HÀ TIÊN THẬP VịNH
Hùynh Công Tín
I - “Chiêu Anh Các”
là tổ chức văn chương ra đời
đầu tiên ở Nam Bộ (1736). Tổ chức này do
Mặc Thiên Tứ, tức Mạc Thiên Tích (1706 - 1780), con
trai Mạc Cửu (1655 - 1736), người có công khai phá
đất Hà Tiên, đứng ra thành lập. Trong hoạt
động văn chương của Chiêu Anh Các, người
đời hay nhắc tới hoạt động ngâm
vịnh xướng họa có liên quan tới 10 cảnh
đẹp của Hà Tiên mà các văn nhân thi sĩ ngày ấy
đă làm. Khởi đầu là những bài xướng
của người chủ soái tao đàn Chiêu Anh Các Mạc
Thiên Tích. Sau đó là mấy trăm bài họa về
mười cảnh đẹp này, gồm cả thơ
chữ Hán lẫn chữ Nôm (có hơn 300 bài họa).
Rất tiếc, không có sách nào in đủ các bài thơ ngâm
vịnh xướng họa này. Trong bài viết, chúng tôi
muốn giới thiệu đôi nét về phong cảnh
hữu t́nh của đất Hà Tiên nên chỉ xin đề
cập đến các bài xướng chữ Hán, các bài
thơ họa chữ Nôm và những bài khúc vịnh
được ghi nhận là của người chủ
soái Tao đàn Chiêu Anh Các Mạc Thiên Tích.
II - Mười bài thơ ngâm vịnh miêu
tả lại mười vị trí đẹp, nên thơ
bậc nhất của đất Hà Tiên ngày ấy (Hà Tiên
thập cảnh) gọi là “Hà Tiên thập vịnh”,
gồm các bài thơ được viết theo thể
thơ Đường, dưới dạng chữ Hán,
được xếp theo thứ tự từng đôi
một. Có 5 đôi như sau:
“Kim dữ lan đào” và “B́nh san
điệp thúy”
“Tiêu tự
thần chung” và “Giang thành dạ cổ”
“Thạch
động thôn vân” và “Châu nham lạc lộ”
“Đông hồ ấn nguyệt” và “Nam phố trừng ba”
“Lộc
trĩ thôn cư” và “Lư khê ngư bạc”
Ngoài 10 bài thơ Đường
xướng chữ Hán, Mạc Thiên Tích c̣n làm 10 bài thơ
Đường họa chữ Nôm.
Trước mỗi bài thơ chữ Nôm
có một khúc đoạn song thất lục bát, gọi là
khúc vịnh. Tổng số mười khúc vịnh, gọi
“Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”, được Mạc
Thiên Tích làm để đề dẫn cho cả 10 bài
thơ Đường họa Nôm của ḿnh, có tất
cả 334 câu, được phân bố như sau:
1. Bài “Giang
thành dạ cổ” có một khúc vịnh 36 câu, gồm: 1
cặp lục bát, 8 đoạn song thất lục bát và 1
cặp song thất.
2. Các bài “Kim
dữ lan đào”, “Lộc trĩ thôn cư”, “Lư
khê ngư bạc”, mỗi bài có một khúc vịnh 34 câu,
gồm: 1 cặp lục bát và 8 đoạn song thất
lục bát.
3. Bài “Tiêu
tự thần chung” có một khúc vịnh 34 câu, gồm:
8 đoạn song thất lục bát và 1 cặp song thất.
4. Bài “Châu
nham lạc lộ” có một khúc vịnh 34 câu, gồm: 1
cặp lục bát, 2 đoạn song thất lục bát,
rồi 1 cặp lục bát, 5 đoạn song thất
lục bát, và 1 cặp song thất.
5. Bài “Đông
hồ ấn nguyệt” có một khúc vịnh 34 câu,
gồm: 1 cặp lục bát, 3 đoạn song thất
lục bát, rồi 1 cặp lục bát, 4 đoạn song
thất lục bát, và 1 cặp song thất.
6. Các bài “Thạch
động thôn vân”, “Nam phố trừng ba”, mỗi
bài có một khúc vịnh 32 câu, gồm: 1 cặp lục bát,
7 đoạn song thất lục bát, và 1 cặp song
thất.
7. Bài “B́nh
san điệp thúy” có một khúc vịnh 30 câu, gồm: 1
cặp lục bát và 7 đoạn song thất lục bát.
Sau “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”,
Mạc Thiên Tích c̣n làm một bài thơ Đường Nôm
với tên tựa là “Hà Tiên thập cảnh tổng
vịnh”. Bài thơ như một thư mục giới
thiệu chung về “Hà Tiên thập cảnh” mà ông đă
giới thiệu qua thơ vịnh của ḿnh.
Giá trị nội dung và nghệ thuật
của các bài thơ này được ghi nhận như
sau:
2.1. Bài 1 - “Kim dữ lan đào” cũng viết “Kim dự
lan đào” (Đảo vàng chắn sóng) là bài thơ
được xếp đầu trong bộ sưu tập
thập cảnh, đề cập tới cảnh
đẹp của ḥn đảo nhỏ ngay cửa biển
Hà Tiên. Ở vị trí này, ḥn đảo đă làm giảm
bớt sự “hung hăn” của những ngọn sóng lớn
ngoài khơi khi vào đến cửa biển Hà Tiên. Hơn
nữa, về chiều lúc mặt trời sắp lặn
xuống biển, không gian ở đây có một màu vàng
đỏ, nên gọi “đảo vàng chắn sóng” th́ quá
hợp lí. Người dân c̣n gọi “Kim dữ” là pháo
đài, bởi nó c̣n là nơi có pháo đài canh giữ
cửa biển, bảo vệ trấn Hà Tiên. Ngày nay
chiếc cầu Tô Châu đă nối liền ḥn đảo
này với Quốc lộ 80 để du khách khi đến
Hà Tiên có thể đặt chân ngay lên ḥn đảo xinh
đẹp và thơ mộng này.
