ĐÔNG HỒ
(1906-1969)
Nguyễn Tấn
Long - Nguyễn Hữu Trọng
Thi sĩ chính danh là Lâm Kỳ Phác
(kỳ:lạ; phác: ngọc c̣n trong đá), hộ tịch
chép là Tấn Phác. Ông bác đặt tiểu tự Quốc
Tỉ (truyền quốc ngọ tỉ), lại có tự là
Trác Chi (chữ ở sách Mạnh Tử; Hữu phác ngọc,
nghi sử ngọc nhân điêu trác chi).
Sinh năm Bính Ngọ (1906) tại làng Mỹ
Đức, tỉnh Hà Tiên, một tỉnh nhỏ ở
cực Tây Việt Nam, giáp biên giới Cao Miên và vịnh Thái
Lan.
Lúc mới lên ba th́ cha mẹ qua đời, ông
được người bác ruột nuôi cho ăn
học, ông thi đậu bằng Sơ học Pháp Việt
tại Sàig̣n, rồi về học ở Cần Thơ th́
bà bác mất, Tấn Phác vâng lời bác ruột thôi học
về cưới vợ để sanh con, nối dơi tông
đường, người vợ của ông là Thái Linh
Phượng. Cưới vợ xong, Lâm Tấn Phác
được bổ làm thầy giáo ở Hà Tiên, ông
viết bài, cộng tác với báo Nam Phong ở Hà Nội
của Phạm Quỳnh từ năm 1923. Ông mở Trí
Đức Học Xá năm 1926, chủ trương rèn
luyện chữ Việt cho những thanh niên hiếu
học thời bấy giờ. V́ nhà tổ tiên truyền
mấy đời, đều ở ven Đông Hồ
Ấn Nguyệt, là một thắng cảnh trong Hà Tiên
Thập Cảnh, nên khi bắt đầu biết làm thơ
ông đă lấy hiệu Đông Hồ.
Năm 1928 vợ ông, Thái Linh Phượng mất,
để lại cho ông cô con gái là Mỹ Tuyên, Đông
Hồ đă thương khóc vợ với bài "Linh
Phượng" đăng trên Nam Phong Tạp Chí số
128 - Tháng 4 năm 1928, Thượng Chi đă viết lời
giới thiệu "Nước Tàu kia có bài văn khóc
cháu của Hàn Thoái Chi, nước Nam ta há lại không có
tập văn khóc vợ của Lâm Trác Chi đó sao ?"
Năm 1929, Đông Hồ tục huyền với Lâm Nhàn
Liên, hai năm sinh cho Đông Hồ một cô con gái
đặt tên là Mỹ Diễm (cách viết của Đông
Hồ là Yiễm), rồi thêm một người con trai,
nhưng không nuôi được, sau đó bà Nhàn Tiên bị
bệnh tâm thần, phải điều trị ở
Dưỡng Trí Viện Biên Ḥa, điều trị một
thời gian không khỏi, bà được đưa
về nhà ở Hà Tiên, em của bà là Lâm Thái Úc phải
chăm sóc chị và nuôi cháu.
Năm 1945, Đông Hồ tham gia kháng chiến chống
Nhật ở Hà Tiên, sau khi Anh Pháp trở lại giải
giới Nhật, Đông Hồ phải lên Sàig̣n tiếp
tục sự nghiệp kháng chiến th́ vợ ở nhà
mất, sau khi chôn cất Lâm Nhàn Tiên rồi, Đông Hồ
mới trở về lần nữa khóc vợ.
Mười sáu năm một gánh gian nan
Đau yếu ngót mười
năm, bệnh chẳng dưỡng nuôi.
Chết không chôn cất
Tuyền đài mẹ Yiễm
hữu tâm tri.
