NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU THI SĨ
Y sĩ Ngô Quang Lư
Bước chân vào một pḥng triển lăm
mỹ thuật, ta thử đứng giữa pḥng,
đưa con mắt khắp bốn phía, nh́n những
bức họa, bức b́nh phong, ta sẽ thấy đủ
các màu sắc thiên nhhiên. Những màu sắc ấy, nhà
mỹ thuật đă khéo lấy con mắt thâu vào trí năo,
rồi dùng các màu thuốc, dùng cái tài, dung ḥa tạo lập
ra những cảnh tưng bừng, khiến người
coi, ngắm cảnh nhân tạo, đem ḷng yêu mến
cảnh thiên nhiên, yêu muôn vật, mà chẳng quên yêu cả
cái tài nhà mỹ thuật.
Tôi đă thăm nhiều cuộc trưng
bày về mỹ thuật.
Tôi nghiệm rằng nhà mỹ thuật tuy
đă khéo lựa tỉa những cái thừa trong cảnh
vật mà chỉ thâu vào khung khổ cái vừa đủ
để tạo nên một cảnh tuyệt mỹ;
nhưng đến các màu sắc th́ tôi ít thấy nhà mỹ
thuật táo bạo.
Những bức tranh về b́nh minh, khi
chiều trời bóng ngả, lúc trăng rọi đầu
gành, những bức họa về mỹ nhân có đôi
mắt mơ màng, hay nằm khỏa thân, xơa tóc trong lớp
màn “tuyn”, đều được nhiều người
ưa chuộng.
Cái đẹp của thiên nhiên phải chung
đẹp vào lúc tranh tối, tranh sáng, mập mờ.
Ai đă cả gan vẽ một cảnh
trưa hè trên băi cát?
Có vẽ những cảnh lúc mặt
trời chói lọi, nhà mỹ thuật đă khéo cho ánh sáng
xuyên qua khe lá xanh ŕ, vàng ửng để ánh sáng vởn
những màu tươi sáng khác.
Cái chói lọi, phải chăng nó làm quáng
mắt nhà mỹ thuật hay hết thảy mọi
người.
Nhưng ánh sáng lại là tất cả. U
tối là tẻ lạnh của vạn vật, muôn loài.
Nh́n bức thủy mạc mưa phùn
trước rặng lau thưa, ngắm cảnh màu đông,
cành cây trơ khốc với một bầu trời mây
vẩn, âm u, một nỗi buồn man mác đă thoáng qua trong
tâm trí.
Rồi đến cái tịch mịch, âm u
của những đêm không trăng, không sao, th́ nó tẻ
lạnh làm sao! Tôi đố nhà mỹ thuật nào tạo ra
được một bức tranh tuyệt mỹ.
Cái u tối đó đă mờ đôi
mắt nhà mỹ thuật.
Đem bít hai con mắt nhà mỹ thuật
lại, rồi để người ấy trước
những cảnh huy hoàng, rực rỡ của Hóa công,
nếu người ấy tạo ra được một
tác phẩm mà người đời phải yêu, phải
thích, th́ người ấy phải có một kỳ tài.
Người ấy, chúng ta có,
Người ấy, một thi sĩ mù.
Người ấy, ông Đồ Nguyễn
Đ́nh Chiểu.
* * *
Một thanh niên mới hai mươi sáu cái
xuân xanh, đương thời bay nhảy, bao năm lao
đao nơi sân Tŕnh, cửa Khổng, những mong ngày kia,
rồng mây gặp hội, để đền ơn cúc
dục, trả nợ non sông, th́ than ôi, đánh đùng
một cái, danh đă lỡ làng v́ vai mang chữ Hiếu,
rồi kế đó, thân lại đeo thêm một cố
tật, khiến bốn mươi năm trời, chịu
sống trong cảnh u tối mịt mờ.
Hai mắt ngọc đâu c̣n vẻ long lanh
mà thâu nhập những cảnh sác rực rỡ của Hóa
công. Những ngày chói lọi, muôn màu ngàn sắc nó cũng
chỉ là những cảnh u tối, chiều hôm. Ngày
buồn tanh, đêm trống rỗng “thuyền hồn
chở một khoảng không” rồi với cuộc
đời sóng gió bên tai, nó chỉ làm cho nỗi bi ai càng thêm
nặng chĩu.
