Nói thơ,
Thơ rơi:
Những thể loại văn học
độc đáo của Nam Bộ
Nguyễn Hữu Hiệp
NÓI THƠ
Nếu dân ca là sự dung hoà
của giọng nói địa phương và các thể
văn thơ b́nh dân th́, nói
thơ, với lối diễn xướng “có ca vần”
biểu đạt tự nhiên, hấp dẫn đặc
thù (nói như hát, hát như nói – nhưng không phải là “hát
nói”) nên được xem như một trường phái –
trường phái mang tính “hát kể”. Cho nên, khi luật bàn
về bộ môn này, nếu không phải là “dân Nam Bộ
chính cống”, ắt sẽ có người thắc mắc:
“Đă là thơ sao lại không ngâm, mà nói?”. Đơn
giản, v́ đích thực nghệ thuật diễn
đạt “ḍng thơ đặc trưng Nam Bộ” này – mà
tiêu biểu là tác phẩm truyện thơ Lục Vân Tiên – nhứt
thiết người nghệ sĩ dân gian phải… “nói”. Cho
dù có “cầm bổn”, nghĩa là chưa thuộc ḷng, họ
cũng chỉ thể hiện bằng cách “nói”, và “nói” thôi,
chứ không “đọc”.
Nếu nói thơ Bạc
Liêu (xuất phát ở Bạc Liêu) mang màu sắc dân ca
trữ t́nh với làn điệu êm nhẹ th́, nói thơ Vân
Tiên có phần “to tiếng” hơn, nhưng không quá trấn
áp đến nhức cả tai như hát bội, cũng
không nhấn đi nhấn lại những tiếng
đệm “ư, ự” sau một vài tiếng hoặc
cuối câu như kiểu hát này; không xen đều
đều những tiếng “a” hay “nga” sau từng tiếng
(chữ) như khi đọc truyện Tàu; cũng không
lập lại vài tiếng hay cả câu ở “khổ
trước” để kéo dài thời gian như ḥ; cũng
không thôi thúc, bươn bả như nói vè, hoặc kiểu
kêu lô tô… Trái lại, nó điềm tỉnh truyền
đạt đến người nghe rơ chắc từng
tiếng một, nhưng không rời rạc nhờ ở
giai điệu và cơ cấu nhịp điệu, cùng là
âm điệu rung ngâm vừa phải, đủ để
tạo không khí đồng cảm và hấp dẫn
người nghe. Vậy th́, ở bộ môn nghệ
thuật này rơ ràng là vừa nói, vừa ngâm, vừa hát
như một sự tổng hợp, đan xen hài hoà. Để
biểu thị, người ta gọi đủ là “Nói
thơ Vân Tiên”.
Nói thơ Vân Tiên nguyên là
một cách diễn xướng rất đặc trưng
truyện thơ Lục Vân Tiên, dài 2.082 câu, do nhà thơ
miền Nam Nguyễn Đ́nh Chiểu sáng tác. Từ ấy,
đối với những tác phẩm truyện thơ dân
gian có nội dung xây dựng đạo lư mẫu mực, lư
tưởng phấn đấu, hoặc kích động
ḷng yêu nước, nhân dân thường dùng lối diễn
xướng này. Chính nhờ nghệ thuật nói thơ
hấp dẫn như thế mà tác phẩm Lục Vân Tiên
nhanh chóng được phổ biến rộng răi. Và
nội dung “giữ đạo nhà” của nó tác động
rất lớn đến nếp sống, nếp nghĩ
nhân dân miền Nam. Ngay ở thời điểm tác phẩm
mới được in ra (khoảng năm 1865), theo ghi
nhận của G. Aubaret th́ “Ở Nam Kỳ, có lẽ không
một người thuyền chài hay người lái đ̣
nào lại không ngâm nga vài ba câu trong khi đưa đẩy
mái chèo”, và cũng theo lời ông ta, trên cả nẻo
đường bộ, ở các chợ búa, nơi bến
tàu, bến xe, đâu đâu người ta cũng thấy
“những đám người ngồi xổm, xúm quanh
một người ăn mặc rách rưới,
thường là một kẻ mù loà, đề nghị anh ta
gân cổ lên kể chuyện Lục Vân Tiên có khi đến
hằng giờ mà người nghe không biết chán”. Rơ ràng
nói thơ… Vân Tiên là một h́nh thức giải khuây mang ư
nghĩa giáo dục quần chúng rất thâm sâu.