Về sau Đông Hồ chấp nối với cô em út
của Lâm Nhàn Tiên, là Lâm Thái Úc cũng là học tṛ ở Trí
Đức Học Xá của ông, tức nhà thơ nữ
Mộng Tuyết
Sau năm quốc biến 1945, dời nhà lên ở Sài
G̣n, ông lại có biệt hiệu là Thủy Cổ Nguyệt
(chiết tự chữ Hồ), là Đại Ẩn Am
(đại ẩn am thành thị), là Nhị Liễu Tiên Sinh
(v́ khi ở xóm Lan Chi trước nhà có trồng hai cây
liễu).
Do sinh trưởng ở nơi xa xôi cách trở, không
được học nhiều nên biết ít chữ Pháp và
chữ Hán, nhờ chuyên luyện chữ Việt mà thành
văn nhân.
Có tiếng từ năm 1923 đến 1933, mười
năm, viết cho báo Nam Phong xuất bản ở Hà
Nội, biên soạn, khảo cứu, kư sự, tùy bút; trong
đó làm văn nhiều hơn làm thơ. Nhân mười
năm là biên tập báo Nam Phong đó mà các nhà làm Văn
Học Sử Việt Nam xếp vào văn phái nhóm Nam Phong.
Trong các bài đăng báo Nam Phong, được nổi
tiếng có hai bài: một bài nhật kư là bài Linh
Phượng tức là Trác Chi lệ kư tập và một bài
cổ văn là bài Phú Đông Hồ, đều làm trong
năm 1928.
Ông cũng viết bài đăng các báo Trung Bắc Tân
Văn, Đông Pháp Thời Báo, Kỳ Lâm Báo Phụ Nữ
Tân Văn, Tự Do (Do Phan Văn Hùm chủ trương,
năm 1939), Mai, Văn Học Tạp Chí, Khai Trí Tiến
Đức Tập San, Tri Tân.
Khi phong trào Thơ mới ra đời, ông hưởng
ứng sáng tác nhiều bài thơ mới, xuất bản
thành tập thơ mới "Cô Gái Xuân"
Năm 1935, báo Nam Phong đ́nh bản, nghỉ viết
báo Nam Phong, tự chủ trương và làm chủ bút
tuần báo Sống, tự lực xuất bản ở Sài
G̣n, báo Sống không tự túc nổi, đ́nh bản.
Từ năm 1936, về Hà Tiên ẩn cư cho
đến năm 1945 quốc biến. Sau quốc biến
trở lại Sài G̣n.
Năm 1953, làm giám đốc Nhân Loại tập san,
xuất bản ở Sài G̣n để làm cơ quan cho nhà
xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiễm
Yiễm Thư Trang sáng lập từ năm 1950. Đến
giữa năm 1964, cho ngưng hoạt động nhà sách
cũng như cơ sở xuất bản, về ở ngoại
ô Gia Định cạnh Hồ tắm Chi Lăng.
Những năm về sau, vừa làm văn vừa làm
thơ, thường viết về văn học, về
lịch sử đăng ở các tạp chí xuất
bản ở Sài G̣n như Văn Hóa nguyệt san, Bách Khoa,
Văn,… Phần nhiều khảo cứu về văn
học miền Nam, đặc biệt là văn học Hà
Tiên. Từ niên khóa 1964-1965, đựơc mời làm
giảng viên trường Đại Học Văn Khoa,
phụ trách môn Văn học miền Nam. Thỉnh thoảng
đăng đàn diễn thuyết.
Thành tích đáng chi nhớ hơn hết là từ năm
1926 đến năm 1934, mở nhà nghĩa học trên
bờ Đông hồ, lấy tên là "Trí Đức
Học Xá" tự ḿnh làm trưởng giáo, chủ
trương chuyên dạy toàn tiếng Việt, luôn luôn
cổ động khuyến khích cho học tṛ và bạn bè
tin vào tương lai Việt Ngữ. Trường này
dụng ư theo lối giáo dục đạo học, sống
gần thiên nhiên như nhà tịnh xá Santiniketan của thi hào
R.Tagore ở Ấn Độ.
