VĂN
CHƯƠNG QUỐC NGỮ NAM BỘ
CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
NH̀N TỪ QUÁ TR̀NH XĂ
HỘI HOÁ CHỮ QUỐC NGỮ
Nguyễn Văn Hiệu
1- Điểm
qua những tên tuổi của nền văn học
Quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
như Trương
Vĩnh Kư (1837 – 1898), Huỳnh Tịnh Của
(1830 – 1907), Trương
Minh Kư (1855 – 1900), Nguyễn Trọng Quản
(1865 – 1911), chúng tôi nhận thấy ở họ có một
điểm chung: trong các công tŕnh sưu tầm, dịch
thuật, sáng tác tiêu biểu của ḿnh, các cây bút này
đều nêu rơ mục đích góp phần phổ biến
chữ Quốc ngữ (Latin). Biểu hiện cụ
thể qua các ghi chú ở đầu sách:
- Trong một lần in lại cuốn Chuyện
đời xưa (xuất bản lần
đầu năm 1866), Trương Vĩnh Kư viết: “Góp nhóp trộn trạo chuyện
kia chuyện nọ, in ra để cho con nít tập
đọc chữ Quốc ngữ, cùng là có ư cho
người ngoại quốc học tiếng Annam, coi mà
tập hiểu cho quen” và “nay ta in sách này lại nữa:
v́ đă hết đi, cũng v́ người ta dùng sách
nầy mà học tiếng, th́ lấy làm có ích [TL tham
khảo 1; trang 2].
Trên trang b́a Thông loại khoá tŕnh (Miscellanées, 1888) -
một tập san tư nhân, Trương Vĩnh Kư chua thêm tiếng
Pháp: “ lectures instructives pour les
élèves des écoles primaires, communales & cantonales” (đọc bản bổ ích cho
học sinh trường tiểu học, trường làng
và trường tổng) và viết trong lời Bảo: “Coi
sách dạy lắm, nó cũng nhàm; nên phải có cái chi vui pha
vào một hai khi, nó mới thú. Vậy ta tính làm ra một
tháng đôi ba ḱ, một tập mỏng mỏng nói
chuyện sang đàng, chuyện tam hoàng cuốc chí, pha phách
lộn lạo xào bán để cho học tṛ coi chơi cho
vui…” [3;3]
- Trong Chuyện giải buồn,
theo bản in lần thứ 5 năm 1911 (xuất bản
lần đầu năm 1885), Huỳnh Tịnh Của ghi: “Rút trong các sách hay để giúp
trong các trường học cùng những người
học tiếng Annam” [4;2]. Trong Chuyện giải buồn cuốn sau ,
theo bản in lần thứ 3 năm 1895 (xuất bản
lần đầu năm 1886), Huỳnh Tịnh Của
cũng ghi: “Dịch rút trong các
sách hay, lại phụ các án tấu, án đoán quan Annam làm,
lập lời nói trang nhă, lịch sự, để giúp
trong các trường học cùng giúp cho các người
học tiếng Annam” [5;2].
- Nguyễn Trọng Quản viết Truyện
Thầy Lazaro Phiền (xuất bản lần
đầu năm 1887), trong nhiều mục đích có
mục đích “trước là
làm cho trẻ con ham vui mà tập đọc” và “kẻ th́ cho quen mặt chữ,
người th́ cho đặng giải buồn một giây”
[6; 16].
- Chúng tôi chưa t́m thấy những ghi chú của
Trương
Minh Kư về việc dịch sách để
giúp người đọc học chữ Quốc ngữ,
nhưng là một nhà giáo từng soạn nhiều tài liệu
dạy tiếng, giảng giải đạo lư như Tập
dạy tiếng Phansa và tiếng Annam (1892), Quốc
ngữ sơ giải (1895),
Tiểu
học gia ngôn diễn nghĩa (1899)…chắc chắn
các công tŕnh dịch thuật tác phẩm văn học
của ông cũng không tách rời với mục đích góp
phần giúp người đọc vui học thêm chữ
Quốc ngữ - một trong những nội dung quan
trọng trong quá tŕnh phát triển văn hoá của xă
hội Nam Bộ cuối thế kỷ XIX. Trương Minh Kư
giúp Trương
Vĩnh Kư diễn ra thơ Nôm những bài
thơ chữ Hán trong mục Giải nghĩa câu chữ Nhu trong Thông loại khoá tŕnh
để người đọc “coi cho dễ nhớ” (Trương Minh Kư
diễn Nôm tám bài) cũng cho thấy điều đó.