Ôi! Mới hai mươi sáu cái xuân xanh, mà
đă già trong tâm sự. Ông tiếc cho thân thế, cái thân
thế đă hẹn với tang bồng: ông tiếc
đời xuân không bao giờ trở lại.
“Cây cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi? Có hay không?”
Ngước mắt trông lên, chỉ thấy
đen x́ một bóng. Đường đi không biết,
lối lại th́ không, trèo non xuống dốc, ai
người giúp đỡ! Cái cảnh:
“Mây giăng ải bắc, mong tin nhạn,
Ngày xế non nam, bặt gió hồng”.
Thật là ngao ngán; phận cho ông Trời
cho, tưởng đến những đau ḷng!
T́nh đă như thế, cảnh đă
như thế; vậy mà ông đă đem những ngày không
hoa, không chim, đem chút xuân tàn tạ trong ḷng mà tạo ra
được những lời nói, câu văn, truyền
tụng khắp non sông, ghi lại cho hậu thế, th́
phải chăng ông đă có một ḷng kiên nhẫn phi
thường với một tài ba lỗi lạc.
* * *
Đọc văn Nguyễn Đ́nh
Chiểu, có người nói: “ta sẽ thấy những
chỗ bơ thờ, lạc lẽo, sống sượng,
lúng túng, vụng về”.
Tôi, th́ tôi nói: văn Nguyễn Đ́nh
Chiểu không màu sắc.
Nói không màu sắc cũng không đúng. Tiên
sanh chỉ dùng những màu tưởng tượng và
phần nhiều những màu khô khan, héo úa.
Th́ đây:
“Vườn luống trông xuân, hoa ủ
dột,
Ruộng riêng sầu chủ, lúa khô khan”
Hoặc:
“Đá kêu rêu mọc bia Dương
Nghiệp,
Cỏ úa hoa tàn mả Lư Lăng”.
Bảo rằng những luật của
thơ Đường nó ép uổng chỉ dùng có
mười bốn chữ trong hai câu tả, nên màu
tươi, sắc thắm không nẩy ra trên thơ tứ
tuyệt, bát cú, là sai. Th́ ta lấy ngay một vài tỷ
dụ ở các nhà văn khác.
Hai câu của bà Huyện Thanh Quan sau đây:
thật là một bức tranh đơn sơ mà tuyệt
mỹ:
“Xanh ôm cổ thụ tṛn xoe tán,
Lan tươi, huệ tốt, lá xanh xanh”.
Nhưng b́nh sanh, Nguyễn Đ́nh chiểu
ít làm thơ thất ngôn tả cảnh, vậy ta thử
kiếm trong thơ lục bát là lối sở trường
của tiên sanh, xem có chăng những màu rực rỡ:
Một cảnh, tiên sanh đă kết là
“cảnh xinh như vẽ, người tươi như
dồi” mà tiên sanh viết:
“Buồn trông dậm liễu
đường ḥe,
Tiếng chim gọi hăm, tiếng ve kêu
sầu.
Buồn trong non nước một màu,
Sông quanh quẩn khúc, núi chồng chịt
cao.
Thác gành lên xuống trải bao,
Trên gành chim hót, dưới ao cá
cười”.
(Trích Lục
Vân Tiên)
Th́ thật chúng tôi chẳng thấy cái xinh,
cái tươi ở chỗ nào cả.
Trong một đêm trăng mờ, có lẽ
nó hạp với tâm hồn tiên sinh, th́ những cái mờ
mờ, tối tối nó thoát ra được một cách
dễ dàng:
“Hai bên bờ bụi rậm ri,
Đêm khuya vắng vẻ gặp khi
trăng mờ.
Trông chừng đường sá bơ
vơ,
Có đàn đôm đốm mờ mờ
đi theo.
Qua sông rồi lại trèo đèo,
Ve kêu sầu năo, dế kêu năo nùng”.
(Trích Lục Vân Tiên)
Nhưng đến cái cảnh sau đây,
dẫu tiên sinh có cố dùng sức tưởng
tượng mà tả ra, nó cũng vẫn bằng phẳng
u tối. Các màu tươi thắm vẫn không sao bật
nổi lên được.
