Ngô Văn nhớ về
Hồ Hữu Tường
Thụy Khuê
Ngô Văn, nhà biên khảo, nhà hoạt
động cách mạng trong nhóm Đệ Tứ, sinh
năm 1912 ở xóm Tân Lộ, gần Thủ Đức.
Đi làm từ 14 tuổi. Gia nhập xu hướng
Cộng Sản tả đối lập năm 1932. Sau 45
sang Pháp, làm việc trong các xí nghiệp, và tích lũy
những tài liệu để biên khảo. Các tác phẩm
chính: Vụ án Moscou (Nxb Chống trào lưu, Sài
G̣n, 1937), Divination, magie et politique dans la Chine ancienne
(PUF, Paris, 1976), Revolutionaries They Could Not Break (Index
Book Centre, London, 1995), Vietnam 1920-1945, révolution et
contre-révolution sous la domination coloniale (L'insomniaque, 1996;
Nautilus, 2000), Việt Nam 1920-1945, cách mạng và phản
cách mạng thời đô hộ thực dân
(L'insomniaque, Paris, 2000), Avec Maximilien Rubel, une amitié, une
lutte 1954-1996 (L'insomniaque, 1997), Au pays de la cloche félée
(L'insomniaque, 2000)
...
Tôi gặp Hồ Hữu Tường
năm 1932 (ông ở Pháp về năm 1931), lúc ấy ông
đang làm tờ Phụ Nữ Giới Chung ở Sài G̣n. Tôi
vừa dịch xong bản Tuyên ngôn Cộng Sản của
Marx, có người bạn tôi đem lại tŕnh với ông
để đăng báo Phụ Nữ Giới Chung.
Đọc xong, Hồ Hữu Tường cho biết
muốn gặp tôi. Đó là lư do tại sao tôi gặp Hồ
Hữu Tường.
Ông là một người thông minh, hiền
hậu và duyên dáng lắm. Lúc đó Hồ Hữu
Tường đă có một tổ chức bí mật, kêu
bằng nhóm Tháng Mười, xuất bản tạp chí bí
mật Tháng Mười, theo xu hướng Trotsky để
chỉ trích hoạt động của đảng Cộng
Sản Đông Dương lúc ấy. Ông không trực
tiếp giới thiệu tôi vào nhóm của ông, mà ông
đưa Đào Hưng Long, một chiến hữu trong
nhóm, giao thiệp với tôi. Tới cuối năm 32,
Hồ Hữu Tường bị bắt, năm 33 bị
kết án ba năm tù treo.
Năm 33, dù bị tù treo nhưng ông
vẫn nhập vào nhóm tranh đấu do Nguyễn An Ninh
thành lập tháng 4 năm 1933, nhân dịp có cuộc bầu
Hội Đồng Quản Hạt, lợi dụng tuyên truyền
chống chánh phủ thuộc địa một cách công
khai.
Nguyễn An Ninh là một nhà cách mạng
đàn anh mà những người Cộng Sản Đệ
Tam lẫn Đệ Tứ, và cả quốc gia nữa,
đều là đàn em, cho nên ông rất có uy tín đối
với họ; ông lập nhóm La lutte, quy tụ tất
cả những khuynh hướng chính trị chống Pháp
lúc đó, và Hồ Hữu Tường tham gia tờ La lutte.
Tới năm 1936, nhóm La lutte chia hai.
Nhưng muốn hiểu sự chia rẽ đó, phải
trở lại t́nh h́nh chính trị ở Pháp năm 1935.
Năm 1935, Pháp-Nga kư hiệp ước
Laval-Staline: Pháp và Nga liên kết quân lực. Do đó,
đảng Cộng Sản Pháp không c̣n chống chính sách quân
phiệt nữa, mà cổ vơ cho chính sách quân sự, chống
lại sự đ̣i độc lập của Cộng
sản Đông Dương và ủng hộ việc giữ
vững các thuộc địa. Đảng Cộng Sản
Đông Dương, vẫn theo đảng Cộng Sản Pháp
cho nên không c̣n theo con đường chống Pháp để
giải phóng dân tộc nữa, mà dần dần họ
chọn con đường chống Nhật.
Nhóm La lutte lúc ấy có hai khuynh
hướng:
- Một khuynh hướng ủng hộ
Mặt Trận B́nh Dân (Front Populaire), đảng cầm
quyền ở Pháp, tức là ủng hộ chính sách
thuộc địa, trong đó có những người
Cộng Sản Đệ Tam.
- Một khuynh hướng chống
Mặt Trận B́nh Dân trong đó có những người
Đệ Tứ.
Nhưng khi thành lập nhóm La lutte đă có
lời giao ước là Đệ Tam và Đệ Tứ
không gây chuyện với nhau, cho nên nhóm Đệ Tứ
phải ngậm miệng.
