Thoạt tiên, người Việt theo
đạo Cao Đài, có thể nói, thuần tuư do
đức tin vào Thiêng Liêng và do đường lối
của đạo Cao Đài phù hợp với truyền
thống văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc đă ăn sâu vào tâm thức người Việt
như tinh thần Tam giáo đồng nguyên; kinh sách bằng
chữ Quốc ngữ dễ đọc, dễ hiểu;
những lời khuyến dạy của Trời Phật và
các Đấng th́ hết sức gần gũi như
lời của cha mẹ dạy dỗ con cái trong gia
đ́nh, và sinh hoạt trong đạo thể hiện t́nh
thân như anh em trong một
nhà, không có sự phân chia, ngăn cách giữa
đạo và đời như những tôn giáo khác.
Tâm lư hầu hết
những người có tín ngưỡng th́ đều tôn
vinh tôn giáo của ḿnh, bởi v́ họ đă đặt
trọn đức tin vào tôn giáo mà họ đă chọn
lựa, và thường dẫn đến t́nh cảm thái
quá; cho nên cũng có không ít tín hữu Cao Đài đă coi tôn
giáo ḿnh hay hơn, quan trọng hơn tất cả các tôn
giáo khác với lư do tôn giáo Cao
Đài là của Đức Thượng Đế,
Đấng Toàn Tri Toàn Năng
tạo dựng; thêm vào đó, cũng do một
phần tŕnh độ học thức bị hạn
chế của một đại bộ phận tín
đồ Cao Đài nên họ hiểu không đúng danh
xưng “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”
mà cho rằng Cao Đài là
đạo lớn, bao trùm các tôn giáo khác.
Đối với
người ngoài đạo,
sự phê phán, chỉ trích tôn giáo Cao Đài cũng
được đặt trên sự gán ghép hoặc ngộ nhận
về ư nghĩa của danh xưng “Đại Đạo
Tam Kỳ Phổ Độ”. Cụ thể là hai chữ “Đại
Đạo” được diễn giải là “đạo
lớn” và từ đó suy luận đạo Cao Đài có
tham vọng thống lĩnh mọi tôn giáo, nên mới có tôn
chỉ “Tam giáo qui nguyên- Ngũ chi phục Nhất”. Từ
đó, Cao Đài bị coi là
tôn giáo không có một nền tảng giáo lư riêng mà chỉ góp
nhặt giáo lư của các tôn
giáo khác, đặc biệt là của Tam giáo: Nho, Phật và
Lăo giáo.
Một cách khách quan nhận xét, về mặt từ
ngữ , danh từ “Đại Đạo” trong danh xưng “Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” không thể nào
diễn dịch là “đạo lớn tức là tôn giáo
lớn”, mà chính xác phải là “Con đường lớn”,
nếu hiểu đúng ngôn ngữ Hán Việt. Cho nên, không thể từ đó suy ra
đạo Cao Đài muốn thống lĩnh thế
giới tôn giáo.Về mặt giáo lư, tôn giáo Cao Đài đă
được h́nh thành qua phương tiện cơ bút,
những lời Thánh ngôn -Thánh giáo
được ban ra từ các Đấng Vô h́nh thay
thế cho lời thuyết giảng của vị Giáo
chủ đắc đạo, đă tạo nên một kho
tàng giáo lư với đầy đủ tính đặc
trưng của một nền tôn giáo, và việc kết
tập và hệ thống hoá là trách nhiệm của
những thế hệ tiếp nối đạo
nghiệp.
Dù muốn dù không, không
thể phủ nhận, Cao Đài là một tôn giáo đă
được khai sinh và lớn lên ngay trong ḷng dân tộc
Việt với đầy đủ màu sắc thể
hiện được tinh thần khoan dung trong tín
ngưỡng của người Việt tự ngàn xưa,
làm nền tảng vững chắc cho một nền văn
hóa đậm chất nhân văn trải dài trong suốt
hơn 4500 năm lịch sử. Tuy nhiên, như một qui
luật của cơi nhị nguyên, không có ǵ là nhất quán
một cách tuyệt đối, nhất là đối
với tư tưởng con
người, sự phân chia chi phái của đạo Cao
Đài trong những năm đầu khai Đạo
cũng chỉ phản ảnh sự bất đồng
quan điểm của những người đi
trước phát xuất từ ước muốn tỏ
bày trọn vẹn đức tin đối với các
Đấng Thiêng Liêng, một t́nh trạng chung của
tất cả các tôn giáo có mặt trên cơi thế gian này.
QUAN
NIỆM VỀ ĐẠI ĐẠO CỦA CAO ĐÀI
Danh từ "ĐẠI
ĐẠO" trong giáo lư Cao Đài là một phạm trù
không đơn giản dễ hiểu để có thể
giải thích một cách chuẩn xác như trong Khoa học
hay Toán học. Để hiểu trọn vẹn hai chữ
Đại Đạo, ngoài những ư nghĩa mang tính
hướng dẫn hành động của con người
có thể diễn giải bằng tư duy logic tương
đối rơ ràng, c̣n lại th́ có những ư nghĩa mang tính
siêu h́nh, đ̣i hỏi con người phải có một
đức tin vào sự hiện hữu của chính tôn giáo
Cao Đài như là một thực thể Đạo
cứu thế. Và điều khẳng định là quan
niệm về Đại Đạo không phải là sản
phẩm của trí tưởng tượng của người tín đồ
phát xuất từ niềm tin huyễn hoặc, vô căn
cứ, mà thoát thai từ nghĩa lư cao sâu hàm chứa trong
Thánh ngôn - Thánh giáo Cao Đài đă được truyền
dạy bằng linh điển
của các Đấng Thiêng Liêng qua huyền cơ
diệu bút kể từ ngày khai Đạo.
1 - ĐẠI
ĐẠO LÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA ĐẠO
Qua Thánh giáo Cao Đài, phạm
trù “Đại Đạo” hàm chứa nhiều ư nghĩa. Có
quan
niệm đồng hóa
Đại Đạo với Đạo.Tuy nhiên, hiểu
một cách chính xác, vẫn có sự khác biệt:
ĐẠO: là năng
lực vĩ đại đă tạo hoá ra càn khôn vũ
trụ muôn loài. Đạo
cũng chính là năng lực điều phối sự vận
hành không ngưng nghỉ của vạn hữu từ phóng
phát đến qui nguyên. Kinh
Dịch của Khổng giáo gọi năng lực này là Thái
Cực, và Đại Đạo Tam Kỳ Phổ
Độ gọi là khối
Đại Linh Quang theo tính cách vô ngă và Đức Chí Tôn
Thượng Đế theo tính cách hữu ngă. Đạo
hiện hữu trong vật chất từ vật lớn
nhất đến vật nhỏ nhất. Đức Lăo
Tử đă diễn tả Đạo: “Vô danh thiên
địa chi thủy; Hữu danh vạn vật chi mẫu”
có nghĩa : “lúc không tên, nó là gốc của Trời
Đất; lúc có tên, nó là Mẹ của muôn loài”.
Thánh giáo Cao Đài
định nghĩa: “Đạo là hư vô chi khí,
Đạo rất mầu nhiệm sâu kín cao siêu.