Một cổ miếu bên đường,
trước có đám sen,mà lại dưới một ngày
trời nắng, th́ biết bao màu sắc. Thế mà tiên sinh
đă viết:
“Thấy ṭa cổ miếu bên
đường,
Cây cao bóng mát, vách tường phấn tô.
Cùng nhau tránh nắng bước vô,
Trước sân thấy có một hồ hoa
sen.
Một hồ sen nở lơa bèn,
Hoa đua nở nhụy, hoa chen ngậm
cười!”
(trích Dương-Từ Hà-Mậu)
Một cảnh nữa đáng lẽ nó
phải lộng lẫy nguy nga, nó phải tưng bừng
rực rỡ, thế mà với lời văn Nguyễn
Đ́nh Chiểu nó lại tẻ ngắt, “lạnh lùng”.
Cảnh ấy, cảnh Đức Khổng tử đi
chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế:
Phút đâu trên chốn tây lâu,
Nổi ba tiếng sấm, nhóm chầu các
cung.
Áo xiêm đai măo, lạnh lùng,
Tinh quân các vị, rùng rùng tới nơi.
………………………………………
Thấy đi có tấm thẻ bài,
Để rằng Khổng Tử
đại tài thánh vương.
Ngồi trong kiệu ngọc ngàn vàng,
Một ông Khổng Tử dung nhan tốt
lành.
(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)
Những bức tranh mà Nguyễn Đ́nh
Chiểu vẽ ra bằng lời thơ đó, chỉ là
những bức thủy mạc mà tác giả đă trưng
bày sau một tấm màn thưa.
Ta không thể trách được nhà văn
ấy, Mà ta cũng không thể
lấy đầy mà giảm tài nghệ của thi
nhân.
Đọc suốt cuốn Lục Vân Tiên,
ta phải thấy cái khéo của tác giả. Mỗi khi
cần phải tả một cảnh thiên nhiên, tiên sinh v́
cố tật của ḿnh, cái tật nó làm cho tiên sinh trở
nên vụng về, tiên sinh chỉ như một nhà họa
sĩ, dùng mấy nét phác đơn sơ, tạo nên một
bức tranh có h́nh, có bóng, c̣n màu sắc tiên sinh để
người đọc mặc sức điểm tô.
Những cảnh ấy nó chỉ thoáng trong một vài câu,
rồi những hoạt động của nhân vật trong
cảnh nó bật hẳn lên, chiếm hết phần quan
trọng, che kín những phong cảnh chung quanh.
* * *
Văn Nguyễn Đ́nh Chiểu không có
những màu sắc tưng bừng, nhưng trái lại, có
một nhạc điệu rất phong phú, cái nhạc
điệu theo luật thừa trừ của tạo hóa mà
nẩy ra.
Hai con mắt đă mù, th́ hai lỗ tai
phải thính. Một nhà họa sĩ Nhựt Bổn
chẳng may về sau cũng đui hai con mắt như thi
sĩ Nguyễn Đ́nh Chiểu chúng ta mà lại đeo theo
bịnh lăng tai, có nói: “Mùi thơm của bông hường,
bông huệ khác nào một khúc ca ngâm” Th́ ra ông Trời, khi
đă ăn cướp của người một bộ
phận, lại đền bù cho người một
một nguồn cảm thụ lực khác thường
trong những cơ quan khác.
Cái nhạc điệu nó rải rác trong
văn Nguyễn Đ́nh Chiểu th́ nhiều. Ngay trong
mấy câu văn tôi trích ở trên, ta đă thấy
những tiếng chim hót, ve kêu, cá cười, dế
gọi.
Đọc đoạn văn sau đây,
chúng ta thấy nó linh động, vui vẻ, êm dịu
biết chừng nào. Nó là cảnh ḥa nhạc thánh thú: ṭng reo
chim hót, đàn suối, hoa cười. Cảnh hữu t́nh
thay:
“Hữu t́nh thay ngọn gió đông,
Cành mai nỡ nhụy, lá ṭng reo vang.