Trường mở cả lớp hàm thụ để
cho học tṛ ở xa Hà Tiên cũng có thể tập
luyện tiếng Việt, cho nên, trong mấy năm
liền, đă gây được ảnh hưởng ở
miền Nam.
Biểu hiệu của Trí Đức Học Xá, in trên
các thư giấy hàm thụ là một ng̣i lông thỏ và
một ngọn lông chim, tượng trưng cho bút long và bút
sắt.
Tác phẩm đă xuất bản thành sách:
- Úc Viên Thi Thoại (1909)
- Hà Tiên Mạc thị sử (1929),
- Thơ Đông Hồ gồm các bài từ khi mới làm
thơ năm 1922 đến năm 1932. (Nam kư thư quán Hà
Nội xuất bản năm 1932).
- Lời Hoa, nhuận sắc các bài tập Việt
văn của họ tṛ Trí Đức Học Xá. Hợp thái
trong ba tập: Bông hoa đầu mùa, Bông hoa đua nở,
Bông hoa cuối mùa (Trí Đức Học Xá Hà Tiên xuất
bản, năm 1934).
- Linh Phượng, đă đăng ở Nam Phong
tạp chí năm 1928 (Nam kư thư quán Hà Nội xuất
bản năm 1934).
- Cô Gái Xuân, thơ mới, làm trong khoảng 1932-1935
(Vị Giang văn khố Nam Định xuất bản
năm 1935).
- Những Lỗi Thường Lầm Trong Sự
Học Quốc Văn, biên soạn chung với Trúc Hà (Trí
Đức Học Xá xuất bản, năm 1936).
- Hà Tiên Thập Cảnh, in chung với Đường
Vào Hà Tiên của Mộng Tuyết thất tiểu muội
(Xuất bản Bốn Phương, Sài G̣n, năm 1960).
- Trinh Trắng, thi tuyển (Xuất bản Bốn
Phương, Sài G̣n, năm 1961).
- Truyện Song Tinh, khảo cứu và sao lục Song Tinh
bất dạ truyện, diễn ca của Nguyễn Hữu
Hào hồi đầu thế kỷ 18 (Xuất bản
Bốn Phương, Sài G̣n, năm 1962).
- Chi Lan Đào Lư, tùy bút tâm t́nh, viết về t́nh bè bạn
và nghĩa sư sanh (trích tạp chí Bách khoa thời
đại, tháng 7 năm 1965).
- Năm ba điều nghĩ về Truyện Kiều,
thuyết tŕnh nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh
Nguyễn Du (trích Văn hóa nguyệt san, tháng 10-11, năm
1965).
- Văn Học Miền Nam: Văn Học Hà Tiên (1970)
Cô gái xuân
Trong
xóm làng trên, cô gái thơ,
Tuổi xuân mơn mởn vẽ đào tơ,
Gió đông mơn trớn bông hoa nở,
Ḷng gái xuân kia vẫn hững hờ.
Lững
thững lên trường buổi sớm chiều,
Tập tành nghiên bút, học may thêu.
Quần đen, áo trắng, khăn hồng nhẹ,
Ngọn xơa ngang vai, tóc bỏ đều.
Lá rợp cành xoài bóng ngă ngang,
Cô em dừng bước nghỉ bên đường,
Cởi khăn phẩy giọt mồ hôi trán,
Gió mát ḷng cô cũng nhẹ nhàng.
Đàn
bướm bay qua băi cỏ xanh,
Ḷng cô phất phới biết bao t́nh.
Vội vàng để vở bên bờ cỏ,
Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh.
Áo
trắng khăn hồng gió phất phơ,
Nhẹ nhàng vui vẻ nét ngây thơ.
Trông cô hớn hở như đàn bướm,
Thong thả trời xuân mặc nhởn nhơ.
Đàn
bướm bay cao cô trở về,
Sửa khăn, cắp sách lại ra đi,
Thản nhiên, cô chẳng ḷng thương tiếc,
V́ bướm ngày xuân chẳng thiếu chi!