Chung nhất, nói thơ là
một sản phẩm văn nghệ dân gian đặc
hữu độc đáo của Nam Bộ. “Bảo vật”
phi vật thể đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc này, cho đến nay, cả tiết điệu,
âm vận, đến cung đoạn và cách thức ngâm nga,
nghỉ ngừng… những người nghệ sĩ dân
gian – các cụ – vẫn rất mực trân trọng giữ
ǵn, và hầu như ai cũng diễn đạt rất nhuần
nhuyễn, nhất là trong những trường hợp
diễn xướng truyện thơ truyền thống,
kiểu “bổn cũ soạn lại!”.
Trong thời kháng chiến
chống Pháp, nếu từng có những trường
hợp “tiếng hát át tiếng bom” th́ ngày trước,dưới
chính quyền thuộc địa không thể không đau
đầu về phong trào nói thơ miền Nam – một
phong trào bùng lên sức đề kháng mănh liệt của
toàn dân Nam Bộ trước sự hà khắc tàn tệ
của ngoại bang, mà tiêu biểu nhất là đối
với tác phẩm khuyết danh “Thơ Thầy thông Chánh”, cho nên họ không thể
không cấm ngặt mọi h́nh thức lưu hành, kể
cả “lưu hành miệng”. Chính v́ vậy mà đời nay,
để có được “bổn thơ” này,
người ta đă phải mất quá nhiều thời
gian và công sức trong việc truy t́m. Và thật may mắn,
với quyết tâm vừa nói, vật đă không phụ ḷng
người!
Khi ngâm nga “Thơ Thầy thông
Chánh” bằng chính điệu “nói thơ” Nam Bộ, ta
sẽ rất dễ dàng cảm nhận thân phận
những con người thấp cổ bé miệng
trước móng vuốt của bầy lang sói, để
rồi “từ chân tường”, bằng lư trí, họ
quyết thà chết chứ không chịu đội chung
trời với giặc. Họ vùng lên, và trở thành
“kẻ kỳ tời”. Hành động bất khuất
ấy ngoạn mục làm sao!
Và, khi diễn xướng, ta
cũng sẽ cảm nhận được rằng, “nói
thơ” đă làm phong phú thêm hương sắc vườn
hoa văn hóa nghệ thuật trên vùng đất phù sa màu
mỡ phương Nam – một đóng góp lớn và rất
đáng kể của người Nam Bộ mà thế
hệ hôm nay và mai sau không thể không hănh diện, tự
hào.
Dưới đây là
đoạn đầu bổn thơ Thầy thông Chánh
được diễn xướng theo điệu “nói
thơ Vân Tiên” (đọc minh họa):
Nhựt
tŕnh Vĩnh Kư đặt ra,
Chép
làm một bổn để mà coi chơi,
Trà
Vinh nhiều kẻ kỳ tời,
Có
thầy Thông Chánh thiệt người khôn ngoan,
Đêm
nằm khô héo lá gan,
Nghĩ
giận Biện lư không an tấm ḷng.
Chừng
nào tỏ nỗi đục trong,
Giết
tên Biện lư trong ḷng mới thanh.
Lang-sa
làm việc châu thành,
Mười
bốn tháng bảy lễ rày Chánh chung.
Chỉ
sai đua ngựa rần rần,
Trát
đ̣i làng tổng tư bề đến đây.
Bốn
giờ đua ngựa cát bay,
Phủ
Hơn, Biện lư đương rày ngồi coi.
Có
thầy Thông Chánh hẳn ḥi,
Xách
súng nai nịch đi coi châu thành.
Phủ
Hơn lời mới hỏi rằng:
Do nào thầy Chánh đi ŕnh
bắn ai?
Thầy
thông thưa lại cùng ngài:
Tôi bắn Biện lư chớ
ai bao giờ.
Thầy
thông thiệt lẹ như cờ,
Bắn
quan Biện lư suối vàng mạng vong…
THƠ
RƠI
Muộn nhất cũng vào
khoảng những năm đầu thế kỷ XX, ở
Nam Bộ xuất hiện khá nhiều “thơ rơi” (nói
đúng là “thư rơi”). Nó “lưu hành” trong dân gian chỉ
một thời gian rồi... “biệt vô âm tín”!
