Hồ Hữu Tường (1910-1980)
Thụy Khuê
Hồ Hữu Tường, chính trị gia, nhà văn, nhà báo
và là một nhân vật kỳ lạ, sống 70 năm trong
thế kỷ XX, trải nhiều ṿng tù tội dưới
tất cả các chính quyền: thực dân, quốc gia và
cộng sản. Tác phẩm của ông phản ảnh tính chất
nổi loạn trong con người, một con người
vừa trào lộng, vừa bi đát, suốt đời
đi t́m phương cách giải phóng dân tộc ra khỏi
mọi h́nh thức quản trị giáo điều: từ
bị trị đến hủ tục, từ độc
tôn đến độc tài, nhưng cũng suốt
đời "thất bại" trong việc
"chống lại định mệnh", cho
đến phút chót vẫn muốn "cưỡng lại
số trời" mà không được. Có lẽ ở
bên kia thế giới, Hồ vẫn tiếp tục con
đường thiên lư của một Phi Lạc đă
đại náo trần gian: Tây, Tàu, Nga, Mỹ và giờ
đây, xuống âm ty đại náo địa ngục.
Cuộc đời tranh đấu trên
hai mặt trận chính trị và văn hóa của Hồ
Hữu Tường đầy tính cách tiểu thuyết
chiêu hồi như một truyện Tàu, nhưng cũng
lại gắn bó sâu xa với định mệnh bát nháo
của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ vừa qua.
Hồ Hữu Tường luôn luôn giữ hai vai: một Tôn
Ngộ Không nổi loạn trong Tây Du Kư và một quân sư
du thuyết trong Tam Quốc Chí, khi Khổng Minh, Lỗ Túc,
lúc là thằng mơ Cổ Nhuế, thằng mơ Phù Ninh.... Hành
động của nhà chính trị Hồ Hữu
Tường và những người cùng thời biến
thành những thế vơ tiếu lâm, hài hước trong
tiểu thuyết, hồi kư của nhà văn. Hồ
Hữu Tường là tác giả hiếm hoi, trong một xă
hội đầy nghi thức, đă hóa giải những
trịnh trọng của chính trị thành chuyện giễu
để hóm hỉnh chọc cười và đó là một
trong những lư do khiến không chế độ nào
"dung" Hồ Hữu Tường. Nhưng có lẽ lư
do sâu xa nhất vẫn là những ǵ Hồ Hữu
Tường thuyết minh trong tác phẩm toát ra một chủ
nghĩa dân tộc độc đáo, lấy văn
hóa dân tộc làm phương châm và mục đích cấu
thành. Hồ Hữu Tường suốt đời biện
hộ cho một Việt Nam trung lập chế, chống
chiến tranh. Hồ dùng văn hóa thay súng ống để
giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh tối tăm nô
lệ. Tranh đấu chống thực dân bằng ng̣i bút
của nhà báo, bằng tổ chức thợ thuyền
tổng đ́nh công, muốn đánh đuổi hai chữ
"căm hờn" mà ông gọi là ác quỷ ra khỏi
tâm hồn người Việt.
Con đường ông đi không có nhiều
đồng hành, bởi tiếng kêu gọi của ông
chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc, không ai nghe và
cũng ít người hiểu. Một con người
như thế, từ đâu đến và những lư do nào
đă thúc đẩy ông có một nghị lực khác
thường triền miên trong hành động đấu
tranh cũng như trong ng̣i bút?
Hồ Hữu Tường xuất thân
trong một gia đ́nh nghèo, cha mẹ phải làm tá
điền cho người cậu là điền chủ,
hội đồng. Tại nhà cậu, sáu tuổi đă
đọc Nam Phong. Đọc đâu nhớ đấy. Cha
đặt cho cái tên là thằng Thuộc v́ đọc ǵ
cũng thuộc. Bị Nam Phong "đầu
độc", gieo và đầu chất "tân hủ
nho" từ nhỏ, sau phải nhờ Phan Văn Hùm
"gột rửa". Lớn hơn chút nữa,
đọc và chịu ảnh hưởng tinh thần yêu
nước của Đông Pháp Thời Báo. Tại trung
học Cần Thơ, Hồ Hữu Tường và các
bạn tổ chức tờ báo "trường"
đầu tiên. Báo tiếng Việt, nhưng Hồ viết
bài tham luận bằng tiếng Pháp để "cho Tây nó
đọc", kư tên Pierre Vutren, Vutren là chữ nói lái
của Ventru, dịch từ biệt hiệu Tường
Bụng (Tường bụng to). Kư tên như thế là
"lậy ông tôi ở bụi này", thêm việc tổ
chức băi khóa nhân vụ xử Nguyễn An Ninhä, cả nhóm
bị đuổi.
Lúc ấy mới 16 tuổi, gia đ́nh
cho Hồ Hữu Tường sang Pháp du học, năm 1926.