Công việc góp phần xă hội hoá chữ
Quốc ngữ của các tác giả, học giả nêu trên
có thể không tách rời với chủ trương
của người Pháp:
bằng mọi cách biến chữ Quốc ngữ vốn
chỉ giới hạn trong phạm vi nhà thờ, giáo dân
trước đó thành công cụ nô dịch, kể cả
việc “dịch một vài tác phẩm Trung Hoa cơ bản và
cổ điển” [7; 109]. Tuy nhiên cũng không thể
loại trừ khả năng các ông này c̣n xuất phát
từ nhận thức về vai tṛ văn hoá của
chữ Quốc ngữ như Trương Vĩnh
Kư đă viết trong lời mở đầu
bộ Syllabaire
Quốc ngữ (1876) của ông; “Chữ Quốc ngữ phải trở thành chữ
viết của đất nước. Phải như
thế v́ sự lợi ích và tiến hoá. Vậy,
người ta nên t́m cách phổ biến thứ chữ này
bằng mọi phương tiện” [8; 130]. Thực
tế cho thấy những hoạt động của các
tác giả, học giả trên phần nào vượt quá yêu
cầu của thực dân Pháp. Trường hợp
“quyển Đại Nam Quốc âm tự vị vượt xa hơn cái
việc trực tiếp phục vụ chính quyền Pháp mà
biểu lộ cái ư thức của tác giả muốn
“chuẩn thăng hóa tiếng Việt” như nhận
định của các nhà biên soạn Địa chí văn hoá Thành phố Hồ
Chí Minh [10; 152] là một ví dụ tiêu biểu.
2. Gắn với truyền thống phong cách ngôn
ngữ Nam Bộ và với yêu cầu xă hội hóa chữ
Quốc ngữ, các tác giả, học giả trên
đều chủ trương, và thể hiện khá rơ trong
các công tŕnh, tác phẩm của ḿnh, cách viết giản
dị, dễ hiểu, gần gũi với lời ăn
tiếng nói thường ngày của nhân dân. Trương Vĩnh
Kư chủ trương viết theo “cách nói tiếng Annam ṛng; có
nhiều tiếng nhiều câu thường dùng” [1; 2];
Nguyễn Trọng Quản chủ trương “lấy tiếng mọi
người hằng nói mà làm ra một chuyện hầu cho
kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện
hay” [6; 16]… đều xuất phát từ yêu cầu xă
hội hoá chữ Quốc ngữ nêu trên. Có thể thấy
thêm một yêu cầu có tính hệ quả của việc
viết theo cách nói: “Annam ṛng” hay viết theo cách “mọi
người hằng nói”. Đó là phải viết, phải
diễn đạt theo h́nh thức văn xuôi và
thường là có tính thông tục. Nói đến văn
chương Quốc ngữ trong buổi đầu
trước hết là nói đến cách viết
mới với h́nh thức diễn đạt theo
hướng ngày càng tiếp cận với ngôn ngữ đời
sống. Theo chúng tôi, yêu cầu xă hội hoá chữ Quốc
ngữ là một trong những tiền đề cơ
bản của việc h́nh thành lối viết văn
mới này và các ông Trương, Huỳnh cùng Nguyễn
Trọng Quản là những người đặt
những nền móng đầu tiên.
Đến đây nảy sinh một vấn
đề khá lư thú: Tại sao trong một thời gian khá
dài, đến quá nửa thế kỷ XX, hai ông Trương Minh Kư,
Nguyễn Trọng Quản hầu như không
được nhắc đến trong các bộ văn
học sử cũng như không được biết
đến nhiều trong đông đảo công chúng
độc giả, dù như những nghiên cứu trong
những thập niên gần đây cho thấy, hai ông đă
có những đóng góp quan trọng trong tiến tŕnh văn
chương Quốc ngữ: một người đi tiên
phong trong văn học dịch Hán - Việt và trong văn
học dịch Pháp - Việt (Trương Minh Kư)
[9; 87], một người đi tiên phong trong việc
vận dụng kỹ thuật phương Tây để
viết nên tiểu thuyết hiện đại đầu
tiên và khá độc đáo trong lịch sử văn
học dân tộc (Nguyễn Trọng Quản)? Trong khi
đó, cũng là những người đồng hành,
tại sao hai ông Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của ngay từ đầu thế kỷ XX, chính
xác là từ 1901, đă có người lập báo Nông
cổ mín đàm, tuyên bố học theo hai ông mà
“thuật điệu”, mà “lập ngôn” nghĩa là viết
theo “điệu văn từ”, theo lối “đàm
thuyết” hơn là theo “điệu ca ngâm” truyền
thống [12; 2]; đến năm 1929 Phan Khôi vẫn thừa
nhận hai ông là hai bậc “đại sư” trong lối
viết văn Quốc ngữ ở miền Nam [13; 9]?