Thơ rơi c̣n gọi thơ
ân t́nh hay thơ nhân ngăi. Loại h́nh này tuy ban đầu
được thể hiện bằng văn viết
(tự viết hoặc sở cậy người khác
viết dùm – thư tín) nhưng do phương thức
phổ biến truyền miệng thông qua những h́nh
thức “nói thơ”, ru em... nên những tác phẩm thơ
rơi được xem là “thơ và bài hát” – một trong
những thể loại văn học dân gian đặc thù
Nam Bộ.
Qua một số bài c̣n lưu
truyền như Thơ xa
xứ, Dứt dây cầm sắt, Thơ thăm mẹ,
Thơ tâm t́nh, Thơ tù oan... cho thấy đây là một
loại thư viết bằng văn vần. Thơ rơi
thường dùng tỏ bày tâm sự, t́nh cảm riêng tây mang
tính nội bộ với nội dung khá bao quát: thăm
viếng, khuyên can, kể lễ t́nh cảnh khổ nhục
đang bị tù đày; bị bắt sung quân nơi biên
ải; nỗi nhớ quê nhà da diết của những
người v́ hoàn cảnh kinh tế gia đ́nh bức xúc
phải tha phương cầu thực; hoặc trách cứ
sự bội phản của người yêu; hay khẳng
định lời ước hẹn t́nh chồng vợ
trăm năm nghĩa nhân chẳng cách; hoặc tŕnh bày,
phản ánh những sự kiện xót xa, tệ hại
đang diễn ra trong xă hội. Do đó thơ rơi
cũng chuyên chở tính thời sự tại một
thời điểm lịch sử nhất định.
Chúng ta c̣n nhớ vụ án
Nọc Nạng ở Bạc Liêu. Thảm trạng xảy
ra ngày 16 tháng 2 năm 1928. Biện Toại tức Tư
Toại (giấy thuế thân ghi sai là Tại – anh của
Mười Chức, phe bị nạn) bị bắt giam
ngót bảy tháng. Ṭa đại h́nh Cần Thơ xử ngày
17 tháng 8 năm 1928 tuyên Toại được tha bổng.
Trong thời gian bị giam, Toại có thư rơi về
gia đ́nh, vô cùng xúc động:
Trước
kính lạy mẫu thân (1) bá bái,
Sau
gởi thêm cô bác tường tri.
Kể
từ ngày con ôm súng ra đi,
Bị
thẩm án bắt giam ngục nội.
Con
cũng biết rằng con vô tội,
(...)
Ức
cho con mắc chốn tù lao,
Làm
sao khỏi ra vào đối nại.
Thương
một nỗi bốn em khờ dại.
Bị
súng c̣ bắn găy mạng chung (2).
Thân
con đây lực tận kế cùng,
Rầu
một nỗi ngục trung vắng vẻ.
Thương
từ mẫu ở nhà quạnh quẽ,
Nhớ
cháu thơ chiu chết theo bà (3).
Con
có cha rày ra cô độc,
Vợ
có chồng khác thể vọng phu.
Ở
khám trung như đứa đui mù,
Nay
mới rơ lao tù chốn ấy.
Rầu
một nỗi cháu em cũng vậy,
Bị
giam luôn năm đứa nơi đây (4).
Trách
quan trên sao chẳng xét ngay,
Giam
cả lũ như vầy quá ức.
Bề
trên ở bức thôi như rức,
Bọn
ta đây ngậm miệng cắn răng.
Ngày
mặt trời, đêm lại có trăng,
Xin
soi tỏ, bủa giăng thế giới.
Sự
oan ức xét cho đủ nỗi,
Lẽ
ngay oan ngửa đội trời cao.
Vái
bốn em (5) hồn
đến thiên tào,
Quỳ
tấu đệ âm hao cho biết.
Người
dương thế nhiều nơi quỷ quyệt,
Giựt
đất điền tiêu diệt cả dân (6).
Làm
quan mà chẳng xử cân phân,
Đă
áp bức lại c̣n toa rập (7).
(...)
Anh
cầu chúc hồn em (8) khoái lạc,
Cơi
tiêu diêu hiển hách anh linh...
(Ghi lại theo Phúc Vân, Nọc
Nạn. Nxb. Mũi Cà Mau, 1985).
Lá thư rơi này
người sưu tầm không ghi được
đầy đủ toàn bộ nên cuối cùng thiếu
phần “Cẩn kư” và “Nay thơ”.
Đa phần các bức
thư rơi đều phiếm chỉ cả tên
người gửi và người nhận, và nó
được gửi gián tiếp theo kiểu tờ
rơi cho người khác lượm đọc, rồi
truyền rao ra.