Tại Pháp, kết bạn với Tạ Thu Thâu, Phan Văn
Hùm, vào đảng Đệ Tứ Quốc Tế. Bốn
năm sau, 1930, Hồ Hữu Tường ở Lyon đang
chuẩn bị thi thạc sĩ toán học th́
được tin cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất
bại, Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị
xử tử; Hồ bỏ học, lên Paris, liên lạc
với Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, làm báo bí mật lấy
tên là Tiền Quân. Báo chưa ra th́ ban biên tập bị
bắt v́ tổ chức những cuộc biểu t́nh,
đặc biệt là biểu t́nh trước điện
Elysée, cả bọn bị trục xuất về Việt
Nam, trừ Phan Văn Hùm và Hồ Hữu Tường
trốn thoát, chạy sang Bỉ, liên lạc với nhóm cách
mạng cộng sản ở Bỉ, rồi trở lại
Paris tiếp tục làm tờ Tiền Quân trong năm tháng
trước khi về nước hoạt động chính
trị.
Từ 1931 đến 1939, Hồ
Hữu Tường làm lư thuyết gia cho nhóm Đệ
Tứ ở Việt Nam, đồng thời dạy học
để sinh sống và điều khiển các tờ báo
bí mật như tờ Tháng Mười, từ 1931
đến 1932, tờ Thường Trực Cách Mạng
từ 1934 đến 1937, tờ Quần Chúng từ 1937
đến 1938. Hoặc các tờ báo công khai như Le militant
năm 1936, tờ Tháng Mười năm 1938, tờ Tia Sáng
năm 1939 và tham gia tờ La lutte của Nguyễn An Ninh và
Tạ Thu Thâu.
Tháng 11 năm 1932, Hồ Hữu
Tường bị Pháp bắt lần đầu, giam 6
tháng. Ngày 1/5/1933 ra ṭa bị xử án treo ba năm. Trong
thời gian bị giam giữ, ông xuất bản nhật
báo "nhẩm" Thiên Thu. Thiên Thu là "cứu cánh"
của tạp chí Tháng Mười sau này. Trong suốt
mười năm làm báo (1930-1939), ông đă viết rất
nhiều nhưng nay không c̣n lưu lại được
ǵ.
Đầu tháng 6 năm 1939, Hồ
Hữu Tường bỏ Đệ Tứ và chủ
nghĩa Mác; ngày 29 tháng 9 năm 1939, bị nhà cầm
quyền Pháp bắt, cuối năm 40 bị đầy
đi Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh, Phan Văn
Hùm, Tạ Thu Thâu... và những người chống Pháp
khác. Đến cuối năm 1944 mới được
trả tự do (Phan Văn Hùm bị phù thũng, Nguyễn
An Ninh mất trong tù ngày 14/8/1943).
*
1945 Nhật đảo chính Pháp. Hồ Hữu Tường
ra Hà Nội để sang Tầu nhưng bị kẹt
tại Hà Nội cùng với Tạ Thu Thâu; có đề
nghị với Hồ Chí Minh nên để Việt Nam trung
lập nhưng không được chấp nhận.
Thời gian này bắt đầu viết Xă hội
học nhập môn, chống lại biện chứng
pháp, và một loạt sách chính trị, kinh tế khác.
1946 Hồ Hữu Tường
được mời tham dự hội nghị Đà
Lạt với tư cách cố vấn trong phái đoàn
Việt Nam nhưng cũng không phát biểu ǵ. Kế đó,
ông giúp bộ Giáo Dục Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa,
thiết lập chương tŕnh soạn và in sách giáo khoa
bằng tiếng Việt cho bậc trung học. Năm 1947
bị Pháp bắt trong lúc tản cư về Kẻ Sặt
(Hải Dương). Rồi ông lại trở về Sài G̣n
viết văn, làm báo.
Từ 1948 đến 1949, hợp tác
với báo Sài G̣n Mới của bà Bút Trà. Viết tiểu
thuyết Phi Lạc sang Tầu, in dần trên Sài
G̣n Mới dưới bút hiệu Ư Dư, đồng
thời viết Thu Hương và Chị
Tập.
Mùa xuân năm 1949, sang Pháp v́ lư do chính
trị. Tại đây, năm 1952, chủ trương
tạp chí Pacific, thử vạch một
"đường lối thứ ba" cho các
nước Á Phi.
1953, Hồ Hữu Tường về
nước, chủù trương nhật báo Phương
Đông, đưa ra giải pháp "Trung lập chế".
1954, với tư cách kư giả, ông sang
dự Hội nghị Genève, hết sức vận
động cho giải pháp trung lập Việt Nam nhưng
thất bại.
Tháng ba năm 1955, ví có liên lạc
với các nhóm trong Mặt Trận Thống Nhất (Cao
Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên), chống lại Ngô Đ́nh
Diệm, ông bị bắt ở Rừng Sát. Năm 1957 ra ṭa
và bị kết án tử h́nh, nhưng nhờ những trí
thức ở Pháp trong đó có Albert Camus viết thư can
thiệp nên án lệnh được đ́nh chỉ và
bị đưa ra Côn Đảo. Sau khi chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm đổ, Hồ Hữu Tường
được trả tự do ngày 31/1/1964. Ra tù, kiệt
lực, phải nửa năm sau mới viết lại
được. Ông cộng tác với nhật báo Ánh Sáng, xét
lại biện pháp Trung lập chế và đưa ra
giải pháp Siêu lập: đề nghị miền Nam
trở nên lănh thổ của Liên Hiệp Quốc.