Cảnh “Đảo vàng chắn sóng”,
được khắc họa có hồn qua bốn câu
thơ chữ Hán trong bài xướng “Kim dữ lan đào”,
tạo nên h́nh thái đất trời của cả một
vùng Hà Tiên đă hội đủ các yếu tố “thiên
thời, địa lợi”:
“Ba đào thế tiệt đông nam
hải
Nhật
nguyệt quang hồi thượng hạ thiên
Đắc
thủy ngư long tùy biến hóa
Bàng nhai
thạch thụ tự liên phiên.”
“Thiên thời” là ở chỗ: “Nhật
nguyệt quang hồi thượng hạ thiên. Đắc
thủy ngư long tùy biến hóa”; c̣n “Địa
lợi” là ở chỗ: “Ba đào thế tiệt đông
nam hải. Bàng nhai thạch thụ tự liên phiên.”. Hai
câu thơ đắc nhất trong đoạn thơ
để nói về sự giao ḥa của trời
đất là: “Nhật nguyệt quang hồi
thượng hạ thiên. Bàng nhai thạch thụ tự liên
phiên.”. Sự ḥa hợp giữa thời gian và không gian
nơi đây là tuyệt vời, nên đă tạo cho vùng
hải đảo này một sự phồn thịnh, sung
túc, mà Mạc Thiên Tích đă dùng chữ “thạch thụ
tự liên phiên”.
Trong bài họa, Mạc Thiên Tích
lại nói về “Kim dữ lan đào” với yếu tố
“nhân ḥa” cùng các khía cạnh của nó. Đó là sự quan tâm
chăm sóc cho dân: “Ngăn ngừa nước dữ khôn
vùng vẫy, Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng.”.
Đó vừa là thế của tự nhiên vừa là thế
của chính trị: “Nước an chẳng chút ḷng thu
động. Rộng bủa nhơn ra tiếp bá xuyên.”.
C̣n ở bài khúc vịnh, ông lại
viết về cảnh đẹp này như sau:
“Hết ruổi giong gặp ngày ca
khải.
Thu quân
về cảng hải dưỡng an.
Một tay
vững đặt giang san,
Danh phong Kim
Dữ, tước ban Lan Đào” (câu 23-26)
Cảnh ở đây không thuần túy là
cảnh thiên nhiên để thưởng ngoạn, mà c̣n là
cuộc đời ở trong cảnh để con
người phải quan tâm. Bởi đó mà “đảo vàng
chắn sóng” mới được Mạc Thiên Tích phong danh
tước “Kim Dữ Lan Đào” và được lưu
truyền đến ngày nay.
2.2. Bài 2 - “B́nh San điệp thúy” hay “B́nh Sơn
điệp thúy”, cũng viết “B́nh Sơn
điệp túy” là bài thơ được xếp
cặp với “Kim dữ lan đào”. Bài thơ vịnh
về cảnh đẹp của một dăy núi nối
liền với “Kim dữ lan đào”. Dăy núi này có một màu
xanh cây lá trùng điệp và là nơi có khu lăng mộ
vị khai quốc công thần Mạc Cửu; vị
tướng kiêm nhà thơ, con trai Mạc Cửu là Mạc
Thiên Tích và các vị quan văn vơ khác, được xây
dựng đă hơn 300 năm. Người dân quen gọi
núi Lăng là v́ vậy. Đây là một dăy núi nằm ở
phía Tây dựng lên như một bức b́nh phong thiên nhiên che
chắn cho thị trấn Hà Tiên, bảo vệ cho một
cơi biên thùy, chống lại với những thế lực
ngoại xâm đến bằng đường biển.
Cảnh đẹp thiên nhiên của “B́nh
san điệp thúy” được Mạc Thiên Tích mô tả
như sau:
“Long thông thảo mộc tự
thiều nghiêu
Điệp
lĩnh b́nh khai tử thúy kiều.”
Hai câu thơ miêu tả được
sức sống của núi rừng, sự vươn lên
mạnh mẽ của cây cối, mở ra một màu xanh
mượt mà, mềm mại, bao phủ một dăi núi
dựng như một bức b́nh phong che chắn cho
đất và người ở nơi đây. Hai câu thơ
đă nêu bật được đầu đề “B́nh
san điệp thúy” của bài thơ vịnh về cảnh
thiên nhiên nơi đây.
Thiên nhiên ở đây không chỉ gợi
trong con người thú thưởng ngoạn, tiêu dao; mà c̣n
tạo một ấn tượng phồn thịnh, bền
vững, trường cửu... Riêng điều này cũng
làm cho ḷng người vương mang một hoài băo,
ước vọng cao xa:
“Lăo đồng thiên địa chung
linh cửu.
Vinh
cộng yên hà chúc vọng diêu.”
Ở bài họa Nôm, Mạc Thiên Tích
cũng rung động thật sự trước cái
đẹp của thiên nhiên nơi đây, nên đă không
ngần ngại bày tỏ niềm cảm mến và sự
thán phục của ḿnh:
“Một bước càng thêm một thú
yêu,
Lằn cây
vít đá vẽ hay thêu?”
Đặc biệt ở hai câu kết
của bài thơ Nôm, Mạc Thiên Tích muốn nhấn
mạnh tới sự quyến rũ, cuốn hút của
thiên nhiên một cách ḱ lạ, đến độ như
ông ngộ ra và chia sẻ được nỗi niềm
của Sào Phủ, Hứa Do, khi hai ông này chán ghét chốn
thành thị, công danh:
“Đến đây mới biết lâm
tuyền quư.
Chẳng
trách Sào Do lánh đế Nghiêu.”