Cũng
xóm làng trên, cô gái thơ,
Tuổi xuân hơn hớn vẻ đào tơ.
Gió đông mơn trớn bông hoa nở,
Ḷng gái xuân kia náo nức chờ.
Tưng
bừng hoa nở, bóng ngày xuân,
Rực rỡ ḷng cô, hoa ái ân.
Như đợi, như chờ, như nhớ
tưởng,
Đợi, chờ, tưởng, nhớ bóng t́nh quân.
T́nh
quân cô: ấy sự thương yêu,
Đằm thắm, xinh tươi, lắm mỹ miều.
Khao khát đợi chờ, cô chửa gặp,
Ḷng cô cảm thấy cảnh điều hiu.
* * *
Một
hôm chợt thấy bóng t́nh quân,
Gió lộng, mây đưa thoáng đến gần.
Dang cánh tay t́nh, cô đón bắt,
Vô t́nh mây gió cuốn xa dần.
Gót
ngọc phăng phăng cô đuổi theo:
"T́nh quân em hỡi! Hỡi người yêu!
“Gió mây xin để t́nh quân lại:
“Chậm chậm cho em nói ít điều…”
Than
ôi! Mây gió vẫn vô t́nh
Cuồn cuộn bay trên ngọn núi xanh.
Nh́n ngọn núi xanh, mây khói tỏa,
Mắt cô, đôi lệ giọt long lanh.
Lá
rợp cành xoài bóng ngă ngang,
Cô em dừng bước nghỉ bên đường,
Cởi khăn phẩy giọt mồ hôi trán,
Gió mát ḷng cô cũng cảm thương
Lủi
thủi bên đường, cô ngẩn ngơ
Chốn này, đuổi bắt bướm ngày xưa,
Cô buồn, cô tiếc, cô ngùi ngậm,
Cô nhớ ngày xuân, nhớ tuổi thơ:
“Đàn
bướm bay qua băi cỏ xanh,
"Ḷng cô phất phới biết bao t́nh.
"Vội vàng để vở bên bờ cỏ,
“Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh…"
“Đàn
bướm bay cao cô trở về,
“Sửa khăn, cắp sách lại ra đi,
"Thản nhiên, cô chẳng ḷng thương tiếc,
"V́ bướm ngày xuân chẳng thiếu chi!…"
Ái t́nh
nào phải bướm ngày xuân,
T́nh ái ngày xuân chỉ một lần
Một thoáng bay qua không trở lại
Gái xuân đỏ lệ khóc t́nh quân!
Tuổi xuân
Kể
từ khi quen nhau,
Vừa mười ba tuổi đầu
Tuổi xuân, tuổi vui sướng,
Nào có biết chi sầu.
Quen
nhau th́ yêu nhau,
Yêu nhau quấn quít nhau.
Quây quần trong một tổ,
Như đôi chim bồ câu.
Ngày
tháng chỉ mong cầu
Gần nhau được dài lâu.
Sum vầy ḷng những ước
Ly biệt có ngờ đâu.
Muốn
thế, vẫn được thế,
Ai khéo chiều nhau tệ,
Bao những cuộc vui cười.
Cùng nhau cùng chia sẻ:
"Anh
ơi! em muốn học,
Anh hăy dạy em đọc.
Dạy em không? Hở anh?
Không dạy em, em khóc.
- Em
đừng làm nũng chứ!
Hăy nói anh nghe thử,
Em muốn học chữ ǵ?
- Em muốn học Quốc ngữ
Quốc ngữ chử Việt Nam,
Này thơ em, anh xem.
- Anh nghe, em cứ đọc!
- Thơ rằng: "Anh yêu em!…"
"Em
muốn dạy anh thêu,
- Yêu em, anh phải chiều,
- Chỉ kim, anh thử lựa,
Nghe lời em, em yêu.
Này! Anh thêu khéo chán,
Ngàn mây đôi chiếc nhạn
Chắp cánh tung trời bay,
Trăm năm cùng kết bạn.