1965, cộng tác với tuần báo Ḥa
Đồng để phát huy nền văn minh tổng
hợp: kỹ sư, chính ủy và tu sĩ. Làm Phó Viện
Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh.
1967 được bầu làm dân
biểu trong Hạ Viện Việt Nam Cộng Ḥa.
Sau tháng tư năm 1975, bị đi
học tập cải tạo 5 năm, được
trả tự do, ít lâu sau mất tại Gia Định ngày
26/6/1980.
*
Hồ Hữu Tường viết nhiều thể
loại:
Chính
trị, kinh tế, triết học: Xă hội học nhập môn
(Minh Đức, 1945), Kinh tế học và kinh tế chánh
trị nhập môn (Tân Việt, 1945), Tương lai
kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945). Phong kiến là ǵ?
(Minh Đức,1946), Vấn đề dân tộc (Minh
Đức,1946), Muốn t́m hiểu chánh trị (Minh
Đức,1946),Tương lai văn hóa Việt-nam
(Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).
Văn học sử: Lịch sử văn
chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950).
Văn phạm: Phép nói và viết hỏi ngă (1950),
Em học tiếng mẹ (1950), Em tập đọc
(1951).
Dịch: Tam quốc chí (quyển 1, 1951)
Truyện:
Bộ Một thuở ngàn năm (truyện trào phúng
chính trị) gồm có: Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung,
1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vannay, Paris, 1955), Tiểu
Phi Lạc náo Sàig̣n (Nam Cường, 1966), Diễm
Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).
Bộ Hồn bướm mơ hoa (tiểu thuyết
lịch sử xă hội, miền Hậu Giang) gồm 4
tập: Mai Thoại Dung, Tam nhơn đồng hành, Ông
thầy Quảng, Bủa lưới người (Nam
Cường, 1966).
Bộ Gái nước Nam làm ǵ? (tiểu thuyết tranh
đấu chống Pháp) gồm Thu Hương và Chị
Tập (Sống Chung, 1949).
Nỗi ḷng thằng Hiệp (Lê Lợi, 1949).
Kế thế (tiểu thuyết dă sử) (Huệ
Minh, 1964).
Bộ Thuốc trường sanh gồm 3 tập: Xây
mộng, Phúc đức và Vẹn nguyền (Huệ
Minh, 1964). Hoa dinh cẩm trận (tiếp theo Thuốc
trường sanh).
Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất
bản, Paris, 1968)
...
Tiểu
luận: Những kỹ thuật
căn bản của nghề làm báo (in tại Paris, 1951,
Ḥa Đồng, 1965), Trầm tư của một tên
tội tử h́nh (Lá Bối, 1965), Luận lâm I
(Huệ Minh, 1965), Nói tại Phú Xuân (những bài tham
luận đọc tại Đại Học Huế)
(Huệ Minh, 1965).
Truyện
ngắn, tạp văn: Quả
trứng thần (1952), Kể chuyện (Huệ
Minh, 1965), Nợ tinh thần (Huệ Minh, 1965).
Tự
truyện và hồi kư: Thằng
Thuộc con nhà nông (An Tiêm, 1966), 41 năm làm báo (Trí
Đăng, Đông Nam Á tái bản tại Paris, 1984), Un
fétu de paille dans la tourmente (Paris, 1969, chưa in).
Sách
viết cho nhà Hàn Thuyên, kư tên Nguyễn Huệ Minh (tên
vợ), sách viết cho nhà Tân Việt kư tên Khổng Cưu,
cho nhà Minh Đức kư tên Duy Minh, Huấn Chi, cho nhà Sống
Chung kư tên Duy Cúc.
*
Trước
khi t́m hiểu tư tưởng và phong cách Hồ Hữu
Tường, chúng ta thử nh́n lại nguồn gốc ḍng
họ Hồ, như Hồ Hữu Tường đă tŕnh
bày qua các tác phẩm và có lẽ đó cũng là một cách
để phân tích những đường hướng
chính trong tư tưởng của Hồ Hữu
Tường.
Hồ Hữu Tường sinh ngày mùng
8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh,
huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cha là Hồ
Văn Sây, mẹ là Vơ Thị Nữ và ông nội là Hồ
Văn Điểu.
Ḍng họ Hồ này khi xưa ở đất Nghệ An.
Sau khi Hồ Quư Ly thất thế, đầu thế kỷ
XV đă bị xua vào đất Qui Nhơn sinh sống.