C̣n ở bài khúc vịnh, mở
đầu tác giả nói về cảnh đẹp của
núi Lăng như sau:
“Sau Thành, dựng núi B́nh San
Cao kỳ
một khóm, an nhàn bốn dân.
Đúc tinh
thần, ngọc lành cảnh tốt;
Cao thấp
đều trọn một thức xanh.
Thợ
trời sao khéo tạo h́nh,
Đá
giăng lưng hạm, cây đoanh khúc rồng.” (câu 35-40)
Cái đẹp của tự nhiên ở
đây không thuần túy là cái đẹp thiên nhiên mà c̣n
ẩn chứa nét đẹp của t́nh người và
sự gắn kết của trời-người tạo
nên. Nếu chẳng thế th́ ông không viết: “Cao kỳ
một khóm, an nhàn bốn dân. Đúc tinh thần, ngọc
lành cảnh tốt.”. Ở nơi đây c̣n hội
đủ sinh hoạt của một nơi “tiên cảnh”:
“Cách bên khe, tiếng ngư ra rả;
Gơ be
thuyền, ca vă đ̣i cung.
Dưới
rừng, mấy trẻ mục đồng,
Lưng trâu
thổi địch, gió lồng theo khe.
Tiều
đi về dùng dằng chẳng dứt;
Cày lân la
trưa mặt c̣n chơi.
Từng kia
mây bức xanh tươi;
Đ̣i thanh
đ̣i nhă, một nơi một nhàn.” (câu 49-56)
Một bức tranh cảnh sinh
động như ở “non tiên” nhàn nhă, an b́nh. Có đủ
“ngư, tiều, canh, mục”, “tứ mùa, tứ quư”,
“Đ̣i thanh đ̣i nhă, một nơi một nhàn.”.
2.3. Bài 3 - “Tiêu tự thần chung” không thuần túy là một
cảnh tĩnh mà là một bức tranh động, có
cảnh chùa nhưng cũng có tiếng chuông chùa buổi
sớm mai vang lên từ khung cảnh tịch mịch
ấy. Ngôi chùa này được gọi là chùa Tiêu hay “Tiêu
tự”. Trải qua bao thăng trầm biến đổi
của lịch sử, ngôi chùa Tiêu không c̣n, nhưng trên
nền chùa ấy có một ngôi chùa khác được
dựng lên, đó là chùa Tam Bảo hiện nay. Có thể
khẳng định được điều ấy v́
bên cạnh chùa c̣n có ngôi mộ của mẹ Mạc Cửu
(Thái Bà Bà) mà khi bà c̣n sống, Mạc Cửu đă cho xây
dựng để mẹ tu hành và khi bà chết th́
được chôn ở đây. Khi bà qua đời,
Mạc Cửu cũng cho đúc đại hồng chung
để sớm chiều tưởng niệm công lao
của đấng sanh thành.
Trong hai cặp “thực, luận” của
bài xướng, Mạc Thiên Tích cảm nhận
được cái đẹp của tiếng chuông chùa ḥa
quyện trong một không gian và thời gian thích hợp,
tạo nên cảnh sắc riêng của “Tiêu tự thần
chung”, làm cho vạn vật không những thức tỉnh
trước cảnh t́nh, mà c̣n làm cho con người ngộ
ra cuộc đời này:
“Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh
thế giới
Cô thinh thanh việt xuất giang
giao
Hốt kinh hạc lệ
nhiễu phong thụ
Hựu súc
ô đề ỷ nguyệt sao”
Ở bài họa, Mạc Thiên Tích nói rơ
sự tỉnh ngộ về cuộc đời, từ
sự tác động của “Tiêu tự thần chung”
một cách rơ ràng hơn:
“Năo phiền kẻ nấu sôi như
vạc
Trí huệ
người mài sắc tợ dao.
Mờ
mệt gẫm đường say mới tỉnh
Phù sanh trong
một giấc chiêm bao.”
C̣n ở bài khúc vịnh, Mạc Thiên
Tích cũng nêu lên tâm trạng của con người
trước cảnh chùa và tiếng chuông cũng làm tâm
hồn họ lâng lâng một nỗi niềm nhân thế khó
tả, khôn phân:
“Khách chùa Tiêu, ân cần Phật sự;
Đêm
đêm hằng phân thứ âm dương.
Giấc ḥe
hồn bướm mơ màng,
Lầu
quân, trống đă điểm sang năm dùi.
Nỗi
buồn vui, mặc ḷng nhộn nhă,
Gối
chưa êm chưa hả sự ḷng.
Gió
đưa mấy tiếng thần chung,
Lóng tai nghe
lọt, bên ḷng vơi vơi.” (câu 65-72)
Ai trong chúng ta một lần văng chùa
được nghe chuông sớm, chắc tâm hồn cũng
bớt xao động, bon chen; mà để thế sự “mặc
ḷng nhộn nhă”, hay tâm tư “bên ḷng vơi vơi”.
2.4. Bài 4 - Một cặp với “Tiêu tự thần chung” là “Giang
thành dạ cổ”. Đây cũng là một bức tranh
động: cảnh thành quách cặp hai bên bờ rạch
Giang Thành với tiếng trống cầm canh từ
những đồn thú xa xa, hay những thuyền canh vang
lên trong đêm yên tĩnh. Con rạch Giang Thành nằm
gần sát với đất bạn Cam pu chia, nên một
thời chắc được họ Mạc xem như
đường ranh giới phân định biên cương
cần phải được canh pḥng cẩn mật, mà
tiếng trống canh là một hoạt động không
thể thiếu để nói về cảnh đẹp
Giang Thành. Nhà phố bên rạch Giang Thành hiện nay không c̣n,
nhưng chứng tích thời gian cho những hoạt
động của người xưa như vẫn c̣n
thoáng hiện đâu đó theo suốt chiều dài của
con rạch nối liền kinh Vĩnh Tế mang
nước vào Đông hồ trước khi chảy ra
biển.
