Em Hai ơi !
Minh Thùy
Xóm Nghĩa địa ở
bên rìa thành phố, gần một huyện ngoại thành.
Cái tên nghe rờn rợn,
nhưng người ở xóm hiền khô, toàn ông già, bà già
từ U70 trở lên với đám nhóc tì 4 tuổi trở
xuống thì dữ dằn với ai. Đám tuổi teen
với tuổi sồn sồn, còn đủ sức
đạp xe ba bánh, xe xích lô, xe thồ thuộc cánh đàn
ông; hay buôn gánh bán bưng, làm nghề giúp việc thuộc
giới chị em; đám choai choai của đội quân
lượm rác đều từ giã xóm ra đi từ lâu.
Bám trụ ở đây chỉ có cạp đất mà
ăn, còn uống thì có “con kinh ta đào chưa có
nước chảy qua...”. Chờ cơn mưa xẹt qua,
con kinh mới thành vũng nước suối Vĩnh
Hảo cho thần dân cả xóm.
Ở đó Tư Râu làm tổ
trưởng dân phố, do dân bầu lên, chứ không
phải do chính quyền chỉ định. Chẳng qua
nhờ ông biết đọc, biết viết kha khá, có
thời gian làm thầy giáo kiêm trưởng ban xóa mù
chữ.
Lớp học hồi mới
chiêu sinh đông hết biết, đi học phải xách
theo ghế từ nhà đến lớp vì không đủ
ghế cho học sinh, hôm nào cúp điện thì xách theo
đèn dầu, không khí rộn ràng, vui nhộn, đám
trẻ gào lên bài hát: “Hôm nay em học vần a, là mờ a ma
sắc má...”. Được nửa năm, lũ trẻ
học thêm bài hát ông Tư thích nhất: “Khi thầy viết
bảng bụi phấn rơi rơi. Có hạt bụi nào
rơi trên bục giảng, có hạt bụi nào rơi trên
áo thầy...”.
Từng đứa học trò
ở lớp xóa mù chữ theo nhau biến mất vì
tiếng gọi của bao tử, cha mẹ lên thành phố
kiếm ăn, kéo theo đàn con làm phụ tá. Khi lớp xóa
mù chữ chỉ còn mình Tư Râu thì đành dẹp tiệm,
vậy mà chòm xóm vẫn gọi “thầy Tư”. Ông trở
qua nghề đánh xe thổ mộ đưa khách từ
ngoài đường cái đi thăm mộ ở các khu
nghĩa địa sâu trong xóm. Hồi mới đổi
đời, xóm nghèo đến mức không có xe lam, nhà nào khá
giả có cái xe đạp, phần đông dân trong xóm
đều phải lội bộ, ai có chuyện gấp
mới leo lên xe ngựa của ông Tư, có khi khỏi
phải trả tiền.
-Sớm mai thầy Tư qua xóm
Bông chở hàng dùm nghe!
Ông đang đứng ngoài sân,
phì phèo điếu thuốc tự vấn bằng giấy
báo, bà Năm Chòi ghé qua dặn.
- Xong ngay, hàng nhiều hông,
mấy người?
- Mấy gánh bông vạn
thọ, bông cúc, thêm mấy bà bán xôi, bán bún quá giang đi luôn,
không sợ ít khách đâu ông Tư.
- Bên đó có Tư
Hăng-rết đánh xe ngựa, sao không kêu?
- Chả bỏ nghề theo
sấp nhỏ lên Sài Gòn rồi. Nghe đâu tụi nó mở
quán cơm bụi, làm ăn khấm khá nên kéo ổng đi
theo phụ việc. Báo hại tụi tui ở đây
tờ mờ sáng phải gánh hàng từ trong xóm lội
bộ ra đường cái, cực quá đi ông Tư!
Tư Râu có thêm nhiều
mối khách ở xóm Bông, tiền bạc có phần rủng
rỉnh, dư giả mua thuốc lá, bữa cơm có thêm
xị rượu đưa mồi. Bà Tư qui tiên gần
chục năm nay, đàn con 8 đứa lập gia đình
ra riêng hết, ông ra vô căn nhà như cái bóng, tự
nấu ăn, giặt giũ một mình, bạn bầu
chung thủy còn lại là con ngựa già. Không hay đàn
đúm bạn bè, Tư Râu cũng không mê đắm thói
tật đời thường: cờ bạc, rượu
chè, trai gái. Hồi bà Tư vừa mất, ông mới
xấp xỉ 60, có người nói giỡn chơi ông:
- Sống mình ên không buồn
hả thầy Tư? Rủi khi đêm hôm mưa gió trở
trời, không có con cháu kề bên thì làm sao? Đi bước
nữa đi cho có bầu có bạn.
Không biết học ở
đâu mà ông thuộc thơ, vừa cười vừa nói:
- Sự đời đã
tắt lửa lòng, còn chen vào chốn hồng trần làm
chi.