Đến thế kỷ XVIII, trong họ xuất hiện
ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nổi lên cầm
đầu phong trào Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn bại
liệt, tất cả những người họ Hồ,
bà con xa gần với Tây Sơn đều phải lánh
nạn. Tỉnh Qui Nhơn bị Nguyễn Ánh đổi
tên thành B́nh Định. Sự đổi tên này, đối
với họ Hồ, có nghĩa là một sự trả thù,
một sự đàn áp.
Để tránh sự trả thù
của nhà Nguyễn, một thanh niên tên là Hồ Văn Phi
trốn vào Nam, lưu lạc đến rạch Cái Răng
ở miệt Cần Thơ, lập nghiệp. Vợ
chồng Hồ Văn Phi chưa có con trai, nuôi một
đứa nhỏ tên là Điểu mà mẹ nó dường
như là một người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn
lánh nạn. Khi trao con lại cho Hồ Văn Phi, bà dặn
ḍ rằng: Cha nó cũng họ Hồ, tôi cho nó cho ông là
để nó giữ họ. Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó
nên nêu lên hai chữ Kế Thế mà thờ
giữa hai chữ Hồ phủ, và truyền
lại măi măi với con cháu nó nên làm như vậy.
Chữ Kế Thế rút
từ những chữ "Kế thế vi
đức, dĩ hữu thiên hạ", hàm súc cái
mộng làm đế vương.
Người con nuôi của Hồ
Văn Phi có ḍng dơi bí mật, đế vương ấy
(ḍng Quang Thiệu), chính là Hồ Văn Điểu và là ông
nội của Hồ Hữu Tường. Đó là những
điều mà Hồ Hữu Tường thuật lại
về ḍng dơi của ḿnh trong cuốn tự truyện Thằng
Thuộc, con nhà nông và tiểu thuyết dă sử Kế
thế.
Đúng hay sai là công việc của
những nhà nghiên cứu lịch sử. Đối với
chúng ta, người đọc và t́m hiểu Hồ Hữu
Tường, th́ đây là một trong những yếu
tố giải thích tư tưởng cải tổ chính
trị và văn hóa của Hồ Hữu Tường,
giải thích chí hướng tân tạo lại Việt Nam,
chấn hưng đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương, một đạo do con cháu nhà Tây Sơn
dựng nên, sau này hưng vượng trong tinh thần
đạo Ḥa Hảo (có lẽ đó là lư do khiến Hồ
Hữu Tường có cảm t́nh với tướng Ba
Cụt và đạo Ḥa Hảo, và cộng tác với
nhóm Mặt Trận Thống Nhất, chống lại Ngô
Đ́nh Diệm), và nhất là quyết tâm tái lập tinh
thần Minh Đạo mà Hồ Quư Ly đă
xướng lên từ thế kỷ XIV, để xây
dựng một con đường văn hóa Việt Nam,
một hệ tư tưởng Việt Nam không lệ
thuộc ngoại bang, phù hợp với một
nước Việt độc lập và tân tiến.
*
Tâm tư Hồ Hữu Tường dường như chia
làm hai nhánh: nhánh vọng Tây Sơn và nhánh hướng nhà
Hồ. Cả hai tạo nên một hệ "bàng
thống" giao thoa hai vua Quư Ly và Quang Trung, cùng một ḍng
họ. Hệ bàng thống này, độc lập với
chính quyền trung ương, tạo thế chân vạc,
muốn đứng lên chấn hưng đất
nước, theo một đường lối thứ ba,
từ một miền đất mới: miền Hậu
Giang.
Vọng Tây Sơn, giữ nguồn
gốc nông dân nổi dậy, chống sự đàn áp
của thực dân và phong kiến, nhưng khác với cách
mạng cộng sản, dựa vào đấu tranh giai
cấp và duy vật sử quan, Hồ Hữu Tường
muốn bảo tồn một truyền thống tâm linh dân
tộc, phát xuất từ miền Hậu Giang, thờ hai
bà Chúa Tiên và Chúa Ngọc. Chúa Tiên tương truyền là
Ngọc Hân công chúa và Chúa Ngọc là Ngọc Mân, em sinh đôi
của Ngọc Hân. Những truyền thuyết này
được Hồ kể lại trong tiểu thuyết
dă sử Kế thế, theo lời kể của
một nhân vật bí mật là ông Thầy Quảng (gốc
gác từ Quảng Nam). Thầy Quảng trong bộ tiểu
thuyết Hồn bướm mơ hoa, là một
lănh tụ chính trị, đội lốt thầy bói và
đạo sư, truyền bá đạo Bửu
Hương Kỳ Sơn (thờ hai bà chúa), chủ
trương cải cách đạo Phật, chấn hưng
nhà Tây Sơn, cổ động cho những thuyết
"Minh Đạo tái sanh", "Thiên địa tân
tạo", "Việt Nam phục nghiệp". Tất
cả những sứ mệnh này xác định hướng
thứ nh́: vọng nhà Hồ, tiếp tục con
đường mà Hồ Quư Ly đă mở ra từ thế
kỷ XIV về việc canh tân đất nước trên
toàn diện chính trị, văn hóa và xă hội.