Trước khi chưa có trời đất, đă có
Đạo. Vậy Đạo đă tạo dựng nên càn
khôn vũ trụ, hóa sanh vạn vật muôn loài. Muôn loài
vạn vật phải thọ bẩm khí hư vô mà sanh hóa
măi măi.” (1)
Khi nói đến chữ “Đạo”
con người thường liên tưởng đến
chùa thất, am tự, thánh đường , hoặc
nghĩ đến việc tu hành, phế đời hành
đạo, áo bả nâu ṣng, vào chùa gơ mơ tụng kinh..., nhưng
phải hiểu, đó là chữ “đạo” trong tiếng
Việt có nghĩa là tôn giáo. Theo Cao Đài: “Đạo là
vô vi vô h́nh, c̣n tôn giáo là cái cửa. Mỗi người
muốn thành Phật Tiên phải chun qua cái cửa ấy mà
vô trong mới tới Đạo” (2)
Như vậy,”Đạo”
vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chỉ duy
nhứt có một, không có lớn
nhỏ, phân biệt, nên không thể có chữ “Đại”.
Do đó, hiểu “Đại Đạo” theo từ nguyên
nghĩa là “con đường lớn”, có thể h́nh dung
Đại Đạo là con đường đi của
Đạo, dẫn Đạo đến khắp cùng
vạn hữu, và v́ vậy tạm dùng chữ “Đại”
để diễn tả sự lớn rộng vô cùng
đó. Có thể nói, ĐẠO là Thể, ĐẠI
ĐẠO là Dụng của
Đạo, tiêu biểu sự
vận hành của Đạo.
Tuy nhiên, Thể và Dụng
cũng chỉ là hai mặt của một vấn
đề: Đạo, bởi v́: “Đạo là vô vi mà
hữu tác, Đạo có động mà có tịnh;
để dưỡng dục chúng sanh và lưu hành trong càn
khôn vũ trụ. Cùng trong một 'LƯ', một 'KHÍ' mà Đạo
tạo thành ngh́n giống muôn vẻ. Đạo lại lúc
ẩn hồi bày, cứ biến hóa đổi thay, thật
là toàn năng và cơ mầu nhiệm.” (3)
Qua Thánh giáo Cao Đài, có
thể hiểu “Đại Đạo” ở hai lĩnh
vực khác nhau: vô vi và hữu giới:
Trong lĩnh vực vô vi, có
thể định nghĩa: Đại Đạo là con
đường rộng lớn xuyên suốt từ vô
thỉ đến vô chung nối liền Trời với
vạn hữu theo hai chiều
: phóng phát và qui nguyên. Chiều phóng phát từ ngôi Thái Cực
hay nói theo thuật ngữ Cao Đài là khối Đại
Linh Quang phân tán ra tạo thành muôn loài vạn hữu kể
từ thời điểm bắt đầu h́nh thành vũ
trụ và tiếp tục cho đến khi kết thúc
tại một thời điểm gọi là “châu nhi
phục thỉ”. Chiều qui nguyên là chiều vạn
hữu quay về điểm xuất phát ban đầu
tức ngôi Thái Cực mà nói theo Cao Đài là sự trở
về với khối Đại Linh Quang của các Tiểu
Linh Quang đă tiến hóa đến giai đoạn làm Người
. Có
nghĩa là sự qui nguyên chỉ có thể thực hiện
tại kiếp làm người, và qui nguyên chính là sự
tiến hóa của con người bước lên nấc
thang vượt khỏi thế giới hữu h́nh, tức
là làm Thần,Thánh, Tiên , Phật.
“Đại Đạo là con
đường lớn thẳng tắp từ thiên
thượng đến thiên hạ, từ bến khởi
nguyên cho đến lúc hoàn nguyên, mà những ngơ rẽ là những
sự luân động theo luật tắc bảo tồn hay
đào thải cho những chu kỳ trên Đại
Đạo.” (4)
Nói một cách cụ
thể, giáo lư Cao Đài dạy, mỗi người là
một Tiểu Linh Quang được chiết xuất
từ khối Đại Linh Quang, đến cơi thế
gian để thay Trời tiếp tục hoàn thành công
cuộc hóa sanh vạn hữu
trong nhiệm vụ lập đời, điều
hành, quản cai muôn vật, tức là tạo cho cơi hữu
h́nh một “hồn sống”, gọi là làm”sứ mạng vi nhân” rồi phải quay
về hiệp Một, trở lại khối Đại
Linh Quang, tức là thực hiện nhiệm vụ tiến
hóa, hay “sứ mạng Đại thừa”, để
bước lên hàng siêu xuất thế gian, mà theo cách gọi
thông thường là tu luyện thành Tiên, thành Phật.Như
vậy, mỗi Tiểu Linh Quang khi rời khỏi
Đại Linh Quang là đă nhận một sứ mạng
gồm hai chặng đường: một ra đi lập
đời và một quay về với ngôi Thái Cực:
“Một sứ mạng
Trời dành hai ngơ,
Một ra đi, một
trở lại Thầy”
Nói rơ hơn, một
Tiểu Linh Quang khi rời khỏi Đại Linh Quang là
đă bắt đầu một chu tŕnh tiến hóa của
riêng nó trên gịng tiến hóa tâm linh chung của toàn vũ
trụ. Gọi là “tiến hóa tâm linh” v́ theo giáo lư Cao Đài,
con đường tiến hóa của vũ trụ vạn
vật cũng đi từ loài này sang loài khác, nhưng
đặt trọng tâm vào phần tâm linh là phần vô h́nh
làm nên sự sống cho thể xác mà nó trú ngụ chứ
không phải thể hiện trên sự biến đổi
thể xác như cơ sở của các học thuyết
Tiến hoá. Sự tiến hóa của một Tiểu Linh
Quang là một chu kỳ khép kín từ “phóng phát đến
qui nguyên”
“Tiểu Linh Quang từ
khối Đại Linh Quang phân thân xuống trần, tùy theo
nhiệm vụ và sứ mạng đă định của
mỗi một đơn vị đến cơi dinh hoàn này
để làm công cuộc tiến hóa trong đức háo sanh
ấy (... ) những Tiểu Linh Quang ấy đă ngấm
ngầm ẩn tàng từ loài khoáng sản đến
thảo mộc côn trùng, nhân loại rồi tiến
đến hàng Thần Thánh Tiên Phật. Sự tiến hóa
mau chậm tùy theo trạng thái của mỗi thể, (...)
Trong một chuỗi tiến hóa đó, mỗi hồn hay là
Tiểu Linh Quang có mang mỗi h́nh thể khác nhau, mỗi
một giai đoạn, mỗi một tiến tŕnh
đều là tạm mượn để mà tiến, không
nơi nào là trụ tướng bất di bất dịch.”
(5)
Như đă nói,
Đại Đạo là con đường rộng lớn
nối liền thiên thượng với thiên hạ,
tức là trên con đường đó, những Tiểu
Linh Quang đă ra đi và sẽ quay về điểm
xuất phát là Đại Linh Quang. Nói khác đi, nếu
muốn quay về, những Tiểu Linh Quang phải
bước chân lên con
đường duy nhất dẫn đến Đại
Linh Quang là Đại Đạo.Nhưng, khác với lúc ra
đi, Tiểu Linh Quang không
quay về bởi sự
tác động tự nhiên của năng lực vĩ
đại đă phóng phát nó mà c̣n tùy thuộc vào ư chí của
chính nó, bởi v́ điều kiện cần để
bắt đầu chặng đường thứ hai
của chu tŕnh tiến hoá hay gọi là giai đoạn qui
nguyên là phải tiến đến được giai
đoạn làm người. Và con người là một
chủ thể tự do có toàn quyền quyết định
chọn lựa sự quay về đó. Bởi v́ để
có thêm điều kiện đủ để quay về,
Tiểu Linh Quang phải cởi bỏ những chiếc
vỏ bọc mà nó đă mượn để thích nghi
với thế giới hữu h́nh khi xuống thế gian.