Cỏ thơm hớn hở bên đàng,
Như tuồng mừng khách đong hoàng
đến đây.
Líu lo chim nói trên cây,
Như tuồng chào hỏi khách nay
đến nhà.
Hai bên cỏ mọc giao ḥa,
Như tuồng đón rước giang hà
người sang.
Dưới khe nước chảy tợ
đàn,
Như tuồng mừng bạn hương
quan tách vời.
Trăm hoa đua nở miệng
cười,
Như tuồng mừng rỡ gặp
người cố tri”.
(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)
Nhưng Nguyễn Đ́nh Chiểu không
phải là nhà văn ngồi mà ca tụng cái đẹp
của thiên nhiên.
Mới mười tuổi đầu, thân
đă lao đao, xa mẹ ĺa cha, rời đất Saigon ra
Huế để tám năm theo thầy luyện tập.
Tiên sinh chỉ biết ra công xôi kinh, nấu sử, th́
năm hai mươi hai tuổi đă giựt
được cái tú tài khóa quí măo ở Gia Định
(1843). Tài c̣n sơ, trí c̣n thiển, tiên sinh ra công mài giũa
mà chờ khóa sau. Khóa sau! Ḷng tiên sinh nào được
toại.
“Hiềm v́ ngựa chạy c̣n xa,
Thỏ vừa ló bóng, gà đà gáy tan”.
Vai mang chữ hiếu, nên lỡ dỡ
đường công danh, rồi hai mắt mịt mù, thân
đeo cố tật.
Đă buồn cho thân thế, lại
buồn thêm v́ cảnh non sông, th́ bảo tiên sinh c̣n th́
giờ nào, c̣n óc nào mà nghĩ đến những cảnh
vui tươi sáng rạng.
Văn Nguyễn Đ́nh Chiểu tả phong
cảnh th́ ít, mà tả tâm cảnh th́ nhiều.
“Cảnh là cái điều giả dối,
phù vân, mà tâm mới chân thành trường cửu”.
Tả tâm cảnh, văn tiên sinh lại
rất lưu loát
“Những lâm phụ mẫu hiển vinh,
Nào hay từ thọ u minh sớm rồi.
Thấu chăng bể rộng trời dài,
Tưởng niệm cúc dục ră rời
phế can”.
(Trích Lục Vân Tiên)
Cái bịnh của tiên sinh, cái bịnh nó làm
cho “Lỡ bề báo hiếu, lỡ bề lập thân”, tiên
sinh rất lấy làm đau xót:
“Làm ra cớ ấy, tạo hóa ghét chi nhau,
Nghĩ đến đoạn nào, anh hùng
rơi lụy măi”.
Giá ta cứ tin ở hai câu trong Ngư
tiều vấn đáp:
“Thầy ta chẳng khứng sỉ liêu,
Sưng hai con mắt bỏ liều cho
đui”.
Th́ ta tưởng tiên sinh đă hủy
tấm thân một cách dễ dàng qúa. Sự thật nào
phải vậy.
Sưng hai con mắt, tiên sinh cũng ráng
trị, nhưng lẽ số phận bắt tiên sinh phải
đui mù, cho nên chẳng gặp thầy, liệu chiều
thang thuốc, nhưng:
“Mười ngày chẳng bớt chút nào,
Ruột đau chín khúc như bào, như sôi”.
Mà chưa được một trăng th́
ôi thôi, một tấm màn đen đă bít bùng đôi tṛng
mắt:
“Xót thương đôi ngả mịt mù,
Biển sông nào biết bụi bờ là
đâu”.
Lắm lúc vẩn vơ, óc những mơ
ước, cầu khẩn một vị thần tiên giáng
thế mà cứu giúp ḿnh:
“Đêm nằm thấy một ông tiên,
Đem cho thuốc uống mắt liền
tỉnh ra”.
Nhưng điều đó chẳng qua là
ảo mộng. Tỉnh giấc mộng, trông về
thiệt tế, tin ở ḷng, ở sức, tiên sinh học
thuốc. Biết đâu ḿnh chẳng kiếm
được một phương kế, tự trị
bịnh ḿnh. Nhưng tạo hóa c̣n nhiều cái khắc khe,
mà khoa học chẳng sao thắng nổi.