Trong bài xướng “Giang thành dạ
cổ”, cái đẹp mà Mạc Thiên Tích muốn nói ở
đây không chỉ thuần là “Giang thành” về đêm, mà cái
đẹp này phải được gắn liền
với cái đẹp nghĩa vụ của người
lính, cái đẹp của tiếng trống mơ vang
động trong đêm “tam canh cổ giác” và cái đẹp
thể hiện sự dũng mănh của quân lính trong bộ
“kim giáp”. Nói chung, đó chính là cái đẹp của ư
thức tự chu toàn trách nhiệm “ủng cẩm bào”:
“Nhất phiến lâu thuyền hàn
thủy nguyệt
Tam canh
cổ giác định ba đào
Khách
nhưng cánh dạ tỏa kim giáp
Nhân chánh can
thành ủng cẩm bào.”
Ở bài họa, Mạc thiên Tích cũng
nói về cái đẹp của “Giang thành dạ cổ” là
cái đẹp của ḷng ḷng trung thành, tận tụy
của ba quân tướng sĩ trên rạch Giang Thành khi làm
nhiệm vụ tuần tra, canh gác về đêm:
“Trống quân giang thú nổi oai phong,
Nghiêm gióng
đ̣i canh ỏi núi sông.
Đánh phá
lũ gian người biết mặt,
Vang
truyền lịnh sấm chúng kiêng ḷng.”
C̣n ở bài khúc vịnh, ông cũng nói
về ư thức trách nhiệm của quân sĩ:
“Ac vàng vừa lặn hang tây,
Liễu
dinh tiếng trống vang dầy sơn xuyên. “ (câu 111-112)
Hay ở đoạn khác, ông lại ca
ngợi tinh thần trách nhiệm ở họ:
“Càng khuya càng nhặt máy binh,
Giao nghe
nhởm gáy, chuột ŕnh nép hơi.
Ba bốn
dùi, đêm đà quá nửa,
Chinh bóng ḥe
ngă dựa bờ sông.
Tan canh
rồi lại rạng đông,
Phù tang
một miếng chiêng đồng thả vô.” (câu 119-124)
2.5. Bài 5 - “Thạch động thôn vân” là bức tranh đẹp
về cảnh “núi mây”. Núi ở đây là một khối
đá vôi khổng lồ nằm ở trên một trái núi,
rỗng ở bên trong, khiến cho du khách có thể nh́n
ngắm trời xanh, mây trắng khi vào trong hang động.
Một hang động gắn với truyền thuyết
Thạch Sanh cứu công chúa mà người Việt đă lưu
truyền. Đứng ở lưng chừng núi nh́n qua
những cánh đồng lúa xanh ŕ tới một vùng biên
giới xa xa có những núi khác ẩn hiện trong
sương mây là vùng đất bạn Cam-Pu-Chia. Gặp
những ngày mưa hoặc có sương mù, mây bay thấp
ôm lấy núi, quyện lấy núi, hoặc len lỏi vào trong
các khe, động của núi, khiến cho Mạc Thiên Tích
nh́n mà liên tưởng tới hiện tượng núi
đang nuốt mây.
Đặc tả tính chất hang
động này, Mạc Thiên Tích đă mở đầu hai
câu “mạo” trong bài xướng “Thạch động thôn
vân” như sau:
“Sơn phong tủng thúy để tinh
hà
Động
thất lung linh uẩn bích kha.”
Cái đẹp ở đây chính là “gió núi
tung vút màu xanh lên cao đến sông trời”, c̣n “hang
động th́ lung linh có chứa ngọc bích”.
C̣n ở cặp “thực, luận”
th́ ông lại viết:
“Bất ư yên vân do khứ văng,
Vô ngân
thảo mộc cộng bà sa.
Phong
sương cửu lịch văn chương dị,
Ô thố
tàn di khí sắc đa.”
Cái đẹp của “Thạch
động thôn vân” là ở vùng hang động này luôn có
sự quần tụ của khói mây đi về, cỏ cây
tươi tốt, gió thổi sương rơi, trời
trăng chuyển dịch, cộng với cái đẹp
của sự từng trải tháng năm mà trở thành
“văn chương dị”, “khí sắc đa”.
Ở bài họa, Mạc Thiên Tích lại
viết về sự ḥa hợp giữa đất trời
của “Thạch Động” như sau:
“Hang sâu thăm thẳm mây vun lại,
Cửa
rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống
lổng bốn bề thâu thế giới,
Chang bang
một dăy chứa yên hà.”
Điểm nổi bật ở
“Thạch Động” này là do thiên nhiên đă tạo nên hang
động, nên nó đă trở thành điểm đến,
ở, đi của gió, khói, mây. Và tất nhiên, nó cũng là
nơi thưởng ngoạn lí tưởng của con
người.
C̣n trong bài khúc vịnh, Mạc Thiên Tích
lại viết:
“Tấm ḷng son đă say đ̣i
cảnh,
Vọi
giữa trời một đỉnh cao xây.
Chập
chồng đá lập cao dày,
Một hang
khép mở năm mây ra vào.
Tưởng
Động đào đâu đây lại sót,
Đoái
tư bề, ngun ngút khí linh.
Trời
gần gang tấc chẳng chừng,
Kề ṭa
Bắc đẩu, dựa đ́nh Tử hư.” (câu 137-144)
Thạch Động dưới cái nh́n
của Mạc Thiên Tích là một nơi danh thắng
độc đáo, có một không hai. Ở đây như có
sự tiếp giáp giữa đất với trời:
“Một hang khép mở năm mây ra vào”, “Trời gần gang
tấc chẳng chừng”, nào có khác chi cảnh trời:
“Tưởng Động đào đâu đây lại sót”,
“Kề ṭa Bắc đẩu, dựa đ́nh Tử
hư”...