Xin nhắc lại, từ cuối
thế kỷ XIV, Hồ Quư Ly đă áp dụng những chính
sách:
- Dùng chữ Nôm thay chữ Hán
để chấn hưng quốc học. Dịch các kinh
sách chữ Hán sang chữ Nôm.
- Soạn 14 thiên Minh Đạo,
nội dung phê phán Nho giáo một cách có hệ thống, đặt
Chu Công lên trên Khổng Tử; phê b́nh Khổng Tử, nêu
bốn điểm đáng ngờ trong Luận Ngữ;
chỉ trích Hàn Dũ, Tŕnh, Chu... là những bậc hủ
nho; ca ngợi vua Trần Minh Tông không chịu rập theo
khuôn mẫu lễ giáo của người Tầu.
- Về mặt xă hội, Hồ Quư Ly
lập nhà thương, làm lại sổ hộ tịch,
định lại thuế khóa, thống nhất đo
lường, phát hành tiền giấy, cải cách ruộng
đất, v.v...
Ngoài ra Hồ Quư Ly c̣n là một nhà
thơ chữ Nôm và chữ Hán, kiêm dịch giả.
Nối tiếp và giao thoa con
đường của hai tiền nhân Quư Ly và Quang Trung trong
tinh thần độc lập đối với ngoại
bang, từ chính trị, xă hội, đến văn hóa,
dường như đó là điều mà Hồ Hữu
Tường muốn thực hiện qua hành động và
tác phẩm.
*
Suốt đời vào tù ra khám, Hồ Hữu Tường
là khuôn mặt trí thức độc đáo của Việt
Nam trong thế kỷ XX: một trí thức hành động.
Là nhà chính trị, nhưng biết lợi khí của văn
hóa, ông luôn luôn tuyên bố: "Tôi là
kẻ dụng văn, chớ không phải nhà văn."
Lời tuyên bố có vẻ khiêm tốn này nói lên tính
chất minh họa tư tưởng trong các tác phẩm
của Hồ Hữu Tường. Là một tác giả
đa năng, đa dạng, ông viết nhiều thể
loại, nhưng thành công nhất ở những tiểu luận,
tham luận, tự thuật, truyện ngắn và tiểu
thuyết trào phúng.
Cuộc đời và sáng tác của ông trải
nhiều giai đoạn.
Từ 1930 đến 1939, theo
Đệ Tứ và chủ nghĩa Mác-Lê, thời kỳ mà
sau này ông gọi là "sự căm hờn dẫn đi
lạc lối trong 9 năm", viết rất nhiều
báo nhưng không lưu lại được ǵ, có thể
v́ đó là thời kỳ c̣n lập luận theo duy vật
biện chứng, nên sau này ông không cho in lại. Nhưng
đối với những nhà nghiên cứu, t́m lại
những bài viết của Hồ Hữu Tường trong
thời kỳ "Đệ Tứ", cũng là một
điều cần thiết.
Thời kỳ 39-44: Giữa 1939 bỏ
Đệ Tứ và Mác-Lê, rồi bị Pháp bắt tới
cuối 1944. Đó là thời kỳ Côn Đảo lần
thứ nhất. Trong năm năm ở tù, Hồ Hữu
Tường đă h́nh thành một hệ thống tư
tưởng mới: chủ nghĩa dân tộc,
không lệ thuộc Tây, Tàu, Nga, Mỹ.
45-46: thời kỳ lập thuyết
mới. Từ 1945, khi ra Hà Nội, Hồ Hữu
Tường viết những tác phẩm đầu tiên Xă
hội học nhập môn, Kinh tế học vàø chính trị
nhập môn, Tương lai kinh tế Việt Nam, Vấn
đề dân tộc, Tương lai văn hóa Việt Nam...
theo con đường tư tưởng mới.
Từ 1948 trở đi, bắt
đầu sáng tác tiểu thuyết: Phi Lạc sang
Tầu, Thu Hương, Chị Tập ... Ngay cả
thời kỳ Côn Đảo lần thứ nh́ (57-64), ông
vẫn tiếp tục sáng tác nhưng cũng bị mối
cắn, nhiều tập phải viết lại. Những
tác phẩm như Kế thế, Hồn bướm
mơ hoa, Trầm tư của một tên tội tử
h́nh, Thuốc trường sanh ... đều viết
tại Côn Sơn và phát hành sau khi được trả
tự do.
Trong bài tựa cuốn Luận lâm
I, Hồ Hữu Tường viết:
"Tôi bước vào mê ly đồ của chủ
nghĩa Mác-Lê đầu tháng 6 năm 1930. Tôi bước
chân ra ngoài cái mê ly đồ ấy vào đầu tháng 6
năm 1939. [...] Trong 9 năm này, những bài luận của
tôi viết thảy đều lập trên nền tảng
của duy vật luận biện chứng pháp.