Chiếc vỏ bọc
đó gồm nhiều lớp đă chồng chất
thêm lên qua các chặng
đường tiến hóa như từ khoáng sản vô tri
vô giác, qua đến thảo mộc thêm một phần
hồn, đến thú cầm hai phần hồn và tiến
hóa “trăm ngàn muôn kiếp” đến được làm
người là phải thêm vào cho đủ “tam hồn
thất phách”, rồi c̣n phải mặc vào chiếc áo
đặc biệt của con người là “thất t́nh
lục dục” để trọn đủ để làm
người (6). Cởi bỏ chiếc vỏ bọc chính
là sự tu sửa bản thân, theo đường
đạo đức, loại bỏ mọi dục
vọng phàm phu, điều khiển được
thất t́nh lục dục nơi tâm, để điểm
sáng của Trời ban phát có cơ hội hiển lộ,
phát huy khả năng tự hữu mà t́m đường
quay về cơi thượng thiên.
Tiểu Linh Quang quay về với
Đại Linh Quang, theo giáo lư Cao Đài, là một lẽ
đương nhiên nằm trong qui luật tiến hóa
của vũ trụ, nhưng con đường quay về
không dễ dàng v́ sự khác biệt môi trường
giữa một thế giới hữu h́nh mang chất
hậu thiên trọng trược nặng nề với
một cơi vô vi tiên thiên thanh khí
nhẹ nhàng gồm nhiều tầng, mà linh hồn con
người phải trải qua tùy theo kết quả tu
tiến. Do đó, con người phải tập luyện
để linh hồn hoàn toàn không c̣n vướng víu ô
nhiễm những thói hư tật xấu của thế
gian để gột rửa dần dần đủ cân
đủ lượng bước lên từng nấc thang
tiến hóa mà người Cao Đài tin tưởng như
lời dạy của Đức Chí Tôn: “Người
muốn tiến hóa đến phẩm vị Tiên Phật
Thánh Thần th́ phải tu tâm dưỡng tánh, tích
đức thi ân (... ) Sự tiến hóa từ con thú
để đến làm người c̣n dễ, chớ
người tiến hóa đến Tiên Phật thật khó
thay, v́ con người cả mang ḷng dục vọng, ham
muốn ưa chuộng tửu sắc tài khí, lưu
luyến t́nh đời, dâm dục quá độ, hung
bạo không ngằn (... )Dời non đổi biển th́
dễ, chớ đem các con trở lại th́ khó lắm. Non
biển tuy nặng nề nhưng không có mang thất t́nh
lục dục, chớ xác phàm con người, tuy nhỏ
nhít, mà v́ lẫn cả sự dục vọng tà tâm, nên
nặng nề hơn muôn ngàn ḥn núi.” (7)
Qua kinh sách Cao Đài có
thể hiểu, để bước lên
được con
đường vô vi rộng lớn gọi là Đại
Đạo dẫn về lại cội nguồn khởi
điểm là Đạo hay là Đại Linh
Quang, Tiểu Linh Quang có
thể đi theo ba con đường mà giáo lư Cao Đài
gọi là Tam Giáo Đạo: Phật Đạo- Tiên
Đạo và Thánh Đạo. Cần phải khẳng
định đây là ba con đường dẫn con
người trở về được với
Đại Đạo, con đường nào cũng có
thể giúp linh hồn con người tiến hóa để
hoàn tất “ hai chặng đường sứ mạng “
của một Tiểu Linh Quang chứ không phải ba
nấc thang tiến hóa trong cơi siêu xuất thế gian
như nhiều người lầm tưởng để
phân chia cao thấp: Phật cao hơn Tiên, Tiên cao hơn
Thánh. Kinh nhựt tụng của Cao Đài có bài Khai Kinh xác
nhận:
“Trong Tam giáo có lời
khuyến dạy,
Gốc bởi ḷng làm
phải làm lành;
Trung Dung Khổng Thánh
chỉ rành,
Từ bi Phật dặn
ḷng thành ḷng nhơn,
Phép Tiên đạo tu
chơn dưỡng Tánh
Một cội sinh ba
nhánh in nhau... ”
Ba con đường
đó đă có sẵn như một qui luật cho sự
trở về của Tiểu Linh Quang trên con
đường tiến hóa, và mỗi một con
người nơi thế gian đều có đầy
đủ khả năng để chọn lựa cho ḿnh một trong ba con
đường. Cho nên Phật dạy: “Phật là
Phật đă thành, chúng sanh là Phật chưa thành” hay
lời của Đức Cao Đài: “Thầy là các con, các
con là Thầy”. Điều này đă được
chứng minh bởi sự ra đời của các tôn giáo
trong lịch sử nhân loại c̣n hiện hữu
đến ngày nay. Các vị Giáo tổ khai sáng đạo
đều là con người, các Ngài đă mở
được cánh cửa lộ ra con đường
dẫn về Đại Đạo để rồi
trở thành người cầm đuốc soi
đường cho nhân sanh đi theo; hay nói chính xác, các Ngài
đă truyền trao kinh nghiệm sự thành công của chính
ḿnh cho những người kế tục, h́nh thành nên
những qui điều
giới luật làm nên những
tôn giáo mà bản chất thực sự chỉ là
những công cụ hay
phương tiệnï để con người sử dụng
mà tái lập “giao thông” trên con đường “Đại
Đạo” đi về với Thượng Đế
vốn đă bị tắt nghẽn v́ tính chất hậu
thiên trọng trược, nặng nề mà con người đă phải
đeo mang khi vào cơi hữu h́nh và bị chất chồng
thêm qua nhiều kiếp luân hồi sanh tử.
Như vậy, nói theo giáo
lư Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, do
bởi con người khi vào chốn hữu h́nh, đă
bị vật chất che
mờ, không c̣n nhớ đường trở lại cơi vô
vi là quê hương thật sự của ḿnh, cho nên v́
đức háo sanh, Đức Thượng Đế đă
cho các bậc Nguyên Nhân lần lượt xuống thế
gian theo từng thời kỳ, tùy hoàn cảnh địa lư
để làm người mở lối qua h́nh thức các tôn giáo:
Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo... cho con
người nương theo đó mà tu hành, trau luyện
cởi bỏ dần những lớp áo phàm phu để
cho điểm linh quang có điều kiện phát huy năng
lực mà tiến lên Đại Đạo dẫn về với
ngôi Thái Cực.
Tóm lại, nói một cách
cụ thể dễ hiểu, thế gian này chỉ là
nơi chốn trú ngụ tạm thời của những
Tiểu Linh Quang trên con đường tiến hóa, và đây cũng chính
là trạm trung chuyển bắt buộc để con
người thực hiện giai đoạn thứ hai trong
toàn bộ chu kỳ tiến hóa của một Tiểu Linh
Quang là trở về. Và để thực hiện chặng
đường tiến hóa thứ hai này, con người
phải tuân theo một số qui luật có sẵn trong
vũ trụ th́ mới có thể bước lên
được con đường nối liền thiên
thượng với thiên hạ tạm gọi là
Đại Đạo. Những qui luật này nằm trong ba con đường
nhánh nối liền với con đường lớn
Đại Đạo được thể hiện qua câu
kinh: “một cội sanh ba nhánh in nhau”, mà các vị Giáo
tổ khai sáng tôn giáo đă tự chứng ngộ rồi
truyền lại cho các môn đồ và lưu lại cho
hậu thế được thể hiện qua
đường lối, chủ trương, phương
cách tu hành của các tôn giáo. Như vậy, không phải các
vị Giáo tổ đă “sáng tác” ra phương cách tu hành
để lập nên các nền tôn giáo cho nhân sanh đi theo,
mà các Ngài chỉ làm công việc vén bức màn vô vi cho con người
thấy được con đường dẫn về “Đại
Đạo” mà chính Ngài đă bước lên và chứng
quả vô sanh, nghĩa là đă trở về
được với Đạo hay Thượng
Đế để con người bắt chước
Ngài mà thực hiện rốt ráo cuộc tiến hóa của
ḿnh.