Đeo đẳng trong hai năm trời, vô
kế khả thi, tiên sinh đành trở lại Saigon
với tấm thân tàn tật (1850).
* * *
Thân thế đă như vậy, mà cái thân
thế của Nguyễn Đ́nh Chiểu từ đây khác
nào thân bèo trôi sóng vỗ.
Lập một trường để
truyền đạo thánh hiền cho sĩ tử, tiên sinh
vừa nổi tiếng ông đồ, th́ cuộc tang
thương dồn dập, đất nước loạn
ly cái thân mù lại chạy về Cần Giuộc (1861).
Tiếng sấm cứ gầm, dân cư
vẫn chạy, tiên sinh nào được ở quê vợ
lâu năm. Sau Saigon, Cần Giuộc cũng thất thủ.
Thế là tiên sinh lại ra đi, mà lần nầy đi măi
“nơi chân trời góc biển” là đất Ba Tri (Bến
Tre) để nương tấm thân bịnh hoạn
với nỗi ḷng chua xót.
“V́ câu danh nghĩa phải đi ra,
Day mủi thuyền nan dạ xót xa.
Người để muốn chi
nương đất khách,
Trời đà muốn vậy mến vua ta.
Một phương thà tránh đường
gai gốc,
Trăm tuổi xin tṛn phận tóc da”…
Bao năm lao đao nơi sân Tŕnh cửa
Khổng, tiên sinh nào bỏ phí cái tài ba. Cái đạo nho mà
tiên sinh thờ kính tôn sùng, bao giờ tiên sinh cũng
quyết một ḷng giữ trọn. Ngoài cái th́ giờ
giảng sách thánh hiền, tiên sinh c̣n làm thơ khuyên thế.
“Giận đời lắm việc
đảo điên,
Làm thế khuyên thế miệng liền ngâm
chơi”
Th́ mở đầu cuốn Lục Vân Tiên
đă thấy cái dụng tâm của tác giả.
“Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau ḿnh.”
Luôn luôn tiên sinh giảng giải những
chỗ uyên thâm của nho đạo. Những chi tiết
về tam cương, ngũ thường, thường
được chỉ dẫn một cách rơ ràng:
“Thánh xưa hiền trước để
lời,
Pḥ vua giúp nước sửa đời
dạy dân.
Học cho biết lẽ quân thần,
Biết phần phụ tử, biết
phần hiếu trung.
Dặn ḍ tua khá th́n ḷng,
Chớ tham của hoạnh, đừng mong
thói tà.
Nhiều người theo đạo nho ta,
Tiếng đồn thời khá vậy mà làm
nhăng.
Bỡi v́ không xét ḷng hằng,
Bỏ quên cội gốc, theo phăng
ngọn ngành.”
(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)
Tiên sinh cổ vơ những khí tiết anh hùng:
“Làm trai trong cơi thế gian,
Phú đời giúp nước, phơi gan anh
hào.
Làm cho tỏ mặt tài cao,
Nước non biết mặt, thị tào
biết tên.”
(Trích Lục Vân Tiên)
Mà trái lại, tiên sinh hết sức mạt
sát những điều trái với luân thường,
đạo lư.
“Mả chồng ngọn cỏ c̣n
tươi,
Ḷng nào mà nỡ nói lời nguyệt hoa,
Hổ thay mặt ngọc da ngà,
So loài cầm thú dễ mà khác chi.”
(Trích Lục Vân Tiên)
Chắc lắm khi trong cái tịch mịch
thanh văng của gian nhà hẻo lánh xa xôi, sao một
nỗi buồn mông lung vơ vẫn chẳng những
nẩy nở trong tâm hồn
bịnh hoạn? Nhưng đối cảnh, tiên sinh
lại phấn đấu với cảnh, mà thả hồn
thơ vào những cảnh diễm ảo mơ màng, nó là
những cảnh thanh tú ở nơi non tiên nước
thánh.
Điều đó, ta đă nhận thấy
trong cuốn Lục Vân Tiên mà ta lại thấy nhiều
trong những tác phẩm sau như Dương-Từ
Hà-Mậu, Ngư Tiều vấn đáp.