- Tươi thắm bức lụa là,
Đôi chim nhạn không già,
Đời ḿnh âu cũng thế,
Ngày xuân ở với ta…"
"Này
anh! Buổi thư nhàn
Em dạy anh học đàn.
- Học đàn khó! – Đâu khó!
Chỉ đôi tiếng nhặt khoan!…”
Khoan nhặt đôi đường tơ
Lay động đôi ḷng thơ.
Gảy nên khúc t́nh ái.
Khúc dứt, ḷng ngẩn ngơ…
Buông bắt trên tơ trúc,
Nh́n em, năm ngón ngọc;
Năm búp măng nơn nà,
Măi nh́n đàn chửa thuộc…
"Anh
ơi! Em muốn chơi,
Non nước chốn này vui…"
Âu, yếm cầm tay dắt,
Cùng nhau thưởng cảnh trời,
Ngày lặng, màu hoa cỏ,
Đêm thanh, thú trăng gió.
Cảnh trời với ḷng người
Biết bao lần gặp gỡ,
"Anh!
Em muốn chơi thuyền,
Một ngày ta làm tiên…"
Buông buồm theo ngọn gió,
Sóng nước những triền miên.
Trời biển cảnh lồng lộng,
Đôi tấm ḷng rung động.
Kề vai sẽ tựa nhau,
Chập chờn trong giấc mộng.
Bên rừng chiếc lá rơi,
Mặt nước cánh hoa trôi.
Cḥm mây bay tản mác
Đàn nhạn rẽ phương trời.
Trông cảnh. Em ngậm ngùi
Nh́n em, anh thở dài,
Cảm nghỉ chuyện dời đổi
Giọt lệ bắt đầu rơi!…
Biết đời từ hôm ấy
Tuổi lớn, ngày dần thấy:
Chuyện buồn đưa đến thường,
Ngày vui không có mấy
Đôi lứa cũng xa nhau,
Tuổi xuân c̣n măi đâu.
Biệt ly này mới biết,
Chi xiết nỗi thương đau
Giọt lệ một lần ứa,
Biết bao lần chan chứa;
Một lần khi bắt đầu,
Biết bao lần sau nữa!
Chốc, mười mấy năm trời,
Trăm ngh́n cảnh đổi dời,
Nói đến chuyện gặp gỡ,
Sóng ngược lại bèo xuôi!
Cuộc đời những lăn lóc,
Tiếng cười đổi tiếng khóc.
Nào đâu bạn trẻ thơ,
Cùng ta kề mái tóc?
Buồn nhớ cảnh năm xưa,
Ḷng riêng những thẫn thờ.
Tóc xanhh hồ đă bạc,
Luống tiếc tuổi ngây thơ!
Bốn cái hôn
"…Em
nhớ: một sáng ngày mùa đông,
Gió bấc ào ào tiếng hăi hùng.
Theo khe cửa sổ, gió thổi rít.
Chỉ nghe tiếng gió mà lạnh lùng!
Em cuốn ḿnh trong làn chăn đệm,
Đệm cỏ, chăn bông em chẳng ấm,
Bỗng như có một ánh than hồng
Chạm vào trán em chạy vào ḷng.
Ḷng em ấm áp, hơi lạnh tan,
Em nằm sung sướng mà bàng hoàng.
Sờ tay lên trán em mới biết:
Hơi ấm âu yếm mẹ em hôn …
…Em
nhớ: một buổi chiều mùa thu,
Bấy giờ mẹ em mất đă lâu.
Trông chiếc lá rơi, em ũ rũ,
Hơi may hiu hắt, em buồn rầu.
Mất mẹ, em mất t́nh âu yếm,
Lạnh lùng, em thiếu hơi hôn ấm.