Đức Phật Thích Ca
bước vào con đường Phật Đạo;
Đức Lăo Tử mở cánh cửa con đường Tiên
Đạo, Đức Khổng Tử và Đức Chúa KiTô cầm đuốc
soi sáng con đường con
đường Thánh Đạo... . Con đường nào
cũng dẫn đến con đường lớn
Đại Đạo để trở về với
Đạo.Trên mỗi con đường đó, người
tu hành tùy theo công đức của ḿnh mà linh hồn sẽ
đạt được những ngôi vị từ
thấp đến cao theo các thứ bậc trong Ngũ chi
Đại Đạo:Nhơn Đạo,Thần Đạo,
Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo;
nghĩa là linh hồn sẽ men theo Đại Đạo mà
đến những cảnh giới tương ứng
để thành Thần, Thánh ,
Tiên hay Phật hoặc sang
một quả địa cầu khác có tŕnh độ
tiến hóa cao hơn đối với bậc Nhơn
Đạo. Phải phân biệt, 5 thứ bậc trong
Ngũ chi Đại Đạo là một phạm trù khác
với phạm trù Tam Giáo Đạo là ba con đường dẫn
về Đại Đạo mặc dù cách gọi giống
nhau. Nói rơ hơn, người tu hành dù đi theo Phật,
theo Lăo hay Khổng cũng đều có khả năng
tiến hóa tuần tự theo 5 bậc tu tiến của
Ngũ chi Đại Đạo để trở về
đích điểm cuối cùng Đại Linh Quang, căn
cứ theo lời dạy của Đức Thượng
Đế: “Ngày nào các con bỏ xác phàm này là ngày các con
cởi bỏ một cái áo của các con; rồi các con sanh
qua Trung giới th́ các con cắt ĺa cái phách, tức là
cởi bỏ thêm một cái nữa. Đến
Thượng giới th́ bỏ cái vía. Đến Bồ
Đề th́ cởi bỏ cái hạ trí. Đến Tứ
Tượng th́ cởi bỏ cái thượng trí.
Đến Lưỡng Nghi th́ cởi bỏ cái Kim Thân.
Đến Thái Cực th́ linh hồn được
hiệp cùng Tạo Hóa.” (8)
2 – Ư NGHĨA
“ĐẠI ĐẠO” TRONG DANH XƯNG ĐẠI
ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Theo quan điểm Cao
Đài, các tôn giáo ngày nay mặc dù cũng có nguồn gốc
khai sinh từ Thượng Đế, nhưng do bởi
trải qua mấy ngàn năm lịch sử, bị con
người đem ḷng tư dục canh cải cho nên không
c̣n bản chất nguyên sơ với đầy đủ
chất lượng, tiêu chuẩn mà các vị Giáo Tổ
đă truyền trao lúc đầu để dẫn dắt
con người t́m thấy con đường bao la nối
liền Trời và vạn hữu hầu đạt
Đạo. Trong khi đó, chu kỳ vũ trụ đă
sắp giáp mối tuần hoàn, kết thúc một qui tŕnh
tiến hóa của vạn hữu, con người sẽ
không c̣n thời gian để thực hiện cuộc
tiến hóa theo cách tuần tự như đă nói trên,cho nên
Đức Thượng Đế đích thân xuống
trần với danh xưng “Cao Đài Tiên Ông” mở ra
một nền tôn giáo mới có tên gọi là Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để dẫn
dắt con người đi theo một con đường
tắt : “Tam Giáo Qui Nguyên-Ngũ Chi Phục Nhất”
để các Tiểu Linh Quang rút ngắn con
đường tiến hóa, kịp quay về hoàn tất
sứ mạng như lời Thánh giáo Cao Đài: “Từ
cơi thượng thiên, chơn linh được xuống
đến cơi hồng trần, trên quảng
đường dài bao nhiêu lớp, nhưng cứ tuần
tự phản bổn hoàn nguyên trên quảng
đường ấy rồi một thời gian cũng
sẽ đến. Tuy nhiên, cũng có lối đi tắt
trong tam Kỳ Phổ Độ để cho các hàng
hướng đạo, các bậc chân tu sớm giác ngộ
tŕ chí hy sinh can đảm để đi về ngơ tắt
ấy, mà ngơ tắt ấy chính là dụng cụ bén nhạy
để nhận chân phân tích tính chất của sự
hư thiệt chơn giả thiện ác.(... ) Hỡi
những ai muốn rút ngắn quảng đường
tiến hóa để đi về ngơ tắt, phải
thực thà tŕ chí, kiên tâm, hi sinh, đại lượng, phá
chấp, đừng dối ḷng, để sớm trùng hoan
cùng các Đấng trong thú tiêu dao non bồng nước
nhược.” (9)
Có thể nói Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một thực
thể mà Đức Cao Đài sắp bày để thể
hiện trong cơi hữu h́nh toàn bộ cơ cấu hoạt
động của thế giới vô vi đang tác
động lên vạn hữu mà cụ thể là thế
giới loài người, để trả lời câu hỏi của nhân loại
đă được nêu lên tự ngàn xưa:Con
người là ai? Từ đâu
tới? Tới đây để làm ǵ? Rồi sẽ đi
về đâu?. Chính v́ vậy mà tôn giáo của Đức
Thượng Đế có tên gọi là “ Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ” với hai chữ “Đại
Đạo” vẫn hàm chứa ư nghĩa “con
đường rộng lớn” nối liền hai thế
giới Hữu-Vô từ buổi khai Thiên lập
Địa, nhưng được triển khai thêm
những ư nghĩa cụ thể, chi tiết mang tính hữu
h́nh mà con người có thể hiểu và thực hành.
Trong tinh thần đó,
nếu hiểu Đạo hay Thái Cực hay Đại Linh
Quang là Thể và
Đại Đạo là
Dụng, th́ tương tự có thể so sánh, trong phạm
vi hữu giới nơi quả địa cầu này vào
thời kỳ Hạ ngươn mạt pháp, Cao Đài là
Thể, tiêu biểu cho ngôi Thượng Đế; và
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cũng
là Đại Đạo, là Dụng. Từ đó, có thể
định nghĩa: “Đại Đạo” trong danh
xưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là
“con đường rộng lớn” mà Đức Cao Đài
Tiên Ông khai mở trong Kỳ Ba theo đúng mô h́nh “Đại
Đạo” có sẵn để con người theo đó,
vận dụng thoát ra khỏi những bế tắt
của đời sống nhân sinh trong giai đoạn mà
sự mất quân b́nh giữa trí năng và đạo
đức đă lên đến cực điểm gây
nhiều tai họa cho thế giới loài người, đồng thời cũng là con
đường tiến hóa mà linh hồn con người
nương theo để t́m về với cội nguồn
cho kịp tiến tŕnh qui nguyên, kết thúc chu kỳ
tuần hoàn vũ trụ.