Hồ Hữu Tường mới lập
một nhóm bí mật mà ông làm cố vấn, gọi tên là
Chánh Đoàn Cộng Sản Quốc Tế Chủ Nghĩa,
phái tán thành Đệ Tứ Quốc Tế, và tôi là một
thành viên, mục đích chỉ trích đảng Cộng
Sản Đông Dương đi theo đường lối
của chính phủ thuộc địa và tách ra khỏi nhóm
La lutte.
Giữa năm 1936, ở Pháp có tổng
đ́nh công. Nhóm Chánh Đoàn Cộng Sản Quốc Tế
Chủ Nghĩa bí mật cổ động tổng đ́nh
công, tháng 6 năm 1936 tại Sài G̣n. Cả nhóm bị
bắt, cả Hồ Hữu Tường, nhưng v́ là
"cố vấn" nên ông không bị truy tố.
Ra khỏi nhóm La lutte, Hồ Hữu
Tường công khai xuất bản tờ Militant (lúc đó
các đảng đối lập không được
quyền ra báo tiếng Việt), để tự do
đả kích đảng Cộng Sản, theo tinh thần
Trotsky, nhưng trong ṿng bán bí mật vẫn tiếp tục
hoạt động cho nhóm Chánh Đoàn Cộng Sản
Quốc Tế Chủ Nghĩa vừa bị tiêu hủy,
đồng thời tiếp tục phong trào tranh đấu
bán công khai. Hai năm 36-37 là những năm phong trào thợ
thuyền và nông dân nổi lên cực độ.
Nhưng đến tháng 5 năm 1937, nhóm La
lutte tan ră v́ đảng Cộng Sản Pháp theo lệnh
của Moscou, ra lệnh cho đảng Cộng Sản
Đông Dương không được cộng tác với
Đệ Tứ nữa. Các phong trào thợ thuyền
đ́nh công do Đệ Tứ tổ chức, bên Đệ
Tam không tham gia, chỉ lập những hội ái hữu
thôi. Đệ Tam chỉ huy ở nông thôn, vừa ủng
hộ Mặt Trận B́nh Dân, vừa chống đối
những áp bức ở nông thôn.
Hồ Hữu Tường vẫn tiếp
tục tổ chức và chỉ huy Đệ Tứ trong
ṿng bí mật. Nguyễn An Ninh theo phái Đệ Tam. Tạ
Thu Thâu tiếp tục La lutte, làm cho tờ La lutte trở nên
cơ quan có khuynh hướng quốc tế. Sau khi tờ
La lutte trở thành xu hướng Đệ Tứ quốc
tế, Hồ Hữu Tường ngưng tờ Militant.
Đến năm 1938, khi chính phủ Mặt Trận B́nh dân
đổ ở Pháp, chính phủ cấp tiến Doladier cho
phép các đảng đối lập ra báo quốc ngữ,
tờ La lutte trở thành tờ Tranh Đấu và Hồ
Hữu Tường ra báo Tháng Mười.
Đến tháng 9 năm 1939, khởi
đầu thế chiến, chính phủ thuộc
địa mở phong trào tổng đàn áp, bắt hết
những đảng phái đối lập, giam trong các
trại giam rồi đầy đi Côn Lôn, 5 năm.
Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu
... đều bị bắt hết. Lúc ấy tôi ở trên
Nam Vang nên chỉ bị bắt và bị tù 8 tháng.
Đến năm 1945, Hồ Hữu
Tường được trở về, bị quản
thúc ở Cần Thơ. Tôi gặp ông v́ lúc ấy tôi
đang làm việc ở Cần Thơ. Tôi có giúp đỡ
vợ con ông. Ông bảo năm năm ở Côn Lôn, ông đă
suy nghĩ kỹ rồi, ông không theo Đệ Tứ
nữa, ông quay trở lại con đường quốc
gia, quay về với tổ quốc.
Trong cuốn Un fétu de paille dans la
tourmente, đánh máy ở Paris năm 1969, có một sai
lầm mà tôi muốn đánh chánh sau đây: Ông cho rằng
năm 1945, trong sự thanh trừng những người
Đệ Tứ, Việt Minh vẫn c̣n một chút cảm
t́nh (quelques sentiments). Cho nên thay v́ giết hết
trước khi bỏ Sài G̣n để lên chiến khu, họ
đem giam tất cả vào tù, và cảnh sát Pháp đă
thả tất cả. Sự thật th́ Dương
Bạch Mai hạ ngục những người Đệ
Tứ cốt là để sẽ đưa họ ra ṭa án
nhân dân. Nhưng binh lính Anh-Ấn th́nh ĺnh chiếm khám
lớn, trước khi giúp binh Pháp tái chiếm Sài G̣n ngày
23/9/1945. Sau đó, binh Anh-Ấn giao mấy người
Đệ Tứ lại cho mật thám Pháp. Một thời
gian sau những người Đệ Tứ mới
được thả ra. Cho nên việcï khỏi bị
Đệ Tam tàn sát là một sự t́nh cờ chớ không
phải v́ ḷng tốt của phái Đệ Tam.
Thụy Khuê ghi
Paris tháng 5/2003