Ông thanh thản sống, tự coi
như mình đã xong nợ đời, chừng nào trời
kêu thì dạ, mọi sự ở đời có đó
rồi mất đó, có chi mà sợ chết, mà nuối
tiếc cuộc sống.
* * *
Vợ chồng Năm Nhỏ
đứng ngoài cửa xỉa xói:
- Già rồi mà hổng nên
nết, còn rù quến má tui, vậy mà thiên hạ cứ kêu
thầy Tư. Đẹp mặt thầy giáo quá ha, giáo mác
mẹ gì, giáo gian thì có.
Trong nhà, Hai Trang, con gái lớn
ông Tư không chịu thua, hai tay chống nạnh, lớn
tiếng trả đũa:
- Ai rù quến ai, ăn nói
phải biết khôn chút chứ. Má mấy người khi
không xách đồ theo ba tui, chứ ổng có bỏ bùa ai
đâu. Mấy người có má mà không biết dạy
biểu má mình, oán trách gì ba tui?
Câu nói như đổ dầu
vô lửa, Bảy Hơn chạy tới đập cửa
rầm rầm:
- Tụi tui qua đây muốn
nói phải trái, kêu má tui dìa, chị nói vậy mà nghe
được sao chớ? Khi không ba tui mới chết,
bả bỏ nhà đi biệt, tìm tở mở không
thấy, tưởng bả đau buồn sinh ra tâm
thần đi lạc. Hỏi miết, mới truy ra là
bả qua sống với Tư Râu bên này, nhục nhã không? Mà
bả cũng bạc đầu rồi, có tiền bạc
chi đâu, ổng dụ dỗ má tui chi vậy?
Sáu Sậu có hơi
rượu trong người, nổ thêm:
- Phen này mà bả cứ đeo
dính cha Tư, không chịu dìa nhà, tui đốt nhà Tư Râu
cho coi.
Hai tuần nay chiến
cuộc giữa xóm Nghĩa địa với xóm Bông bùng
nổ, lối xóm rần rần kéo nhau đi coi, y như có
đoàn cải lương ở thành phố xuống.
Người trong xóm chia thành hai phe, hằn học lôi
những chuyện hiềm khích từ thuở xa xưa ra
chửi bới lẫn nhau. Bên xóm Bông kết tội Tư
Râu “gần kề miệng lỗ còn rù quến gái già
mới góa chồng”.
Xóm Nghĩa địa mỉa
mai:
- Cỏ trên mộ chồng
chưa khô đã chạy theo tiếng gọi ái tình. Chắc
mới biết yêu lần đầu!?
Ở đây ai cũng rành ngõ
ngách đời nhau, bà Hai đâu phải thứ đàn bà
lang chạ. Làm vợ Hai Sự từ lúc 17 tuổi
đến giờ chỉ biết mỗi mặt chồng.
Ngày rằm, mồng một, vẫn dong xe thổ mộ
của Tư Râu đem bông ra chợ bán. Chuyến xe nào
cũng chật ních người, đố ai thấy hai mái
đầu bạc liếc mắt đưa tình hay cười
mím chi với nhau?
Tự dưng vừa xong 49
ngày giỗ chồng thì bà Hai xách gói quần áo bỏ nhà theo
trai... đầu bạc. Nghe như tiếng sét giữa
trời.
… Biến
cố khuấy động sự bình yên cả hai xóm
khởi đầu từ đám ma Hai Sự ba tháng
trước.
Tối hôm cúp điện, ông Hai lò dò ra sân đi
tiểu, té quỵ ở đường mương. Khá lâu
không thấy ông trở vô nhà, bà Hai cầm đèn ra sân tìm,
phát hiện ông nằm bất tỉnh dưới cơn
mưa. Vừa kêu khóc, bà vừa cố sức lôi ông dậy
nhưng không nổi. Đúng lúc đó, Tư Râu đi qua,
nghe tiếng khóc, ngưng xe, lập tức đưa ông Hai
đi trạm xá cấp cứu. Đến nơi thì ông
tắt thở do đứt mạch máu não. Bà Hai té xỉu
trước cái chết đột ngột của
chồng. Lúc đó đám con cháu nhà Hai Sự ở xa
chưa biết tin.
Cũng chính Tư Râu
đưa xác ông Hai về nhà, tự tay khiêng ổng lên
giường. Đám tang ông Hai Sự tụ tập đông
người ở cả hai xóm. Bà Hai khóc mùi mẫn, khóc
thảm thiết đau thương bên xác chồng:
- Ông ơi, sao ông chết
đau chết đớn, chết không kịp trối,
không kịp nhìn mặt vợ con vậy ông?