Như vậy theo Cao
Đài giáo, “Đại Đạo” trong danh xưng
ĐĐTKPĐ cũng là con đường rộng
lớn được chính Đức Thượng
Đế mở ra trong kỳ phổ độ lần
thứ ba nối liền giữa người với
người để tạo nên một xă hội
đại đồng Thánh đức; con đường
đó cũng nối liền các tôn giáo với nhau
để cùng quy về điểm chung nhất trên cơ
sở “Vạn giáo đồng nhứt lư” để con
người không c̣n sự phân biệt tôn giáo này hay tôn giáo
nọ mà nhận đúng bản chất tôn giáo là
phương tiện để từ đó tâm linh con
người được soi sáng, giúp con người t́m thấy
con đường giải thoát theo đúng tiến tŕnh
tiến hóa của vũ trụ. Trong ư nghĩa đó,
Đại Đạo chính là tinh thần phá chấp mà
ĐĐTKPĐ của Đức Cao Đài đă nêu : “Cao
Đài không phải Cao Đài , chính thị Cao Đài”
Như vậy, giữa “ĐẠI
ĐẠO” VÀ “ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ
ĐỘ”, tuy vẫn là “con đường dẫn về
với Đạo, nhưng có sự khác biệt có thể
h́nh dung: nếu “Đại Đạo” là con
đường rộng lớn xuyên suốt mọi không
gian và thời gian cho vạn hữu tự do ra đi và
trở về theo một qui luật tiến hóa, th́ “Đại
Đạo” trong Tam kỳ phổ độ, là con
đường tắt thu ngắn tiến tŕnh tiến hóa
của con người trên chặng quay về không qua các
giai đoạn cởi bỏ các lớp áo để
vượt qua các nấc thang trong Ngũ chi Đại
Đạo theo “con đường Đại Đạo
truyền thống”, nhưng rồi cũng nối với “Đại
Đạo” dẫn về ngôi Thái Cực.”Con
đường tắt” đó đặc biệt chỉ
dành cho những Tiểu Linh Quang đă tiến hóa
đến giai đoạn làm người, và để có
thể theo con đường đó trở về, con
người cũng phải tuân theo những qui luật
đặc biệt mà Đức Thượng Đế
đă đặt riêng cho “Tam Kỳ Phổ Độ”.
Những qui luật đó không đi ra ngoài chân lư mà con
người đă từng chứng nghiệm qua các tôn giáo
ra đời trong nhứt và nhị kỳ phổ
độ theo con đường Tam Giáo Đạo dẫn
về Đại Đạo. Tuy nhiên, như đă nói,
để bỏ qua các tầng lớp tiến hóa của
Ngũ chi Đại Đạo, đi thẳng đến
Đạo, gọi là “Ngũ Chi Phục Nhứt”, th́
phải đi theo một lộ tŕnh đặc
biệt, đó là con
đường “Tam Giáo Quy Nguyên”.
Nói rơ hơn, theo quan niệm Cao
Đài, một cội “Đại Đạo”, sanh ba nhánh in
nhau là “Tam Giáo Đạo”
để làm chiếc cầu nối liền “Hậu thiên
và Tiên thiên” được hữu h́nh hóa bằng các h́nh
thể tôn giáo ra đời trong thế giới loài
người ở những thời kỳ khác nhau mà
điển h́nh vẫn c̣n tồn tại là Phật giáo, Lăo
giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo cung cấp cho con người
phương cách tu hành để linh hồn con người
bước qua ngưỡng cửa siêu xuất thế gian,
vào cơi thượng thiên vô h́nh rồi lần theo trở
về điểm xuất phát là ngôi Thái Cực theo
những tŕnh tự tiến hóa: Nhơn Đạo,Thần
Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật
Đạo. Nay ở vào thời Tam kỳ Phổ
độ, “chiếc cầu Đại Đạo” đó
đă được Đức Cao Đài nối dài vào ngay
cơi thế gian h́nh thành một nền tôn giáo có tên “Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” tổng hợp tinh
hoa của ba nền tôn giáo Nho -Thích -Lăo, vốn cũng
từ Ngài đặt ra qua các vị Giáo Tổ, để
con người áp dụng mà đi thẳng trở về “Đại
Đạo”.
Có thể ví, Phật giáo,
Lăo giáo, Khổng giáo... .như là những bài giảng dài,
rồi trải qua thời gian , con người sử
dụng đă không c̣n giữ được sự chính xác,
cho nên bị giảm tính hiệu quả . Nay Đức Cao
Đài nhắc lại và muốn cho con người dễ
hiểu, dễ hành, Ngài đă tóm tắt những
điều chính yếu của bài giảng là những
điều cần thiết, đủ để con
người làm theo trong một thời gian ngắn nhất
đạt được hiệu quả tích cực cao
nhất là giải thoát về cả hai mặt nhân sinh và tâm
linh.
Mặt khác, “theo qui
luật “hữu h́nh hữu hoại”, không có ǵ tồn
tại vĩnh viễn trong thế giới nhị nguyên này,
các tôn giáo đă được khai mở trong các thời
kỳ lịch sử nhân loại, rồi cũng phải có
lúc kết thúc sứ mạng của nó theo qui luật
đào thải diễn tiến trong cơi hữu giới. Tam
kỳ Phổ độ, theo giáo lư Cao Đài, chính là
thời kỳ chuẩn bị một sự chấm
hết của toàn thể vũ trụ để tái
tạo một chu kỳ mới, và dĩ nhiên vai tṛ của
các tôn giáo cũng sẽ không c̣n, cho nên “Tam Giáo Qui Nguyên”
cũng chỉ là sự báo hiệu phù hợp với qui
luật tự nhiên của vũ trụ.
Từ ư nghĩa đó, tôn
giáo Cao Đài hay ĐĐTKPĐ được chính
Đức Thượng Đế khai sinh với chủ
trương “Đại ân xá” hướng đến
sự cứu độ tất cả mọi người
trên quả địa cầu này, không những chỉ
về khía cạnh tâm linh, tức là sự cứu rỗi
linh hồn, mà c̣n nhằm cứu giúp con người về
mặt nhân sinh tức là chỉ ra cho con người
phương hướng để ổn định
mọi mặt cuộc sống trong phạm vi toàn nhân loại
mà suy cho cùng hiện đang bị đắm ch́m trong
khổ đau từ nhiều nguyên nhân, nhưng tựu trung
cũng không ra ngoài sự tranh chấp quyền lợi
từ vật chất cho đến tinh thần giữa cá
nhân với cá nhân, giữa quốc gia với quốc gia,
giữa tôn giáo với tôn giáo... mà nếu con người
vẫn tiếp tục sẽ đưa nhân loại
đến chỗ diệt vong. Và đó chính là cứu cánh mà
tôn giáo Cao Đài đă nhắm đến là “ Thế
Đạo Đại Đồng và Thiên Đạo
Giải Thóat”.
Từ những quan
niệm trên, thuật ngữ “ Đại Đạo” đă được Cao Đài
giáo đề cập đến qua Thánh ngôn, Thánh giáo
với nhiều ư nghĩa khác nhau.
1 - “Đại Đạo”
là cách gọi tắt của ĐĐTKPĐ, tên gọi
của tôn giáo do Đức Cao Đài sáng lập với
những ư nghĩa đă nêu trên và được sử
dụng rất nhiều trong kinh sách Cao Đài như: “khai Đại Đạo”, “tiền
đồ Đại Đạo”, “Bước
đường Đại Đạo”, “thống nhất
Đại Đạo”...
2 - “Đại Đạo”
là nền tảng đạo lư mà con người phải
tuân thủ để tạo lập một sự trật
tự ổn định trong xă hội loài người:
“... Đời đă lâm
cảnh trạng quá đảo điên, nên dục vọng
của nhơn sanh làm ngửa nghiêng nền Đại Đạo.”