2.6. Bài 6 - Đi cặp với “Thạch động thôn vân” là “Châu
nham lạc lộ” cũng viết “Châu nham lạc
nhạn”. Đây là cảnh một trái núi nổi lên
giữa một vùng đồng thấp, nằm phía sau
Thạch Động về hướng Tây Bắc
được gọi là núi “Đá Dựng”. Gọi “Châu
nham lạc lộ” (c̣ về núi ngọc) v́ ḥn núi này có
thạch nhủ lấp lánh như châu ngọc, lại có
nhiều cây xanh như một khu vườn nằm
giữa, có những cánh đồng hoặc những ao
đầm duyên hải bao chung quanh, dễ là nơi lí
tưởng cho chim, c̣ về trú ngụ, t́m mồi, kiếm
ăn. Cảnh chim c̣ về trú ngụ ở một vùng núi
đầm tạo nên một vẻ đẹp thanh b́nh và
quả là cảnh trí đặc biệt, ít có, mà thiên nhiên
đă ban tặng cho vùng đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long. Có ư kiến cho “Châu nham lạc lộ” là vùng “Băi
Ớt” v́ nơi đây cũng có nhiều chim c̣ về trú
ngụ. Nhưng nếu xét trong tương quan của
một cặp cảnh th́ “Châu nham lạc lộ” có lẽ
thích hợp với vùng núi Đá Dựng hơn. Hơn
nữa, trong bài khúc vịnh “Châu nham lạc lộ”, Mạc
Thiên Tích có nói về sự gần gũi địa lí
của hai cảnh đẹp này: “Luôn đường
trở gót đi ra. Chân c̣n Thạch Động, mặt là
Châu Nham.”. (câu 167, 168)
Trong bài xướng “Châu nham lạc lộ”, Mạc Thiên
Tích viết:
“Lục ấm u vân xuyết mộ hà
Linh nham phi xuất bạch cầm tà
Văn bài thiên trận la phương trụ
T́nh lạc b́nh nhai tả ngọc hoa.”
Cảnh “Châu nham lạc lộ” là
cảnh “sân chim, vườn c̣” thường thấy ở
vùng đồng bằng sông nước. Cái đẹp
ở đây không chỉ là vùng núi đẹp, huyền
ảo mà c̣n có sự náo nhiệt của chim c̣ khi chiều
về bay sập sận quanh khu rừng núi, trước khi
t́m băi đáp: “Linh nham phi xuất bạch cầm tà.”, đă
tạo cho vùng núi này một sự sống động riêng,
như một “xă hội” thu nhỏ.
Mở đầu bài họa “Châu nham
lạc lộ”, Mạc Thiên Tích không trực tiếp nói
về cái đẹp của “Châu Nham” mà gián tiếp nói
về tập quán của loài cầm để từ
tập quán của chúng mà luận suy cái khôn của ai đó
hay để nhắc nhớ con người về câu
ngạn ngữ người xưa “chim có tổ,
người có tông”:
“Biết chỗ mà nương ấy
mới khôn,
Bay về
đầm cũ mấy mươi muôn.”
Đến hai câu kết của bài th́
quả đúng, tác giả muốn nhắc đến
một điều: tập tính nhất quán trước sau
của loài vật và ḷng thủy chung của con
người lại chính là cái đẹp tô điểm cho
vườn cũ, quê xưa. Cái đẹp này đáng giá
ngàn vàng không dễ ǵ chuyển dịch được:
“Quen cây chim thể người quen
chúa,
Dễ
đổi ngàn cân một tấm son.”
Trong bài khúc vịnh, ông tả chi tiết
về tập tính của chim c̣ ở vùng đất “Châu
Nham”, nó là một nửa cảnh không thể thiếu
được của “Châu Nham”:
“Dọc ḍ đá mọc cheo leo,
Đă quen
quyến nhạn, lại nhiều rủ loan.
C̣ đâu
kể số muôn ngàn,
Tuông mây vén
ngút man man bay về.
Đầy
bốn bề kêu la tở mở,
Lượn
rồng rồng như vỡ cḥm ong.
Rơi ngân
rớt phấn giữa không,
Sương
ken đ̣i cụm, tuyết phong khắp hàng.” (câu 175-182)
Chi tiết “man man bay về”, “kêu la
tở mở” đủ để ta h́nh dung cảnh
hội tụ đông đảo của chúng. Nhưng cái náo
nhiệt là ở chỗ đa dạng: có bầy th́ đang
“lượn rồng rồng”; có đàn th́ c̣n bay lả
tả xa xa, chỉ nh́n thấy những đốm
trắng xa xôi, ẩn hiện, lên xuống: “Rơi ngân
rớt phấn giữa không”; có đám th́ đă yên vị
theo nhóm “sương ken đ̣i cụm”, có loài th́ xếp thành
dăi “tuyết phong khắp hàng”...
2.7. Bài 7 - “Đông hồ ấn nguyệt” là bài thơ nói
về một khu đầm tự nhiên nằm ở phía
đông thị trấn Hà Tiên, rộng khoảng 14 Km2,
một phía ăn thông ra biển; c̣n một phía nối
liền với rạch Giang Thành liền với kinh Vĩnh
Tế giáp nối với sông Hậu. Nước Đông
Hồ có hai mùa mặn ngọt với nhiều tôm cá. Cái
đẹp của Đông Hồ là cái đẹp sơn
thủy hữu t́nh, ngày đêm luôn in bóng hai ngọn Tô Châu:
đại Tô Châu, tiểu Tô Châu. Đặc biệt là vào
những ngày trăng, sóng nước Đông Hồ cảng
trở nên huyền ảo, thơ mộng. Ánh trăng soi
bóng xuống mặt hồ làm Mạc Thiên Tích h́nh ảnh hóa
hiện tượng này như một chiếc ấn tṛn
đóng trên mặt trang giấy mà gọi là “Đông hồ
ấn nguyệt” th́ c̣n chữ dùng nào hay hơn.