Từ tháng 6 năm 1939 đến tháng 6 năm 1945,
ngoài những bức thơ ngắn cho gia đ́nh, tôi không có
viết ǵ khác. Đến Hà Nội vào đầu tháng 6
năm 1945, tôi đă sắp dàn bài cho quyển Xă hội
học nhập môn mà tôi viết xong khi khởi đầu
tháng 11. Từ hai mươi năm nay, tôi chưa
trước tác được tài liệu nào vững
chắc và khoa học để đả kích chủ
nghĩa của Marx, hơn tập sách nhỏ này. Cả
phương pháp biện chứng và duy vật sử quan
đều bị "lật vích", nền tảng
triết lư và cơ sở xă hội học của Marx
đều bị lật ngược, thế mà kiểm duyệt
Việt Minh đọc không hiểu nên chẳng bôi chữ
nào.
Từ ấy, phương pháp biện luận của
tôi không c̣n là biện chứng pháp nữa. Trong năm năm
nằm ở Côn Đảo, trong những ngày tàn của
chế độ thực dân, tôi đă suy tư t́m thấy
và thường nói với Nguyễn An Ninh rằng duy
vật luận của Marx hóa ra siêu h́nh, chánh là do Marx
đội cho nó cái lốt của biện chứng pháp
[...]. Năm năm tù dưới chế độ thực
dân đă giúp cho tôi "cai" biện chứng pháp, cũng
như người nghiện cai thuốc phiện.
Và, rời bỏ tư duy siêu h́nh của biện
chứng pháp, tôi trở về với tư thái khoa học
[...] Khoa học, bao giờ cũng cho phép ngoại suy
để mở rộng phạm vi hữu hiệu của
ḿnh. Nhưng bao giờ những cuộc ngoại suy nầy
phải phê phán cho chặt chẽ, kẻo bị lầm. Nói
theo một danh từ mới xuất hiện, mà đă tràn
lan khắp nơi, là cần phải "xét lại".
Thế mà, biện chứng pháp, tin tưởng như là
một giáo điều, không cho tín đồ của chủ
nghĩa Marx "xét lại"." (trích bài Tựa cuốn Luận
lâm I do Huệ Minh xuất bản năm 1965, tại
Sài G̣n). Tiếc rằng hiện nay chúng tôi chưa t́m
được cuốn Xă hội học nhập môn
để tŕnh bầy những lập luận chống Marx
xủa Hồ Hữu Tường.
Sách in những năm 45-46 phần
lớn kư tên Duy Minh. Với bút hiệu Duy Minh, Hồ
Hữu Tường muốn nói lên sự lựa chọn:
không nhận cái Tâm trong duy tâm chủ quan của
triết học Hegel, cũng không nhận cái Vật
"vô tri vô giác" trong cái duy vật của triết
học Các-Mác, mà chọn Duy Minh, bởi v́ có duy minh th́
mới đến được cái giác của nhà
Phật. Hồ Hữu Tường chủ trương:
muốn cải thiện đời sống -bởi v́
chỉ có sống là quan trọng nhất- th́ con
người phải tổng hợp cả ba nền văn
minh lớn: kỹ sư, chính ủy và tu sĩ, nói cách khác: khoa
học, triết học và tôn giáo thành
một thể toàn bích th́ mới mong đạt tới thiên
đường hạnh phúc. Tôn giáo ở đây là Đạo
Phật đổi mới. Sự cách tân đạo
Phật có trong tinh thần đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương và đạo Ḥa Hảo sau này, và có lẽ đó
cũng là tinh thần "Hậu Giang" mà Hồ Hữu
Tường là một trong những người đề
cao và cổ động.
*
Trở về với tác phẩm chủ yếu đầu
tiên của Hồ Hữu Tường, cuốn Tương
lai văn hóa Việt Nam do Minh Đức in, kư tên Duy
Minh, cuốn sách đắc ư nhất của ông, một
bản tuyên ngôn tư tưởng của nhà chính trị và
nhà văn hóa, tŕnh bày con đường tư tưởng
mới: lấy văn hóa dân tộc thay thế cho tất
cả các ư thức hệ. Tư tưởng sau này sẽ
được đào sâu và phát triển trong toàn bộ tác
phẩm của tác giả.
Sách in năm 1946, 500 quyển, những
bản quư in trên giấy "sắc thần" chế
tạo riêng tại làng Bưởi, b́a do Tô Ngọc Vân
vẽ. Sau này được in lại nhiều lần
nhưng đă bị cắt bỏ, trừ bản chính
của nhà Minh Đức và bản in trên tuần báo Sanh
Hoạt (Sài G̣n) của Phạm Mậu Quân là đầy
đủ. Đây là một tập văn xuôi, có giọng
trầm bổng như thơ, một tập "thơ
tư tưởng", lời lẽ thống thiết.
Hồ Hữu Tường viết:
"Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to
để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng
tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng
cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh
thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe,
cảm, tin,... để cùng tôi đem một cái vinh quang
chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân
tộc ta, dân tộc Việt" (trích Tương lai văn hóa
Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài G̣n,
1965).