(10)
3 - ”Đại Đạo”
được hiểu là phần “Tinh thần vô vi” không
thể thiếu trong 2 mặt của thế giới
nhị nguyên, ngay tôn giáo Cao Đài cũng phân rơ:
“Cao Đài Đại
Đạo thuộc về phần Tiên Thiên Vô Vi tức là
Nội giáo Vô Vi, tâm pháp bí truyền, chỉ cách tu tánh
luyện mạng mà phản bổn huờn nguyên, siêu phàm
nhập Thánh. Cao Đài Đại Đạo chỉ rơ
chơn lư căn cơ của Trời Đất để
chọn lựa riêng (phần ít) những người có tính
cách nguyên nhân, chán đời tầm đạo, gát ṿng danh
lợi, phế dẹp t́nh đời, không lưu luyến
hồng trần, cầu bất sanh bất tử. Đó
thuộc về khoa “Nội Giáo tâm truyền khẩu
thọ, luyện đạo tu đơn.”
“C̣n Cao Đài Tôn giáo
tức là Ngoại Giáo Công truyền để phổ thông
đạo đức, độ người mới
bước đầu tiên vào tầm chơn lư, nên chi c̣n dùng
h́nh thức bề ngoài mà giục ḷng sanh chúng, noi theo
đường đời, dùng thinh âm sắc tướng,
có áo rộng măo cao, tước phẩm chức sắc thiên phong làm cho vẻ vang trật
tự. Thầy hay vừa ḷng chúng sanh, muốn món chi
Thầy cho món ấy:đứa th́ ham ăn ngọt,
đứa lại thích món chua; nào ngọt ngào, chua ,cay, chát,
con nào dùng món nào, Thầy cũng sắm sẵn cho các con món
ấy.” (11)
Đây chính là lư do sự
hiện hữu của 2 phái “phổ độ” và “vô vi”
trong tôn giáo Cao Đài.
4 – “Đại Đạo”
là đường lối hướng dẫn người
tín đồ Đại Đạo tu học và thực hành
hầu đạt đến mục tiêu mà Đức Cao
Đài đă đề ra, được diễn tả qua
thuật ngữ “Tinh thần Đại Đạo” hàm chứa nhiều ư
nghĩa tích cực rốt ráo bàng bạc trong toàn bộ giáo
lư Cao Đài được gói gọn trong bài kinh
đọc kết thúc các thời cúng mỗi ngày của người
tín đồ Đại Đạo, là bài “Ngũ Nguyện”
với câu nguyện đầu tiên: “Nhứt nguyện
Đại Đạo hoằng khai”.
* Tinh
thần bác ái, thương yêu muôn loài vạn vật:
Giáo lư Cao Đài dạy rằng vũ trụ đă
được sinh ra từ đức háo sanh của Ngôi
Thái Cực. Do đó, t́nh thương là nguyên lư để
vũ trụ này hiện hữu và tồn tại; con
người muốn tồn tại không thể nào ra ngoài
nguyên lư bất biến đó. “Thầy là cha của
sự thương yêu. Bởi sự thương yêu
mới tạo thành thế giới và sanh sản các con.
Vậy các con sản xuất nơi sự thương yêu
là cơ thể của sự thương yêu đó.” (... ) “Sự
thương yêu là giềng bảo sanh của càn khôn thế
giới, bởi thương yêu mà vạn loại ḥa b́nh,
càn khôn an tịnh. Đặng an tịnh mới không thù
nghịch lẫn nhau, mới không tàn hại nhau, không tàn
hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa.” (12)
Như vậy, khi nguyện
“ Đại Đạo hoằng khai” là người tín
đồ Cao Đài đang
cầu xin và nguyện hứa mang t́nh thương
đến với tất cả mọi người,
để t́nh thương luôn hiện hữu lan tràn trong xă
hội nhân loại, v́ “t́nh thương “ là cái Đạo
lớn của Trời ban phát cho muôn vật, con người
từ “T́nh thương” đi ra, con người phải
biết nuôi dưỡng, ǵn giữ t́nh thương,
để có điều kiện trở về với “T́nh
thương”.
* Tinh
thần Nhân bản, nguồn cội: Theo giáo lư Cao Đài,
như đă tŕnh bày, nguồn gốc con người
vốn từ Đại Linh Quang Thượng Đế,
trải qua những chặng đường tiến hóa,
con người luôn mang theo hành trang của Thượng
Đế ban cho là điểm sáng tiềm ẩn trong
tận cùng lương tri con người. Điểm sáng
đó , giáo lư Cao Đài gọi là “Nhân bản”, chính là
điểm kết nối giữa người với
Trời, hay nói cách khác là dấu vết nguồn gốc
đầu tiên của con người. Từ đó, con
người sẽ nhận ra sự liên hệ mật
thiết giữa người với người v́ chung
một cội nguồn để xóa đi khoảng cách
phân biệt , kỳ thị, dù không cùng màu da , sắc tóc.
“Lúc Đức Thượng
Đế tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong
đó có loài người, th́ dưới chân của Ngài,
trước mặt của Ngài, con người vẫn duy
nhứt là anh em với nhau, bởi đồng tính đồng
chất, (... ) con người chậm tiến th́ nhận
định sự phải quấy thiện ác với tư
tưởng chậm tiến, con người văn minh
th́ nhận định
thiện ác phải quấy qua tư tưởng văn
minh. Tuy những dân tộc loài người trên quả
đất được phân biệt an định ở mỗi
khuôn khổ, vị trí và hoàn cảnh xă hội xa nhau, khác
nhau; song sự xa cách, sự khác biệt ấy không phải
là vấn đề cho con người quên mất nguồn
gốc ḿnh vốn một, quên mất bản chất ḿnh là
nhân từ như Thượng Đế, che chở lẫn
nhau, hỗ trợ lẫn nhau giữa người và người,
đồng thời săn sóc ǵn giữ cho bao loài hạ
tiện khác đang sống dưới tầm mắt trí
khôn của nhân loại.” (13)
Mối liên hệ giữa
người và người không chỉ trong phạm vi không gian mà c̣n ở
tầm kích thời gian, cho nên “Nhân
bản” theo giáo lư Cao Đài ,
cũng chính là cội nguồn ḍng họ, quê hương,
ṇi giống, tín ngưỡng của mỗi con người
có mặt trên trái đất này. V́ vậy, tôn trọng nhân
bản là tưởng nhớ
công ơn cha mẹ, tổ tiên, là sự hoài niệm tri ân
những người đă có công tạo dựng và giữ
ǵn tổ quốc, làm nên gia tài tinh thần dân tộc,
cũng như những bậc
khai sáng tôn giáo đă để lại những ngọn đuốc soi
đường đạo lư cho đời. “Trải bao
ngàn năm lăn lộn với cuộc sống đầy
dẫy những đau khổ, những tương tranh,
đổi lấy sự sống c̣n cho ḍng giống,
đồng thời những bậc anh hùng khai quốc
đều lưu lại những sự nghiệp vật
chất và tinh thần rất hào hùng và vẻ vang cho hậu
thế noi theo cùng thừa hưởng. Vậy là những
người theo sau đều tự thấy có bổn
phận phải bảo vệ và săn sóc tinh thần
truyền thống cao đẹp của cha ông để lại,
dù phải bách chiết thiên ma cũng bền ḷng giữ
vững tinh thần ấy để phát huy cho đoàn
hậu thế... ”
* Tinh
thần Phá chấp:
-- Trên b́nh diện tôn giáo:
Đưa ra tôn chỉ “Tam giáo quy nguyên-Ngũ chi phục nhất”,
tôn giáo Cao Đài minh định tinh thần “ vạn giáo
đồng nhất lư” để khẳng định quan
điểm : “Tôn giáo là con thuyền đưa khách, mà
Đạo là bến đỗ. Tất cả các con
thuyền đều xuôi về bến đỗ” (14).
Tôn giáo chỉ là phương tiện h́nh thức để
dẫn dắt con người t́m đến chỗ chân
thiện mỹ là Đạo. Giáo lư đồng nhất
của Đại Đạo chính là chân lư, là điểm
chung của tất cả tôn giáo.