Trong bài xướng “Đông hồ
ấn nguyệt”, Mạc Thiên Tích cụ thể hóa nét
đẹp của vùng hồ phía đông Hà Tiên như sau:
“T́nh không lăng tịnh truyền song
ảnh
Bích hải
quang hàn tiển vạn phương
Trạm
khoát ứng hàm thiên đăng dạng
Lăm linh
bất quí hải thương lương.”
Cái đẹp của Đông hồ là
sự ḥa hợp giữa trời và nước: ở trên
th́ sáng trong, phía dưới th́ lặng trong; bởi đó mà
“truyền” được “song ảnh”, tạo
được cảnh “nước mây”. Cái đẹp
của Đông hồ c̣n là sự điều ḥa tiết
trời, thiên nhiên: “Bích hải quang hàn tiển vạn
phương”. Và quả là không kém ǵ biển cả: “Lăm linh
bất quí hải thương lương”.
Trong bài họa, hai câu mạo đă mô
tả rơ làn nước trong xanh và yên tĩnh của mặt
hồ làm tấm gương soi tiết trời mùa thu,
đặc biệt là những đêm trăng thu đẹp:
“Mặt hồ rỡ rỡ tiết
thu quang
Giữa có
vầng trăng nổi rơ ràng.”
Tác giả c̣n nói về sự ḥa hợp
của nước mây bằng cách đặc tả nét
đẹp của mảnh gương hồ, mà ở
đây mặt hồ và mặt trăng như sánh đôi nhau
khoe sắc. Ở cặp thực, tác giả viết:
“Đáy nước chân mây in một
sắc,
Ả
Hằng nàng tố lố đôi phương.”
C̣n hai câu kết là tâm trạng
của con người trước cảnh. Cảnh là
vậy, nhưng tâm trạng của con người có
thể làm cho cảnh sắc nhuốm màu chủ quan, tâm
cảnh:
“Cảnh một mà t́nh nào dễ
một,
Người
th́ ngả ngớn, kẻ sầu thương.”
Trong bài khúc vịnh, có lẽ Mạc Thiên
Tích đang đa mang nỗi ưu tư, nỗi sầu “non
nước”, phải bận bịu chuyện “áo cơm,
thế nước, thế trời...”, nên khi đến
thưởng ngoạn “Đông hồ ấn nguyệt”, ông
vẫn không trút bỏ được tâm sự ray rứt,
dù cảnh nơi đây đă mang cho ông sự thanh nhàn,
sự lắng ḷng mà như ông bảo không dễ ǵ có
được: “Mua nhàn một khắc giá đành ngh́n cân”.
Ông viết:
“Kẻ gió mây người th́ non
nước,
Hai phía
đều chiếm được thu thanh.
Cảnh
lành như đợi người lành,
Mua nhàn
một khắc giá đành ngh́n cân.
Thấy
tinh thần tấm ḷng phơi phới,
Cảnh
vẽ vời xui lại nguồn tham.
Khuyên ai
chưa trả áo cơm,
Đă say
thế nước, lại ôm thế trời.” (câu 217-224)
2.8. Bài 8 - Một cặp cảnh với “Đông hồ ấn
nguyệt” là “Nam phố trừng ba”. Đông hồ” th́
tĩnh lặng đă đành, c̣n Nam phố là xóm biển
phía Nam cách Hà Tiên 10 Km về hướng Kiên Lương th́
sao lại lặng sóng cho được mà gọi là “trừng
ba”? Nhưng vịnh biển này gần như êm đềm
lặng sóng quanh năm nên Mạc Thiên Tích mới gọi là
“trừng ba”. V́ Nam phố là khu vực thuộc Băi Ớt xă
Dương Ḥa (Du khách biết nhiều tới khu vực có
tên “Ḥn phụ tử” hơn. Ở đây, núi biển
đan xen như “Hạ Long” của Nam Bộ), dăi bờ biển
ở đây nằm núp sau Ḥn Một của Mũi Dừa,
một dăi đất nằm nhô ra biển hứng gió mùa Tây
Nam thay cho Nam phố nên vùng biển này luôn yên b́nh. Thành
thử, tuy vào mùa nam biển động, sóng bỏ ngọn
trắng xóa ngoài khơi, nhưng khi vào gần đất
liền, sóng trở nên hiền ḥa, dịu nhẹ.
Trong bài xướng “Nam phố trừng
ba”, Mạc Thiên Tích giới thiệu cảnh t́nh ở
đây hết sức thanh b́nh, thơ mộng. Cảnh là
một màu xanh ngút ngàn, biển bờ tiếp nối,
cảnh đă tạo ở ḷng người một t́nh thu
bàng bạc, một t́nh cảm nhẹ nhàng miên man:
“Nhất phiến thương mang
nhất phiến thanh
Trừng
liên giáp phố lăo thu t́nh”
Mạc Thiên Tích c̣n nói về sự quang
đăng, tĩnh lặng của vùng trời-biển này:
trời th́ mang khói mưa theo để ánh sáng kết
tụ; biển không có gió nên bọt sóng phẳng lặng.
Ông viết:
“Thiên hà đái vũ yên quang kiết
Trạch
quốc vô phong lăng mạt b́nh”
C̣n những sinh hoạt nên thơ của
cảnh biển trời ở đây cũng
được ông ghi nhận: một cánh buồm cô
độc lướt nhanh trên sóng nước; một con
thuyền trôi nhẹ theo sóng nước mây trôi. Ông viết:
“Hướng hiểu cô phàn phân
thủy cấp
Xu triều
dung phảng tải vân khinh.”