Về h́nh thức, thể
loại nầy được sáng tác rất tự do,
nghĩa là không chịu sự bó buộc của bất
kỳ một luật thơ nào, và ở cuối mỗi
bức thơ rơi, ngay sau hai chữ “Cẩn kư” (nhưng
không có kư tên hay ghi tên người gửi cụ thể)
hầu như bao giờ cũng có thêm hai chữ “Nay thơ”
– một cách xác định thời điểm viết
thơ (nhưng cũng không ghi ngày!).
Nhóm biên soạn sách Nguyễn
Đ́nh Chiểu trong cuộc đời cũng cho
rằng thơ rơi là một thể loại văn
học dân gian phổ biến ở Nam Bộ, nhất là các
tỉnh miền Đông và vùng ngoại thành thành phố
Hồ Chí Minh (...). Thơ rơi trong sinh hoạt diễn
xướng dân gian thường được đọc
như lối đọc vần vè, đôi khi thơ rơi
c̣n được đem “nói thơ” để ru con.
Và, tác giả sách Tiến
tŕnh văn nghệ miền Nam: “Văn mạch miền
Nam c̣n có một thể tài mới, rất mới trong các
thể loại của văn học dân tộc. Đó là
loại thư tín (thơ rơi) mà bản thân các nhà văn
miền này thường vẫn dùng. Chính loại này đă
đóng góp cho văn học nước nhà khá lớn. Nó
được một số gia đ́nh gần gũi
với nhà văn để thể hiện t́nh cảm;
đồng thời c̣n truyền thông tin tức lẫn nhau
giữa những ngày xa cách. Đây là một thể loại
trong lịch sử văn học, ít thấy nhà biên khảo
giới thiệu”.
Như có nói ở trên, ngay
từ năm 1906 người ta đă thấy “chủ bút”
Đặng Lễ Nghi cho in Ân t́nh thơ ghi là Lettres
d’amour (tức thơ rơi), thuộc thể loại
“thơ và bài hát” (Poésies et chansons). Sau đó nhà Xưa Nay có in
thêm vào các năm 1929, 1930, 1931
và 1932. Nhưng chẳng rơ tác giả sao lục, sưu
tầm hay là sáng tác. Nếu không phải sáng tác th́ thơ
rơi có thể đă xuất hiện (truyền miệng
trong dân gian) khoảng cuối thế kỷ XIX.
Dưới đây là một lá
“thơ rơi kiểu” đặc sắc, của một
đông y sĩ gửi thăm cha mẹ ḿnh ở quê nhà:
Trước
kính lạy muôn ơn hương phụ (9),
Sau
ngỏ cùng tri mẫu (10) tại gia.
Nghĩ
phận con nhiều nỗi bạc hà (11),
Đầu
khấu (12) xin cha đừng
chấp nhứt.
Tay phong
thơ một bức (13),
Ḷng thương
trực (14) sầu bi.
Nghĩ
phụ thân nào khác cốt b́ (15),
Ơn
kế mẫu dường như táo nhục (16).
Xưa
nhờ có mẫu đơn (17) dưỡng
dục,
Nuôi
lớn khôn nên chữ phục linh (18).
Điệu
nam tinh (19) đâu dám vong t́nh,
Niềm
phụ tử (20) nỡ nào bội nghĩa,
Cha
mựa bảo nhu y thục địa (21),
Mẹ
nhọc nhằn nuôi dưỡng dự tri (22).
Câu
dưỡng nhi đăi lăo a ngùy (23),
Chữ
tích cốc pḥng cơ tạo giác (24).
Ḷng
hiếu thảo thường sơn (25) bia
tạc,
Dạ
trung quân chi tử (26) hằng ghi.
Muốn
bổ trung ngặt thiếu
huỳnh kỳ (27),
Biết
sao cho được nhân sâm (28) đại
bổ.
Con
cũng muốn tiểu hồi (29) phản
bộ,
Nghĩ
lại c̣n thiếu vị thuỷ ngân (30).
Biết
sao kiếm được châu thần (31),
Thời
con mới ân cần quy vỉ (32).
Có
đâu nỗi châu sa (33) giọt lụy,
Có
đâu mà ở đất Cao Ly (34).
Nghĩ
như con vô dụng quản b́ (35),
Xin thân
phụ Hồi Sanh (36) an tức (37).
Con
vốn thiệt Tảo Tần (38) thốn
thức,
Dạ
lâm đền vơng cực thiên môn (39).