Chuốt ra hai chén quỳnh tương,
Răng xin gượng uống về
đường cho an.
Từ đây xuống chốn dương
gian,
Non tiên xa cách khôn đàng trở lên.
Gặp nhau biết lấy chi đền,
Chút duyên bèo nước nào quên t́nh nầy.
Ngàn năm bóng gió ở đây,
Riêng than chim nhạn rẽ bầy kêu xa.”
(Trích
Dương-Từ Hà-Mậu)
Nhân vật
ở các tác phẩm đó, nhiều khi nó là phản
ảnh của Nguyễn Đ́nh Chiểu Và những khí
tiết của người trong chuyện chỉ là khí
tiết của ông Đồ.
Câu trả lời của vị đạo
sĩ trong Dương Từ Hà Mậu:
“Sĩ rằng: trọn đạo th́ thôi,
Người đời lo phải trau
dồi tánh danh.
Trời cao đất rộng thinh thinh,
Non xanh nước biếc đă đành phui
pha.
Hỏi th́ ta phải nói ra,
Ba ngàn thế giới ta là vô danh.”
Lời ngư ông trong truyện Lục Vân
Tiên:
“Nước trong rửa ruột sạch
trơn,
Một câu danh lợi chi sờn ḷng đây.
Nay doi, mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hóng gió, đêm nầy chơi
trăng.
Một ḿnh thong thả làm ăn,
Khỏe vai chài kéo, mệt giăng câu
dầm.
Nghêu ngao nay chích mai đầm,
Một bầu trời đất vui
thầm ai hay.”
Đủ tỏ rằng Nguyễn Đ́nh
Chiểu là người danh không màng, mà lợi cũng không
ham. Suốt đời tiên sinh chỉ giữ cho trọn
đạo với một tấm ḷng trong sạch.
* * *
Muốn an vui trong cảnh thanh nhàn, muốn
trọn đạo mà ngồi giảng năm kinh bốn
truyện ở tận gốc biển chân trời, nhưng
cảnh thế nào có để cho ông đồ
được liên miên trong cảnh mờ ảo.
Sự đời như làn nước
biển cứ cuồn cuộn từ măi nơi xa lắc,
xa lơ, mà vỗ vào chung quanh cái nhà tranh vách nát. Những
tiếng sóng biển ấy, như những tiếng khóc
than kêu gọi một kẻ anh hùng thất thế.
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ. Một
nỗi ưu phẫn chỉ ngập tràn trong tim óc.
Giận, nên tiên sinh mới thốt ra
những lời gay gắt:
“Gặp cơn trời tối thà đui,
Khỏi gay con mắt, lại nuôi
đặng ḷng”.
Xem đoạn văn sau đây đủ rơ
tâm hồn của tiên sinh lúc trời chiều bóng xế.
“Thà cho trước mắt vô nhân,
Chẳng thà ngồi ngó sinh dân nghiêng nghèo.
……..
Thà cho nước mắt tối dầm,
Chẳng thà thấy đất lục
trầm can qua.
……..
Sáng chi theo thói tha cầu,
Dọc ngang chẳng đoái trên đầu
có ai?
Sáng chi đắm sắc tham tài,
Nung ḷng nhơn dục mang tai họa
trời.
Sáng chi sàm nịnh theo đời,
Nay vinh mai nhục mang lời thị phi?
Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi,
Thảo ngay chẳng biết lỗi ngh́
thiên luân?”
(Trích Ngư Tiều vấn đáp)
Những cái tẻ ngắt buồn tanh,
những nỗi đau thương sầu tủi, cứ
theo tiếng tích tắc của thời gian mà gậm mà
nhấm gan óc của một kẻ lỡ thời, dẫu
đến lúc đầu bạc mà nhăn, vẫn c̣n
đeo dính.
Người đă thấy già, sức đă
thấy yếu, thế mà tin đâu đưa tới, những
bạn tri âm lại cứ theo nhau chôn vùi dưới ba
tấc đất với những nỗi hận ḷng.
Con mắt mờ ở cái thân khô héo, bao phen
đă phải nhỏ những giọt lụy khóc kẻ anh
hùng.