Trong bài họa, ông lại nói về
điểm riêng có của “Nam phố trừng ba”. Câu thơ
“Hai thức như thêu nước với trời.”
Gợi lên một màu xuyên suốt mà trời và nước,
với cả băi bờ, cùng chung một màu xanh soi bóng,
khiến du khách đến đây nh́n thấy biển
trời có thể yên tâm thưởng ngoạn:
“Ḍng Nam phẳng lặng khách dầu
chơi
Hai thức
như thêu nước với trời.”
Ở hai câu kết, ông lại nói về
một vùng trời rộng mở, yên b́nh mà con người
tha hồ ung dung, tự tại trong cái khoảng trời
nước bao la ấy:
“Một lá yên ba dầu lỏng lẻo
Đong
trăng lường gió nước vơi vơi.”
Trong bài khúc vịnh, Mạc Thiên Tích
cũng đề cập tới sự yên b́nh, màu xanh,
sự ḥa hợp của vạn vật..., những cái
đă làm nên “Nam Phố” này một cuộc sống quần
tụ, sung túc:
“Phẳng lặng thay băi dài biển
rộng,
Mây
phượng tŕ một giống quang tinh.
Đă hay
lai láng ḍng xanh,
Cá phun
nước mực, hạc quanh khói trà.
Nhạn
gần xa hăy c̣n hiệp lũ,
Chốn băi
nồm bay phủ mừng xuân.” (câu 241-246)
2.9. Bài 9 - Cặp cảnh sau cùng mà Mạc Thiên Tích nói đến
trong thập cảnh Hà Tiên là cảnh sinh hoạt làng xóm
của người dân Hà Tiên, gắn liền với
đặc điểm đất đai và ngành nghề: “Lộc
trĩ thôn cư” và “Lư khê ngư bạc”. “Lộc
trĩ thôn cư” là băi biển Mũi Nai, mà tương
truyền rằng, có nhiều nai đến đây, sinh
sống, hoặc địa thế của băi biển này
tượng h́nh như nai đang cúi đầu uống
nước. Vùng đất này c̣n là “thôn cư” của dân
lưu tán một thời đến lập vườn, làm
ruộng. Họ chọn “Lộc trĩ” v́ đây là cuộc
đất tốt, ph́ nhiêu, đủ cho họ một
đời no ấm, để có thể tận
hưởng cuộc sống an lạc, thanh nhàn; không màng
đua chen danh lợi.
Trong bài xướng “Lộc trĩ thôn
cư”, Mạc Thiên Tích ghi lại phong cảnh làng “Lộc
Trĩ” vào buổi chiều ông đến với những
chi tiết hết sức sinh động “đảo
quải duyên song tử”, “đê thùy tiếp phố thanh”
tạo nên một bức tranh đẹp riêng có của làng
quê: ráng chiều tà treo ngược men theo cửa một màu
hồng tía; c̣n vườn tược th́ cây cối xum xuê
buông rủ xuống tạo một màu xanh bạt ngàn. Ông
viết:
“Tàn hà đảo quải duyên song
tử
Mật
thụ đê thùy tiếp phố thanh”
C̣n tâm tính của người dân nơi
đây th́ đúng như ông ghi nhận. Người dân
chất phát, mộc mạc gần gũi với vạn
vật trầm lắng, tâm hồn trong sáng chỉ yêu
lấy đạm bạc và chọn thanh b́nh làm lẽ
sống:
“Dă tính thiên đồng viên lộc
tĩnh
Thanh tâm mỗi
tiễn đạo lương hinh”
Trong bài họa, ông nói rơ hơn về cái
đẹp của thôn “Lộc Trĩ”. Đó là một
vị trí tiếp giáp vừa cận biển vừa gần
núi. Đó là một màu xanh no ấm của non xanh,
nước biếc. Tất nhiên vị thế cảnh
như vậy làm sao không quyến rũ con người:
“Lâm lộc ai rằng thú chẳng thanh,
Nửa
kề nước biếc nửa non xanh.”
C̣n cái đẹp của cảnh th́
ở đâu, nếu không là lẽ sống phổ biến
của con người: “ấm no tạo hạnh phúc; có
hạnh phúc cần chi chuyện bon chen”. Trong hai câu kết
của bài, có lẽ ông cũng nhận ra được một
điều: người dân chọn nơi này làm
đất sống, chắc cũng v́ một điều
đơn giản ấy. Như ta biết, Mạc Thiên Tích
không làm thơ văn của một văn sĩ thông
thường; mà ông c̣n là một nhà chính trị - kinh tế
tài năng. V́ thế, ông không chỉ có cái nh́n, cái tâm của
một con người, mà hơn thế, ông c̣n đứng
ở tư thể của nhà “quản lí” biết “cổ
xúy” cho những điều tốt đẹp. Ông viết:
“Đâu no th́ đó là an lạc
Lựa
phải chen chơn chốn thị thành.”
Trong bài khúc vịnh, ông cũng ca ngợi
cuộc sống ấm no, an nhàn, hoàn toàn tự do này qua
cảnh sinh hoạt và tâm lí sống của người dân
ở thôn “Lộc Trĩ”:
“Thà ba đào chẳng thà tướng
phủ,
Ông cháu
truyền một thú ngư hà.
Non ngưu
đôi bữa lân la,
Rút giây
đằng cát, quẩy chà liễu dương.
Riêng
một phương cày mây, cuốc nguyệt,
Ba tháng xuân
chưa thiệt một ngày.