“Từ xưa đến nay, các
tôn giáo, các giáo phái trong Tam Giáo Đạo chỉ khác hẳn
ở h́nh thức do tập quán phong tục mỗi xứ,
mỗi nơi. Thật ra, mục đích và tác dụng là
tạo cho nhân loại sống đến chân thiện
mỹ trong đời, và đời khỏi diễn ra
cảnh ngục h́nh ác đạo th́ các con nào có trách
nhiệm nào, hăy giữ nguyên trách nhiệm ấy và hăy xem các
tôn giáo bạn, các hội thiện bạn cũng
đồng trách nhiệm, nên tương trợ, khuyến
khích nâng đỡ với nhau, dầu nặng nhẹ ít
nhiều, kết quả các con sẽ gặp lại nhau trên
giáo lư đồng nhứt của Đại Đạo.”
(15)
Theo quan niệm của Cao
Đài, một trong những nguyên nhân đưa đến
mâu thuẫn xung đột trong thế giới loài
người hiện nay là sự kỳ thị, phân chia tôn
giáo, do bởi mục đích của tôn giáo đă không c̣n
đúng theo ư nghĩa nguyên sơ
của nó. Con người đă biến tôn giáo thành
một thứ sở hữu riêng tư cần phải
bảo vệ, thậm chí tôn giáo c̣n được coi là
một giai cấp thống trị mang tính thần
quyền. V́ vậy, Cao Đài quan niệm những vấn
đề của tôn giáo chỉ có thể giải quyết
khi nào tôn giáo vượt được qua những rào
cản của chính nó để vươn lên tầm vóc
Đại Đạo, tức là con người phải
đưa tôn giáo trở lại vị trí đích thực
của nó:”... tôn giáo là phương hướng giáo
thuyết để dạy đời nh́n thấy những
ǵ thiêng liêng cao cả. Chẳng những chỉ ở
phần tâm linh tối thượng mà tôn giáo c̣n dạy
người đời xem nhau như t́nh ruột thịt
huynh đệ đại đồng. Tuy khác nhau ở màu
da sắc tó nhưng cũng đồng thọ bẩm
đức háo sanh dưỡng dục an bài của luật
đương nhiên tạo hóa” (16)
-- Đối với cá
nhân: Tinh thần phá chấp trong tôn giáo Cao Đài
được mô tả là sự cởi bỏ những câu
nệ, vướng mắc trong tâm con người
đối với sự vật, sự kiện trong
đời sống để tâm linh được khai
mở, trở nên vong kỷ vị tha, hành động theo
lương tâm và đạo lư, quên ḿnh v́ mọi
người, v́ ích lợi chung của cộng đồng;
lấy việc phụng sự tha nhân làm niềm vui,
lấy việc xả thân cho dân tộc, tổ quốc làm
niềm hănh diện. Bởi v́ đó chính là đă làm theo ḷng
Trời Đất.
Mặt khác, tinh thần
Đại Đạo trong khía cạnh phá chấp c̣n
được thể hiện qua cách tu nhập thế
của tôn giáo Cao Đài, không bắt buộc người
tín đồ phải có một lối sống cách biệt
với người đời về mặt h́nh thức:
“Ở ăn như thể
thường t́nh
Lo tu luyện Đạo
sửa ḿnh tinh ba.
Tu không biểu mặc
đồ dà
Cạo râu thí phát bỏ
nhà ĺa con”
(17)
Tinh thần Đại
Đạo c̣n là sự chấp nhận mọi hoàn cảnh
của cuộc đời một cách an nhiên tự tại “(...
) Dầu đứng trước muôn ngàn ngoại
cảnh đổi thay cũng đừng để ḷng xao
động.Luôn luôn diệt trừ phiền năo, chấp
trước để không vui, không buồn, không nhơn ngă,
không bạn, không thù, không tà, không chánh, không thị phi ân oán.”
* Tinh
thần chánh tín: Giáo lư Cao Đài dạy tín đồ tu hành
phải theo đường
chánh tín v́ “tôn giáo là cửa
vào t́m Đạo”, ở đó, con người t́m thấy
những tiêu chuẩn tu sửa
để hoàn thiện hóa thân tâm; việc thờ cúng
các Đấng Thiêng Liêng là thể hiện ḷng tôn kính,
đồng thời cũng là phương cách nhắc
nhở con người học và hành theo những
điều đạo lư chớ không phải nhằm
mục đích cầu xin ơn phước, lợi lộc
hay tránh điều tai họa “Sự lễ bái cúng
lạy qú mọp ngoài ư nghĩa trịnh trọng thi lễ
với Phật Trời, lại c̣n có ư nghĩa câu thúc thân
ḿnh trong sự khó khăn để trừ bớt
nghiệp thân. Tịnh khẩu hoặc niệm Phật
tụng kinh để trừ bớt nghiệp khẩu;
nhắm mắt tham thiền hoặc ngó ngay vào tượng
Phật hoặc ngọn nhang, ngọn đèn lưu ly là
để trừ lần nghiệp nhăn; tham thiền
định ư khép chặt không tư tưởng, suy nghĩ
vẩn vơ phóng túng để trừ lần nghiệp ư;
thiền định không chấp nhận mọi tiếng
động vào tai để trừ lần nghiệp
nhĩ.” (18)
Tinh thần Đại
Đạo hàm chứa ư nghĩa chánh tín c̣n được
giải thích qua những qui điều giới luật tôn
giáo mà người tín đồ bắt buộc phải
theo: “Mặc áo đạo để được nghiêm
chỉnh không nói, không dám làm điều trái đạo; làm
cho thân thể ḿnh mất mỹ thuật như thí phát, áo
bả nâu ṣng, chơn đi không dép, đó là ngăn chận
sự quyến rũ của tha nhân quấy rầy không
được an thân hành đạo; ăn chay lạt cho
nhiều để thể hiện ḷng bác ái hy sinh- bác ái
với loài vật, không nỡ giết chúng để nuôi
ḿnh sống; hy sinh sự thèm thuồng rượu ngon
thịt béo để làm chủ được thất t́nh
lục dục. Đó là những phương tiện
cần kíp cho người tu, và cũng đừng chú
trọng đến đó là được thành chánh quả.
Nói rơ hơn, ăn chay,
niệm Phật, cúng lạy, hiến dâng, lễ bái, áo
bả nâu ṣng là những phương tiện không lấy
đó làm đề tài chính để thành chánh quả. Nhưng
muốn thành chánh quả phải có những phương
tiện đó gắn bó bên ḿnh từ nội tâm đến
ngọai thể.” (19)
* Tinh
thần Trung dung- Tâm vật b́nh hành - nhập thế: Tinh thần Đại
Đạo được nói đến ở đây, dù
trong bối cảnh tôn giáo, thuộc lĩnh vực tâm linh,
nhưng không loại bỏ phần vật chất hữu
h́nh v́ Cao Đài quan niệm, nơi cơi nhị nguyên , tất
cả mọi sự vật, sự kiện đều luôn
có hai mặt đối đăi, mâu thuẫn nhau nhưng
nhờ đó mà xác nhận được sự hiện
hữu của nhau. Mặt khác, dó cũng là nền tảng
của nguyên lư Aâm Dương tạo thành vũ trụ,
vạn vật. Dương là phần vô h́nh, c̣n Aâm là
phần hữu chất. Đời sống con người
không thể tách rời hai mặt nhân sinh và tâm linh, v́ không
thể phủ nhận con người gồm hai phần:
vật chất hữu h́nh là thể xác và phần vô h́nh là
linh hồn hay c̣n gọi là ư thức.