“Ai toan cho thấu máy trời sâu?
Sự thế nghe thôi đă lắc
đầu.”
Hoặc:
“Trạm bắc ngày chiều tin điệp
vắng.
Thành nam đêm quạnh tiếng quyên
sầu.”
Sự đă đến thế th́:
“Thôi vậy, thời vậy, thôi cũng
vậy.”…
Tiên sinh đă già, cơ thể đă suy
nhược, tinh thần có muốn phấn đấu
cũng không c̣n sức.
“Công danh chi nữa ăn rồi ngủ,
Mặc lượng cao dày xử với
dân.”
Th́ ngày hai mươi bốn tháng năm,
năm Mậu Tí (3 juillet 1888) tiên sinh đă ngủ một
giấc dài không bao giờ trở dậy.
Con người kín đáo, thâm thúy, đau
đớn ấy, hết cả tâm sự, hết cả
chí hướng có lẽ gồm trong hai câu:
“Sự đời thà khuất đôi tṛng
mắt,
Ḷng đạo xin tṛn một tấm
gương.”
Nó chỉ là một tiếng thở dài, không
cầm hết!
Nhà họa sĩ, cầm ngọn bút lông
ghi chép, tạo ra những
cảnh sắc của thiên nhiên, những cảnh sắc
thâu nhập vào tâm hồn bởi hai tṛng mắt.
Thi sĩ Nguyễn Đ́nh Chiểu cũng
dùng ngọn bút lông tả nỗi bi đát chan chứa trong
ḷng, nỗi bi đát ngấm vào tủy năo bởi hai lỗ
tai nó đă phải làm hai phận sự: thính quan và giác quan.
Những lời văn ấy nó là một
bầu riêng tâm sự, nó là những tiếng nức nỡ
ở cơi ḷng.
Cho nên đọc xong những đoạn
văn của Nguyễn Đ́nh Chiểu, tôi buộc
miệng nói ra:
“Có ai nghe tiếng không?
Tiếng người mù nức nỡ.”
Tôi đă đem tâm hồn nghệ sĩ mà
để vào Nguyễn Đ́nh Chiểu. Tôi đă đem cái
màu sắc, cái nhạc điệu, mà dài hơn nữa tôi
đă đem những tiếng tơ ḷng của Ông
Đồ mà bày giải, tiếng tơ ḷng nó không như
bản đờn êm ái mà nó chẳng khác nào những
tiếng gió rít trong ḷng thời gian giữa cơn phong ba băo
táp.
Vậy ta thử xét cái nghệ thuật
của Nguyễn Đ́nh Chiểu ra sao?
Nguyễn Đ́nh Chiểu là một nhà
mỹ thuật có tài, dẫu cái tài chưa đến
chỗ hoàn mỹ. V́ mỹ htuật phải chăng là
sự đào tạo ra cái đẹp.
Đừng tưởng cái đẹp
chỉ ở trong những cảnh huy hoàng rực rỡ.
Trong một người ăn mày mù ḷa rách rưới,
biết đâu rằng chẳng c̣n lại một chút
hương thơm.
Cái đẹp lộng lẫy nguy nga, có cái
đẹp thâm trầm êm ái. Lấy sự vui làm cái
đẹp, ấy là chủ nghĩa kẻ yêu đời.
Lấy sự khổ làm cái đẹp, ấy là chủ
nghĩa kẻ thương đời, nhưng dẫu sao
cũng là đẹp cả.
Đành rằng nhà mỹ thuật bao
giờ cũng đam tài nghệ ra thờ phụng cái
đep, nhưng cái đẹp có nhiều biến
đổi tùy theo t́nh thế, tùy theo tính chất của
mỗi người.
Cái đẹp tuyệt đích th́ không bao
giờ có. Chỉ có cái đẹp hoàn toàn. Mà bên cái
đẹp hoàn toàn c̣n nhiều cái chỉ đẹp về
một phương diện.
Nguyễn Du là một thi sĩ đại
tài, cái tài ấy là một thiên tài. Nhưng nếu Nguyễn
Du chẳng ở trong cảnh ngộ éo le, vị tất
cuốn Kim Vân Kiều đă xuất bản. mà bao nhiêu
người cũng nếm những chua cay của sự
thế, mà nào đâu những tác phẩm kiệt tác trong
văn.