Đứng tựa bên vườn, em ngẩn ngơ,
Trông nước, trông mây, em đợi chờ…
Chợt thấy cha em về trước sân,
Áo quần lấm áp vết phong trần,
Chạy ra mừng rỡ đưa tay đón,
Cúi xuống mái đầu, cha em hôn.
Từ hôm em được cha em hôn,
Đầm ấm ḷng em bớt nỗi buồn.
Nhưng cha em măi bận xuôi ngược,
Rày đó mai đây việc bán buôn…
…Em
nhớ: một buổi trưa mùa hạ,
Buổi trưa nặng nề, trời oi ả.
Tựa của lớp học, em rầu rầu,
Nghe tiếng ríu rít đàn chim sâu.
Trước sân, bè bạn em nô đùa.
Riêng em buồn cảm thân bơ vơ:
Mẹ mất, c̣n cha, cha ít gặp,
Một năm chỉ hai lần rước đưa!…
Cô giáo, thấy em đứng một ḿnh,
Đi qua, gọi em hỏi sự t́nh.
Cầm tay cô dắt lại bàn học,
Ân cần, thương yêu vuốt mái tóc.
Rồi cô âu yếm hôn tay em.
Lộng qua cửa lớp cơn gió nồm,
Bao nỗi buồn bực, gió thổi mát,
Cái hôn như ngọn gió êm đềm…
Nay em
đang giữa cảnh đêm xuân,
Gió trăng t́nh tứ đêm thanh tân.
Trước vùng trời biển cảnh lồng lộng,
Cùng anh trao đổi t́nh ái ân.
Khoác tay anh đi trên băi cát.
Cát băi, trăng soi màu trăng mát.
Nghiêng đầu lơi lả tựa vai anh,
Lặng nghe sóng băi đưa rào rạt.
Nước mây êm ái bóng trăng sao,
Say sưa em nh́n lên trời cao,
Buông khúc đàn ḷng theo nhịp gió.
Giờ phút thần tiên, hồn phiêu dao.
Một hơi thở mát qua, dịu dàng,
Như cơn gió biển thoảng bay ngang,
Rồi luồng điện ấm chạy trên má:
Ân ái môi anh kề nhẹ nhàng.
Nũng nịu, anh ngă vào ḷng anh,
Ngẩn ngơ ngừng lặng giây cảm t́nh.
Tóc em xơa tung, tay gió lướt,
Bàng hoàng em nhớ chuyện sau trước:
Đời em khoảng hai mươi năm hơn,
Được hưởng bốn lần âu yếm hôn.
Bốn lần em thấy em vui sướng,
Mưa gió đời em đỡ lạnh buồn.
Nhưng từ khi em thôi học rồi,
Cùng cô giáo em không gặp gỡ.
Mà rồi, từ đó em lớn khôn,
Cha em cũng chẳng hôn em nữa.
Ba lần hôn kia em mất rồi,
Lần này biết có lâu dài được
Nước bèo em nghĩ đời chia biệt,
Mà lệ sầu em thổn thức rơi!…"
Mua áo
“Chiếc
áo năm xưa đă cũ rồi,
Em đâu c̣n mặc áo đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ,
Đành gửi anh mua chiếc mới thôi!
- Hàng
bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đă dặn rồi.
C̣n thước tấc, quên! em chửa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài?
- Ô
hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh c̣n lựa hỏi ai.
Rộng hệp, tay anh bồng ẳm đó,
Ngắn dài, người mới tựa bên vai!"
Xuân Bất tận
Không
quá khứ, không vị lai,
Thời gian xuân giữ thắm tươi hoài.
Từ
lâu xuân vẫn mơn cành liễu,
Và măi vàng luôn đượm cánh mai.
Cuộc thế mị thường cơn mộng lớn,
Nguồn xuân bất tận suối thơ dài.
Làm chi
năm một lần khai bút.
Bút đă khai từ thiên địa khai.
(Tuyển tập Trinh
Trắng)

Đôi thi nhân Đông Hồ
và Mộng Tuyết
(trên đường phố Sàig̣n vào thập niên 50)