Muốn
trở về ngại nỗi nhơn ngôn (40),
Ḷng cam
thảo (41) càn khôn cũng biết!
Ít lời
chỉ thiệt (42). Cẩn kư. Nay
thơ.
Thơ rơi không có tựa.
Đây dựa vào nội dung mà đặt. Bài nầy do ông
Nguyễn Văn Hà sưu tầm, dẫn lại từ sách Tân
Châu 1870 – 1964, in năm 1965 của Nguyễn Văn
Kiềm. Ông Hà cho biết người gửi là ông
Nguyễn Nhật Tảo (học tṛ của cụ tú tài
Trần Hữu Thường) con ông Nguyễn Hồi Sanh,
tục gọi thầy Bảy Xiêm. Thời Pháp thuộc, v́
sanh kế ông chuyển cư lên Ḷ Veng (Kampuchia) để
vừa mở trường dạy chữ nho vừa hành nghề
đông y. Lâu ngày, nhớ thân phụ và kế mẫu nên ông
gửi thư này về thăm. Đặc biệt, như
ta đă thấy, mỗi câu đều có mượn
một vị thuốc Bắc mang tên gọi phù hợp
để tỏ bày tâm sự (dược tính của
mỗi vị thuốc được đông y sĩ
Trần Thành ở Tân Châu, An Giang chú thích), hết sức tài
t́nh!
* Chú thích:
(1)
Mẹ của Biện Toại là bà (vợ của)
hương chánh Luông.
(2) Tức hai anh tên là Nhẫn
và Nhịn (giấy thuế thân ghi sai là Nhịnh), em trai là
Mười Chức và vợ Mười Chức tên Thị
Nghĩa. Bài vè Nọc Nạng nói “Năm người đổi
một thằng Tây” là bốn người này và một hài
nhi c̣n trong bụng Thị Nghĩa. Mười Chức
bị tên c̣ Tournier bắn. Ngay lúc bị thương
sắp chết, Mười Chức đă kịp nhào
tới dùng mác vót đâm trúng bụng tên Tournier. Ba ngày sau tên
c̣ này chết.
(3)
Cháu gái tên Tư, 14 tuổi, con của Nguyễn
Thị Trọng (Trọng là em gái Mười Chức).
(4)
Thị Trọng, Toại và con trai là Tia, Liễu, và Miều
(em rể của Toại).
(5)
Ba em ruột của Toại và một em dâu là Thị
Nghĩa – vợ Mười Chức.
(6)
Bang Tắc (tên thật là Mă Ngân, người Tàu);
chủ quận Giá Rai là phủ H., và bà Hà Thị Tr.
(7)
Chủ tỉnh Bạc Liêu; thống đốc Nam
Kỳ; và toàn quyền Đông Dương.
(8)
Vợ Mười Chức, em dâu của Toại.
(9) Hương phụ: củ
cỏ cú, một vị thuốc trị thông hơi, khai
uất ăn ngon, để ám chỉ thân sinh ông, v́ trong
“hương phụ” có phụ: cha. Khi đọc
đến hai danh từ “hương phụ” thân phụ ông
mỉm cười nói: “Cha chả nó dám gọi tao bằng củ
cỏ cú”, nhưng sau, lúc đọc hết bức
thơ, quá xúc động, ông khóc sướt mướt.
(10) Tri mẫu: trị
khát nước, mồ hôi trộm, ho có đàm, để ám
chỉ kế mẫu ông, v́ trong “tri mẫu” có mẫu:
mẹ. Ư nói: xin mẹ biết ḷng con.
(11) Bạc hà: trị
nóng đầu, nóng con mắt, nóng trong xương và tiêu
đàm. Ư nói: con là người bạc bẽo.
(12) Đầu khấu: trị
ụa mửa, nặng ngực, con mắt mờ. Ư nói: con
cúi đầu xin cha mẹ tha
thứ tội bất hiếu của con.
(13) Bức: vị
“thiên chương chỉ”, khi trải ra như giấy
viết thơ.
(14) Thương trực: trị bịnh phong thấp,
phát hạn, thông trung tiêu. Ư nói: lúc nào con cũng nhớ cha
mẹ.
(15) Cốt b́: là
vị “địa cốt b́”, trị mát da mát thịt,
bổ máu huyết và bổ phần âm. Ư nói: thấy da
thịt là tưởng nhớ đến mẹ cha.
(16) Táo nhục: trị mát cật, bổ tinh,
trị lỗ tai lùng bùng. Ư nói: thường xem mẹ
ghẻ như mẹ ruột.