Đó là Tiếng gọi đàn
của Hồ Hữu Tường năm 1945. Ngay lúc ấy
ông đă biết rơ rằng "dù có
thét to đến bực nào, dù có một giọng tha
thiết như thế nào, dù có những luận
điệu đanh thép cách nào, tiếng gọi đàn
của tôi cũng sẽ là tiếng kêu trong sa mạc" (sđd, trang 12).
Biết là kêu trong sa mạc nhưng
vẫn kêu. Biết gọi không ai nghe nhưng vẫn
gọi. Tâm sự bi thiết ấy đă đeo
đẳng Hồ Hữu Tường suốt đời
như một thân phận con người, như một
số phận dân tộc.
Nhưng Tương lai văn hóa
Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức
kêu gào mà mang một nội dung suy tưởng sâu sắc.
Trước hết Hồ Hữu Tường định
nghĩa thế nào là văn hóa: "Văn, trong nghĩa cầu nguyên của nó,
là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với vơ, là hung
bạo. Hóa, trong nghĩa cầu nguyên của nó là thay
đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, th́ tôi cho rằng
đó là cái ǵ làm cho người ngày càng cao quư hơn,
đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện,
xấu xa) hóa ra Người (cao quư, đẹp
đẽ)" (trang 6). Tóm
lại cái làm cho người trở nên Người là
văn hóa: "Tôi vẫn muốn rèn, luyện, uốn,
nắn, hun đúc tôi, cho tôi ngày nay đẹp đẽ
hơn ngày hôm qua, cho tôi ngày mai càng đẹp hơn tôi ngày
nay, để rồi bây giờ tôi là "người"
dần dần theo đuổi "Người""
(sđd, trang 18)
Người đọc có thể t́m
thấy ở "cái tôi ngày hôm nay phải hơn cái tôi ngày
hôm qua", một ảnh hưởng xa gần nào đó
của Nietzsche. Chữ Người viết hoa của
Hồ Hữu Tường có những yếu tố
tương đương với siêu nhân (surhomme)
của Nietzsche (chính Hồ Hữu Tường cho biết
Nguyễn An Ninh là người Việt Nam đầu tiên
đọc Nietzsche và rất thích). Nhưng Hồ đi theo
một hướng khác: ông muốn hành tŕnh người
(tầm thường) nên Người (cao cả) trở
thành lộ tŕnh b́nh thường của mỗi
người Việt Nam, và đó là tương lai văn hóa
dân tộc. Tại sao như vậy? Ông giải thích:
bởi mọi ư thức hệ, khi mới thành lập,
đều có thể giúp ích cho xă hội tiến bộ.
Nhưng khi nó không c̣n thích hợp với điều
kiện sống cụ thể nữa, th́ cái xác nó, chướng
ngại vật phản tiến hóa, là lực lượng
phản động, là một tai họa cho nhân loại. Khi
đă biết được luật sống thừa của
các ư thức hệ, bạn hăy cố gắng xây đắp
một nền văn hóa Việt Nam, dựa trên nguyên
tắc biến đổi, ngày hôm nay phải đẹp
hơn hôm qua, và như vậy bạn sẽ thoát ra
được sức chi phối của các ư thức
hệ sống thừa (trang 20). Đó là tinh thần chủ
yếu trong tư tưởng Hồ Hữu Tường.
*
Tinh thần này xuất hiện năm
45-46, khi phần đông người Việt chưa
biết Hồ Chí Minh là ai, và phần đông thế
giới chưa biết cộng sản là ǵ. Hồ Hữu
Tường đă đi trước thời đại,
vượt qua những người đồng thời
để sớm nhận ra ngơ cụt của những ư
thức hệ, trong số đó có chủ nghĩa cộng
sản. Lập luận của ông trong tập sách nhỏ
này cho thấy một dân tộc như Việt Nam, muốn t́m con đường sống đầy
đủ ư nghĩa trong thời kỳ phi cơ, bom nguyên
tử và độc quyền đế quốc này, th́ dân
tộc Việt Nam phải chọn một kế hoạch
văn hóa (trang32), phải tạo ra một
nền văn hóa rực rỡ: văn hóa Việt Nam
phải làm cho người trở nên Người
(trang 37-38). Ông viết:
"Hiện nay, bạn thấy Tây phương
đắc thắng, chiếm địa vị tối
thượng, hănh diện với thế giới. Về
quân sự, về kinh tế, về chính trị, Tây
phương là tất cả. Bạn cho Tây phương là
cái gương duy nhất, rồi bạn toan nêu cái
"văn hóa" Tây phương làm văn hóa Việt Nam.
Tôi van bạn. Tôi ước mong bạn xây đắp
riêng cho Việt Nam một nền văn hóa rực rỡ,
để tŕnh trước Đại hội đồng
nhân loại làm sự nghiệp của ḿnh." (trang 39)
"Sứ mạng của bạn là sứ mạng
sáng tác." (trang48)
T́m một đường đi, không theo Đông, không
theo Tây, mà chọn lọc vàø kết nạp những tinh hoa
của cả Đông lẫnTây trên con đường sáng
tạo của ḿnh: văn hóa Việt Nam là do người
Việt Nam sáng tác và xây đắp nên, nó làm cho người
Việt Nam trở nên Người. Cái hành tŕnh đó
là hành tŕnh văn hóa chúng ta chưa biết nó thế nào,
bởi mỗi ngày nó một thay đổi.