Ông Tư nghe tiếng khóc
mủi lòng, thương người góa phụ mà cũng
thương thân mình quạnh quẽ, giờ đây cả
hai cùng phận đơn côi. Nước mắt rưng
rưng, tự nhiên ông đặt tay lên lưng bà Hai vỗ
nhè nhẹ, khuyên lơn:
- Kiếp người có
số hết, ảnh đi như vậy cũng nhẹ
nhàng, em khóc nhiều làm linh hồn ảnh khó siêu thoát. Thôi,
đừng khóc nữa, em Hai ơi!
Vậy mà bà nín khóc, nhìn ông
lặng lẽ một cách khó hiểu.
* * *
Đám con nít bám đuôi xe
thổ mộ chạy theo la ó:
- Ông Tư Râu qua xóm Bông tụi bây ơi,
nổ lớn nghe!
Người lớn tụ
tập đến đầy sân trước. Tư Râu
quần tây, áo sơ mi trắng thẳng nếp,
bước lên thềm nhà. Dì Ba Bảnh, tổ trưởng
tổ phụ nữ đi theo. Đám con cháu Hai Sự
đứng lố nhố đầy nhà, mặt căng
thẳng.
- Tui qua đây không phải gây
sự, tui muốn nói sự thật là... tui thương dì
Hai bên đây thiệt tình. Tui với dì Hai nếu về
với nhau thì cũng là đôi bạn già sớm tối
chăm sóc cho nhau, chứ đâu có ý gì xấu mà mấy con
ngăn cản.
Giọng nói ông Tư
đĩnh đạc, dáng ông chững chạc
đường hoàng quá, làm tụi trẻ cứng họng,
không biết trả lời làm sao.
Dì Ba Bảnh bấy giờ
mới ra tiếng:
- Mấy con nên suy nghĩ
lại, đời bây giờ không phải thế kỷ
xưa, bắt đàn bà phải ở giá thờ chồng
suốt đời. Má bây trước nay đã làm
đủ bổn phận với chồng, với con,
với cháu nữa. Tụi bây cứ bỏ đi làm ăn
xa, đẻ con ra lại thẩy sấp nhỏ cho bả
chăn hoài, hết đứa này đến đứa
khác. Đám già tụi tao sống ở đây như
người giữ trẻ cho con tụi bây vậy. Không
lẽ tụi bây bắt má mình phải làm đầy tớ
cho bây suốt đời. Bả cũng có cuộc
đời của bả chứ!
Lúc đó bà Hai từ nhà trong
bước ra trong tấm áo dài bông màu xanh đậm, cái
quần xa tanh đen mới tinh, chân đi đôi dép
lưới, hàng Thái Lan. Mọi người ồ lên.
Chưa bao giờ đám con với bà con hàng xóm thấy bà
diện đẹp mà sang như vậy. Trông bà trẻ ra
đến 10 tuổi, mặt tươi tắn nhưng
nước mắt rưng rưng:
- Bộ quần áo này là
thầy Tư may cho má đây. Má sống với cha con
hơn 60 năm, một đời cực khổ không dám
lên tiếng than, có khi dư chút tiền mà chưa bao giờ
ổng may cái áo dài nào cho má. Hồi theo ổng làm vợ, nhà
nghèo quá, bà nội bây chỉ cho má cái áo bà ba mới. Mấy
chục năm sống bên nhau chưa bao giờ ổng kêu
má bằng một tiếng “em” cho dịu dàng, tình cảm
như thầy Tư. Cuộc đời của má với
ông Tư đâu còn có bao lâu, mấy con ráng hiểu giùm cho má.
Đám con của hai
người lặng thinh. Mấy bà già đứng ngoài
cửa kéo khăn chậm nước mắt. Mấy ông
ngậm ngùi quay đi, không dám ngó mặt vợ mình. Mọi
người dãn ra, tránh đường cho ông Tư nắm
tay bà đưa ra xe, ông đỡ bà lên ngồi xe ngựa,
phía trước với ông.
Bà Năm Chòi chạy tới
đặt luôn chậu bông cúc đại đóa màu trắng
thiệt đẹp lên xe ngựa:
- Thôi, tui hổng có gì mừng
đám cưới, biếu anh chị Tư chậu bông này
nghe.
Lũ con nít vỗ tay rần
rần, người lớn cười theo. Mấy bà hàng
bông bắt chước bà Năm, chất thêm mấy
chậu bông lên xe ngựa, lát sau thành cái xe hoa bất
đắc dĩ. Đứa nhỏ nào lí lắc cột sau
đuôi xe ngựa sợi dây kết chùm lon không. Xe chạy,
mớ lon va chạm, kêu leng keng
Ông già gân Hai Trầu phá ra
cười:
- Cha mẹ ơi, hồi nào
giờ tao mới thấy rước dâu bằng xe thổ
mộ!
MINH THÙY
Minh Thùy là Việt kiều
tại Đức, năm nay 56 tuổi, là tác giả tập truyện
ngắn Chat room do NXB Văn học vừa xuất bản
tháng 5-2008.
(Theo www.sggp.org.vn)