(17) Mẫu đơn: cây
bông tran trị phá huyết, thông đường kinh, mát
huyết, thâu mồ hôi tay chơn. Ư nói: xem mẹ ghẻ
như mẹ ruột.
(18) Phục linh: có
hai thứ: phục linh đỏ và phục linh trắng.
Thứ đỏ thông đường tiểu. Thứ
trắng tiêu đàm. Ư nói: luôn luôn nhớ kế mẫu.
(19) Nam tinh: trị
thông đàm, xương sống cứng và tay chơn co rút.
Ư nói: phận con trai như ngôi sao sáng lúc nào cũng làm
rạng rỡ ơn cha mẹ.
(20) Phụ tử: vị
thuốc có tánh nóng thường dẫn hỏa khắp thân.
Ư nói: t́nh cha con, vẫn nhớ măi măi.
(21) Thục địa: bổ thận và bổ
huyết. Ư nói: con c̣n tạm ở đất khách (Miên).
(22) Dự tri: trị
máu cam, mát cuống họng, thông đường tiểu. Ư
nói: con c̣n nhớ ơn mẹ nuôi con cực khổ.
(23) A ngùy: vị
thuốc rất hôi tanh. Các thầy pháp thường dùng nó
để trừ tà. Vị thuốc này được dùng làm mồi câu
cá. Ư nói: thân con vô dụng.
(24) Tạo giác: thông
đại trường, tẩy đàm độc. Ư nói: lo
xa cho cha mẹ.
(25) Thường sơn: trị
rét và trừ đàm. Mà “Thường sơn” đây lại
là biệt hiệu của Triệu Tử Long đời Tam Quốc. Ư nói:
ḷng hiếu thảo của con bia tạc như
“Thường Sơn Triệu Tử Long” nơi
Đương Dương.
(26)
Chi tử: trị bệnh bón uất. Ư nói:
ḷng con thảo như tôi trung thờ vua.
(27) Huỳnh kỳ: chận
mồ hôi, kín chơn lông, bổ khí. Ư nói: muốn
đền ơn cha mẹ mà kém bạc tiền.
(28) Nhân sâm: vị
thuốc đại bổ. Ư cũng nói thiếu tiền
bạc.
(29) Tiểu hồi: trị
bàng quang. Ư nói: muốn trở về.
(30) Thủy ngân: vị
thuốc sát trùng bệnh sang độc. Ư nói: muốn
về thăm cha mẹ ngặt không tiền.
(31) Châu thần: trị
an thần, định trí. Ư nói: muốn về nhưng
thiếu tiền nên không biết vay hỏi ai nơi xứ
lạ.
(32) Qui vỉ: đuôi
vị đương qui trị đuổi huyết
xấu ra máu tốt. Ư nói: con cũng muốn trở về
thăm cha mẹ lắm.
(33) Châu sa: trị
kinh phong, giựt ḿnh. Ư nói: không tiền về thăm cha
mẹ nên khóc thầm.
(34) Cao ly: ấy là
vị thuốc “Cao ly sâm”. Trong vị thuốc có chữ
“Cao” ám chỉ xứ “Cao Miên”. Ư nói: v́ không tiền nên
tạm sống ở đất Cao Miên.
(35) Quản b́: vỏ
trái cam tàu: trị đàm thông hơi. Ư nói: cha mẹ sanh con
mà không được nhờ con.
(36) Hồi Sanh: biệt
hiệu của thân phụ ông.
(37)
An tức: vị an tức hương
trị phá huyết, thông đường kinh. Ư nói: có ngày con
sẽ về thăm cha mẹ, xin đừng trông
đợi.
(38)
Tảo Tần: tức “Nhật Tảo”:
biệt hiệu của vị thầy thuốc nói trên.
(39) Thiện môn: trị
ho đàm, suyễn. Ư nói: lấy sức ḿnh tranh đấu
với phước trời, để làm có tiền
của, hầu đền ơn cha mẹ.
(40) Nhơn ngôn: vị
“thạch tín” hay “vị sang”. Ư nói: con cũng muốn về
thăm cha mẹ nhưng v́ quá nghèo sợ người gièm
siểm.
(41)
Cam thảo: vị thuốc sống trị
nóng, nướng uống mau tiêu. Ư nói: ḷng ông hiếu
thảo chỉ có trời biết.
(42)
Chỉ thiệt: trị chóng mặt, tiêu
đàm. Ư nói: ḷng thành thật phô bày.