Đồng
châu nội vũ ra tay,
Khi câu
nước trị, khi cày nhà an.” (câu 281-288)
Tất nhiên, cuộc sống ở
đâu th́ cũng có tính hai mặt của nó. Không phải
mọi việc ngư đồng đều nhẹ nhàng
như ở chốn non tiên cả đâu. Nhưng nếu
lấy sự ung dung, tự tại, thanh nhàn làm lẽ
sống th́ cuộc sống của họ quả là lí
tưởng, như Mạc Thiên Tích đă nói: “Ba tháng xuân
chưa thiệt một ngày.”.
2.10. Bài 10 - “Lư khê ngư bạc” hay “Lư khê nhàn
điếu” là cảnh sinh hoạt của người
dân xóm chài rạch Vược. Một ḍng nước có
nhiều cá chẻm được gọi một cách thi
vị là “Lư khê”, nhưng người dân th́ quen gọi
nó với cái tên thật b́nh dị là “rạch vược”
để rồi thành danh “Rạch Vược”.
Người dân đă chọn hai bên bờ làm nơi
định cư, thành ấp, thành làng. Sau những
chuyến đi biển, ghe, tàu sẽ về đây trú
ngụ, nghỉ ngơi (ngư bạc). C̣n ai muốn
tận hưởng cái nhàn của thú đi câu th́ con
rạch này cũng nhiều cá để cho họ vui thú nhàn
(nhàn điếu) như Thái công Lă Vọng ngày nào. Cũng có
thể v́ mến cảnh nơi này mà Mạc Thiên Tích đă
cho dựng nơi đây một “điếu đ́nh”
để ông và người dân có những lúc
được hưởng thú “nhàn điếu”. (Mạc
Thiên Tích cũng có viết bài phú “Lư khê nhàn điếu”
để nói về những lúc ông buông câu ở đây)
Trong bài xướng “Lư khê ngư
bạc”, Mạc Thiên Tích có nêu một chi tiết đặc
thù về xóm ngư, đó là: “yên lư xuất ngư
đăng” (trong khói chiều có ánh đèn ngư phủ).
Ông viết:
“Viễn viễn thương lang hàm
tịch chiếu
Lư khê
yên lư xuất ngư đăng”
C̣n ở câu 3, ông mô tả khái quát về
sinh hoạt của xóm “Lư khê” như sau: con thuyền
(đánh cá) đơn độc lướt qua sóng lấp
lánh (về bến đỗ):
“Hoành ba yểm ánh bạc cô đĩnh”
Trong bài họa, ông nói về “Bến
Vược” chi tiết hơn. Đó là một xóm thuyền
chài sầm uất, nhà cửa san sát nhau, ngư cụ th́
phơi trải bề bộn khắp nơi; sinh hoạt
trông có vẻ an nhàn nhưng cũng lắm công, nhiều
việc ở đây:
“Bến Vược nhà ngư chật
mấy từng,
Trong nhàn
dường thấy sự lăng xăng.
Lưới
chài phơi trải đầy trời hạ,
Gỏi
rượu say sưa toại chí hằng.”
Trong bài khúc vịnh, Mạc Thiên Tích nói rơ
hơn về sinh hoạt của dân chài lưới, với
không khí đầm ấm, vui tươi, lễ nghĩa...
để gián tiếp ngợi ca sự thạnh trị
của làng xóm thời ông cai quản. Điều này là phù
hợp với vị thế của một nhà thơ
như ông:
“Khi về hiệp mặt dan tay,
Rước
xuân rượu cúc lại vầy tiệc vui.
Biết
phân ngôi, biết phân chủ khách,
Tuy giang thôn
nào khác Trường An.
Trong ca nghe
có tiếng vang,
Cũng
lời mặc khách cũng trang cao bằng.” (câu 329-334)
2.11. Một bài tổng vịnh về thập cảnh Hà
Tiên, kể th́ cũng không cần thiết. Nhưng Mạc
Thiên Tích muốn làm để nhắc nhở mọi
người khi đến với Hà Tiên nhớ thăm thập cảnh. Có lẽ
điều ông muốn đă được toại
nguyện. V́ khi đọc bài “Hà Tiên thập cảnh
tổng vịnh”, người đọc khó quên
được mười cảnh đẹp của Hà
Tiên, đă được ông “xếp loại” và “đóng
bộ” rất cẩn thận để làm quà cho du khách.
Người đọc khó mà nhầm lẫn hoặc quên
được:
“Mười cảnh Hà Tiên rất
hữu t́nh.
Non non
nước nước gẫm nên xinh.
Đông
Hồ, Lộc Trĩ luôn ḍng chảy.
Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh.
Tiêu Tự, Giang Thành chuông trống ỏi.
Châu Nham, Kim Dữ cá chim quanh.
B́nh San, Thạch Động là rường cột.
Sừng sựng
muôn năm cũng để dành.”
(Các cảnh trong bài tổng vịnh không
theo một trật tự trước sau của
mười cảnh, v́ yêu cầu xếp theo “chủng
loại” cho dễ nhớ trong một bài thơ có niêm
luật.)
III - Với thời gian, “thập cảnh Hà Tiên” chịu bao
thăng trầm biến đổi của tự nhiên và xă
hội nên không c̣n nguyên vẹn như ngày nào. Có những thay
đổi tốt hơn, nhưng cũng không loại
trừ những thay đổi xấu đi. Nhưng “Hà
Tiên thập vịnh” th́ chắc chắn vẫn nguyên màu,
vẫn có được giá trị trường tồn
với năm tháng. Những bài thơ xướng họa
này không chỉ cho ta thấy được những
vết tích của lịch sử một thời mà c̣n minh
chứng cho một điều quan trọng hơn: vùng đất
đồng bằng sông Cửu Long này không chỉ có lúa, cá,
mà c̣n có thơ văn và nhạc lễ.
Huỳnh Công Tín
8/2006
Nguồn: http://www.vannghesongcuulong.org/