Do vậy, Cao Đài
chủ trương “Tâm Vật b́nh hành” để nhấn
mạnh con người phải làm tṛn trách nhiệm làm
người về mặt nhân sinh thế đạo,
với những bổn phận tự nhiên trong cuộc
sống; bên cạnh đó, cũng phải song hành trau
luyện phần tinh thần, học tu theo Thiên đạo
để tâm linh tiến hóa, trở về với
Đại Đạo, theo đúng luật tắc của
vũ trụ.
“Tâm vật b́nh hành “ là
đường lối trung dung nói lên tinh thần
Đại Đạo, tức con người không thể
chỉ thiên về phần linh hồn mà quên đi phần
thể xác, hay ngược lại chỉ chú trọng
về thể xác mà không biết đến phần linh
hồn . Nói rơ hơn, con người tu hành vẫn cần
đến những tiện nghi vật chất cho cuộc
sống nhưng không xem đó là mục đích của
kiếp người, để bị đóng khung trong
những mưu cầu, hệ lụy mà đánh mất
phần tâm linh cũng cần tinh tấn để phát huy
năng lực tiềm ẩn của Trời ban phát.
* Tinh
thần Đại đồng: là sự b́nh đẳng giữa
con người với con người trên căn
bản là sự
đồng nhất về bản thể có cùng chất
Trời như nhau, nên cùng có quyền sống và tiến hóa
ngang nhau. Tuy nhiên, trên b́nh diện nhân loại, do bởi có sự
khác biệt về dân tộc, địa lư, tŕnh độ
văn minh, văn hóa khác nhau nên hiện hữu trong
những hoàn cảnh khác nhau, có những sắc thái riêng
biệt khác nhau, cho nên giáo lư Cao Đài quan niệm :
Đại đồng là sự đón nhận, tán thưởng,
ḥa hợp những giá trị cùng mang tính chân thiện
mỹ. Đại đồng không phải là sự xóa
bỏ những nét đặc thù, dị biệt truyền thống của mỗi
dân tộc. Ngược lại, vẫn duy tŕ những
dị biệt, rồi dung ḥa thành cái đồng nhất
trong sai biệt, tạo nên một sự thống nhất
trong tinh thần nhân loại trên cơ sở nhận
thức sự tồn tại bất biến của nhân loạitính
trong tất cả biểu hiện đa dạng của dân
tộc tính
Trong phạm vi mỗi
quốc gia, tinh thần Đại đồng chính là
sự tương trợ giúp đỡ nhau trong t́nh
nghĩa đồng bào để cùng nhau xây dựng một
cuộc sống tiến bộ hoàn hảo. Trên b́nh diện
thế giới, tinh thần Đại đồng
được thể hiện bằng sự trao
đổi hợp tác giữa các quốc gia trên tinh thần
tôn trọng chủ quyền lănh thổ và bản sắc
văn hóa dân tộc của mỗi nước, không phân
biệt chủng tộc,tôn giáo, thể chế chính trị
để cùng bổ sung những thiếu sót của nhau
hầu tạo được một sự phát triển
đồng bộ, không để nơi này chói ḷa trong ánh
sáng văn minh, nơi kia lại đắm ch́m trong tối
tăm, đói nghèo, lạc hậu.
* Tinh
thần Thiên nhân hiệp nhất: Đây chính là tinh thần
rốt ráo của Đại Đạo.
Cuộc sống của
nhân loại chỉ tồn tại nếu được
vận hành theo đúng thiên lư. Do vậy, giáo lư Cao Đài
dạy người tín đồ phải sáng suốt
định cho ḿnh một hướng đi cho đúng
với lẽ Trời. Đó
là con đường quay về nội tâm mỗi
người để tháo gỡ bức màn vô minh chắn
che ánh sáng của điểm linh quang tự hữu ẩn
trong tận cùng tâm thức : “Khi điểm linh quang mang
vào lớp áo tứ đại này, khác chi bức màn vô minh
bao trùm ánh sáng bất diệt. Người ở thế gian
dầu hàng đạo đức uyên thâm hoặc hàng
thế nhân sa đọa cũng đều có ánh sáng bất
diệt ấy ngấm ngầm nơi nội thể. Có
học đạo, hiểu đạo, t́m được
mấu chốt là cái ch́a khóa, mới có thể mở
lần những bức màn vô m,inh ấy. Lúc bấy giờ
thấy được ḿnh với Trời là một. (... )
Tóm lại, “Nhứt
nguyện Đại Đạo hoằng khai” là câu kinh
nhắc nhở người tín đồ Cao Đài hiểu
và hành đúng tinh thần Đại Đạo với
tất cả quan niệm đă tŕnh bày trên đây
để có thể đặt chân lên con
đường “Đại
Đạo” trong Kỳ Ba Phổ Độ hầu
được Đức Cao
Đài dẫn dắt trở lại quê hương xưa
cũ theo đúng luật tắc tuần hoàn của vũ
trụ.
KẾT
LUẬN
Những “Quan niệm
về Đại Đạo của Cao Đài”
được tŕnh bày trong bài viết này, đă
được rút ra từ Thánh ngôn, Thánh giáo của tôn giáo
Cao Đài, một tôn giáo thuần túy Việt Nam hiện
hữu chưa đầy một thế kỷ, chắc
chắn vẫn chưa lột
tả đầy đủ trọn vẹn những ư
nghĩa chứa đựng trong thuật ngữ “Đại
Đạo”, nhất là đối với những ư
niệm trừu tượng trong lĩnh vực vô vi.
Những quan niệm này
đă được diễn dịch bởi tư duy
của phàm trí qua sự t́m hiểu các lời dạy
của các Đấng Thiêng Liêng qua cơ bút, có thể chưa
hoàn toàn chính xác theo Thánh ư và về phương diện
hữu vi, có thể chưa được người
đời chấp nhận v́ c̣n quá mới mẻ, nhưng
ít nhất cũng đă khẳng định một
điều là Cao Đài không phải là một tôn giáo có tham
vọng thống trị các tôn giáo khác như đă từng
bị ngộ nhận và cũng có một hệ thống
giáo lư hoàn chỉnh để con người học hỏi
mà tiến hóa lên những nấc thang cao hơn.
Đại Đạo Tam Kỳ
Phổ Độ chỉ là con thuyền đưa khách t́m
về bến bờ giải thoát tâm linh.
Việt Thu
GHI CHÚ
(1) Đại Thừa
Chơn Giáo, tr.84
(2) NHTĐ- Vĩnh Nguyên
Tự
(3) Đại Thừa
Chơn Giáo, tr.88
(4) Đức Đông
Phương Chưởng Quản- CQPTGL
(5) Đức Lư Giáo
Tông - Nam Thành Thánh Thất
(6)
Theo
Đại Thừa Chơn Giáo
(7)
Đức
Thượng Đế- ĐTCG
(8)
Đại
Thừa Chơn Giáo
(9)
Đức
Vạn Hạnh Thiền Sư- TGST 1970-1971
(10)
Đức
Vạn Hạnh Thiền Sư- TGST 1970-1971
(11)
Đại
Thừa Chơn Giáo
(12)
Đức Chí Tôn- TNHT Q.2
(13) Đông Phương Chưởng Quản-
TGST 1970-1971
(14) Đức Chí Tôn- TGST 1970-1971
(15)
Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu- TGST 1966-1967
(16) Đức Vạn
Hạnh Thiền Sư -TGST 1969-1970
(17)
Đức Chí Tôn- ĐTCG
(18)
Đức Di lạc Thiên Tôn-TGST 1968-1969
(19)
Đức Di Lạc Thiên Tôn- TGST 1968-1969