Hồ Hữu Tường đă t́m ra
cách thúc đẩy hành động sáng tạo, nói lên tính cách
biến hóa của sáng tạo, đồng thời coi sáng
tạo như một sứ mạng của con
người. Một định nghĩa vừa trừu
tượng, vừa cụ thể: Con đường sáng
tạo là con đường văn hóa. Nó khiến con
người từ vị thế tầm thường, kém
cỏi, trở nên Người (văn hóa). Một sự
hướng thượng mà nhân loại chưa làm
được. Từ đó, Hồ bảo rằng
phương Tây chưa có văn hóa, bởi tất cả
những ǵ họ sản xuất ra trong văn chương,
nghệ thuật, triết học, khoa học... đă
bị cái mà ông gọi là "quái hóa" khuất phục. Chính cái quái hóa này đă biến đổi
những tư tưởng đẹp đẽ như "Tự
do, b́nh đẳng, bác ái", thành phương tiện,
thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đă xui khoa
học chế ra đại bác, chiến xa, tầu
chiến, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, bom nguyên tử
để giết người, để chinh phục
kẻ yếu, để đè nén, áp bức, dày xéo chúng
ta" (trang 42)
Văn hóa làm cho con người trở nên
Người.
Quái hóa biến văn chương, nghệ thuật,
triết học, khoa học... thành phương tiện.
Bởi nó không đi theo con đường nhân bản.
C̣n mượn Đạo học của Đông
phương ư? Nhưng ở Đông phương
chỉ có những thuật tu dưỡng, chớ đă có
văn hóa bao giờ? (trang 48)
Cho nên ta không thể bắt chước Đông
hoặc Tây, để làm văn hóa, mà phải tạo
văn hóa bằng sáng tạo, làm cho người Việt Nam
trở nên Người. Nó là cuộc vận dụng
thường xuyên của tinh thần, không phút nào ngừng,
không khi nào nghỉ (trang 55), văn hóa (phải) làm sao
cho cái chân, cái thiện, cái mỹ, thấm nhuần lư trí,
t́nh cảm, bản năng, cơ thể mọi
người, của mọi chế độ, của mọi
tương quan xă hội. (trang 54-55)
"Lương tri sẽ là sản phẩm của
người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là
một vật nhân bản." (trang 56)
"Khoa học, văn chương, triết học,
nghệ thuật, luân lư, tôn giáo... là những ngành của cây
sinh hoạt. C̣n văn hóa là nhựa sống trong thân cây,
trong các ngành, các lá" (trang 57)
*
Khi cho rằng Tây phương đă biến những thành
tích của văn hóa như văn chương, triết
học, khoa học... thành những phương tiện
để chinh phục và đàn áp, Hồ Hữu Tường
có thái quá chăng? Hẳn là không. Ông chỉ muốn minh
họa một thực tế hiển nhiên: Hitler, Staline
đă trưng dụng khoa học để làm vũ khí,
cũng như Hitler đă trưng dụng tư
tưởng surhomme của Nietzsche và Staline đă sử
dụng triết học Các-Mác trong các chiến dịch thanh
trừng và tiêu diệt đồng loại.
Ngày nay, trong t́nh thế mới,
người ta cũng có thể đặt câu hỏi:
đệ nhất cường quốc Hoa Kỳ có đang
dùng khoa học (bom đạn) như một phương
tiện để "san định" thiên hạ theo
đúng quan niệm "dân chủ" và "b́nh đẳng"
của Hoa Kỳ?
Điểm cực đoan và cũng
gây sốc mạnh trong Tương lai văn hóa
Việt Nam là "Tây phương và Đông
phương chưa có văn hóa". Nhưng đó chính là
điểm độc đáo trong tư tưởng Hồ
Hữu Tường: ông coi văn hóa không phải là
những thành quả đă gặt hái được trong
các lănh vực văn chương, khoa học, nghệ
thuật, triết học, mà là một trạng thái
động, là một thái độ, một phong cách: Con
người thường trực sống trong suy
tưởng để tiến tới chân thiện mỹ.
Và một con người như thế là con người
văn hóa.
"Văn hóa" như vậy
rất gần với hành tŕnh tiến đến cơi
niết bàn của nhà Phật, t́m đến đỉnh cao
của con người. Nhưng đạo Phật t́m sự
xuất thế, giải thoát cho chính ḿnh, Hồ
Hữu Tường t́m sự nhập thế: tiến
đến chân thiện mỹ trong hành động
để phụng sự xă hội, con người; và
đó là lư do cần phải "cải tiến"
đạo Phật, đi từ sự tu thân (Đông
phương) để tiến tới sự nhập
thế hành động, thay đổi diện mạo nhân
loại.
Thụy Khuê
Paris,
tháng 5/2003