Cái đẹp của truyện Kiều là
cái đẹp hoàn toàn. Nguyễn Du khi thờ phụng cái
đẹp đă cố ư, muốn cho tác phẩm ḿnh
phải đẹp cả h́nh chất lẫn tinh thần.
Cho nên trong cách hành văn, tiên sinh đă như nhà họa
sĩ thâu nhập từ cái lớn lao đến cái tỉ
mỉ, lựa chọn, dung ḥa rồi chỉ đem vào tác
phẩm ḿnh những đường uyển chuyển,
những màu êm dịu, những điệu nhịp nhàng,
khiến cho tác phẩm có một ḥa điệu hoàn toàn,
đi tới sự hoàn mỹ.
Nguyễn Du đă đi tới mục
đích.
Nguyễn Đ́nh Chiểu cùng đem tài
nghệ ra thờ cái đẹp. Nhưng cái đẹp
của Nguyễn Đ́nh Chiểu chỉ là cái đẹp
tinh thần, cái đẹp đạo đức do nho giáo
mà nẩy nở, nên luôn luôn tiên sinh đem giảng giải,
cổ vơ những tam cương ngũ thường,
cốt đi tới mục đích riêng ḿnh, mục đích
nó hạp với ḷng người thời ấy. C̣n h́nh
thức ông đă v́ cố tật hay cố ư mà nhắm
mắt bỏ qua.
Sự “vụng về”, cái “lúng túng”,
những chỗ “sống sượng” cũng v́ đấy
mà có.
Nhưng bên cái vụng về, ta phải
nhận xét những cái đẹp nẩy ở tài năng.
Các ngài muốn một vài thí dụ? Th́
đây:
“Bóng thỏ ven mây lồng đất
trắng,
Gương thiềm đáy nước
vẽ trời xanh”
Phải chăng là một bức tranh hoàn mỹ.
“Sao bằng một cơi an sinh,
Sông sâu vực thẳm ai giành chi ai.
Theo sông khúc vắn khúc dài,
Dăm ba sợi nhợ một vài cần
tre.
Đêm trăng ngày gió bạn bè,
Vui câu hát xướng, vui ve rượu
đào.”
Thật là một cảnh an nhàn thanh thú.
Ta muốn những câu văn cảm khái,
trầm hùng? Tôi xin hiến:
“Đau đớn bấy, mẹ già
ngồi khóc trẻ,
Ngọn đèn khuya loe loét trong lều.”
“Năo nùng thay, vợ yếu chạy t́m
Chồng, con bóng xế dật dờ
trước ngơ.”
* * *
“Những lăm ḷng nghĩa lâu dùng, đâu
biết xác phàm vội bỏ!
Một chiếc sa tràng rằng chữ
hạnh, nào hay yên ngựa chở thây.”
Nguyễn Đ́nh Chiểu không lấy
lối chơi văn, gọt giũa mà thờ phụng cái
đẹp, tiên sinh chỉ để trong tác phẩm ḿnh
hết cả tâm hồn. Cái t́nh cảm đặc biệt
đă làm nẩy ra trong thi tứ tiên sinh một lối
văn đặc biệt. Nếu hai mắt không mù, nếu
sự đời đổi khác, biết đâu tiên sinh
chẳng đi đến chỗ hoàn toàn.
Nhưng chỉ v́ chữ tâm mà văn tiên
sinh được trường thọ.
Văn tiên sinh đă được các nhà
văn Pháp khen ngợi.
Ư tưởng của tiên sinh
được dân chúng mến yêu.
Ngày nay chúng ta c̣n mộ cái tài ấy,
phải chăng cũng chỉ v́ hai chữ tâm hồn.
“Ba Tri từ vắng tiếng hơi chàng,
Gió thảm mưa sầu khá xiết than.”
* * *
“Người ấy v́ ai ra cớ ấy,
Chạnh ḷng trăm họ ngậm ngùi
thương”.
Y SĨ NGÔ QUANG LƯ
(Nguồn:
Nam Kỳ Tuần Báo số đặc biệt ngày 26-6-1943)