Trong nhiều nguyên nhân, theo chúng tôi, có một nguyên
nhân khá cơ bản, không tách rời với đặc
điểm và yêu cầu xă hội hoá chữ Quốc
ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX. Nguyễn
Trọng Quản và Trương Minh Kư đều có thể
được coi là hiện tượng “độc sáng”
trong công việc của ḿnh. Nguyễn Trọng Quản có
lối viết quá mới, cả về kết cấu
lẫn nội dung thẩm mỹ của tác phẩm; Trương Minh Kư
dịch tác phẩm văn học phương Tây là chủ
yếu, tác phẩm văn học Trung Quốc ông dịch
lại hầu hết là cổ văn và thơ nên không
được chú ư nhiều trước yêu cầu
viết những câu, những tiếng “trơn tuột”
thường dùng. Nói chung tác phẩm, dịch phẩm
của hai ông có phần, nếu không nói là phần lớn,
c̣n xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ của
quần chúng. Trong khi đó, Trương Vĩnh Kư đi vào
nguồn văn học dân gian, “lựa chọn những
truyện hay và có ích”, c̣n Huỳnh Tịnh Của lại
“rút trong các sách hay”, chọn nhiều truyện ngắn trong
văn chương thông tục Trung Quốc - cả hai nguồn
đều đă phổ biến và gần gũi với
thị hiếu thẩm mỹ của công chúng b́nh dân.
Nhờ vậy, tác phẩm của hai ông rất
được đón nhận. Người đọc có
thể vừa sử dụng những tập sách Chuyện đời xưa,
Chuyện khôi hài của Trương Vĩnh
Kư, Chuyện
giải buồn của Huỳnh Tịnh Của
để làm tài liệu học tập, vừa để
giải trí .
Nhan đề tập sách Chuyện đời xưa
của Trương
Vĩnh Kư dễ gợi nên cảm
tưởng ông ghi lại chuyện cổ tích, sưu
tầm vốn cổ. Thực ra Chuyện
đời xưa cũng hầu hết là các
truyện khôi hài, hoặc có tính cách khôi hài, chỉ nêu tên
truyện cũng đủ thấy điều đó
như Chàng rể
bắt chước cha vợ, Thằng chồng khờ, Hai
thầy đi làm đám, Thằng cha nhảy cà tưng, Hai
anh sợ vợ, Ông Cống Quỳnh, Ba anh dốt làm
thơ…cho thấy mục đích chủ yếu
của Trương
Vĩnh Kư vẫn là giúp người
đọc vui để học hơn là sưu tầm
để bảo tồn nh́n từ b́nh diện văn hóa. Có thể nói, bên cạnh
việc biên soạn từ điển, hai ông Trương,
Huỳnh đă rất khéo léo trong việc chọn con
đường văn học trên cơ sở chú ư đến
thị hiếu của người đọc để
phổ biến chữ Quốc ngữ, nâng cao dân trí nên
rất được nhiều người biết
đến, ghi nhận. Tính đến năm 1914, Chuyện đời xưa
đă đựơc in lại lần thứ 5, Chuyện khôi hài
được in lại lần thứ 4 năm 1909
(xuất bản lần đầu năm 1882), Chuyện giải buồn
(cuốn đầu) in lại lần thứ 5 năm 1911,
và Chuyện giải
buồn (cuốn sau) in lại lần thứ 3
năm 1895 (ghi theo các bản chúng tôi hiện có). Các tập
truyện trên c̣n được in đi in lại nhiều
lần, tiêu biểu như các bản in của nhà sách Khai
Trí (Sài G̣n) trong hai thập niên 1960, 1970 cho thấy sức
sống lâu bền của các tập truyện này trong ḷng
độc giả.
3. Trương
Vĩnh Kư sưu tầm văn học dân gian,
Huỳnh Tịnh Của dịch văn học thông tục Trung Quốc, như
đă nêu trên, với tư cách là những học giả
chứ chưa phải với tư cách là những nhà
văn; là công việc góp phần xă hội hóa chữ
Quốc ngữ chứ chưa phải là công việc sáng
tạo văn học hoặc v́ mục đích văn
học. Tuy nhiên qua những tập sách này, chúng ta có thể
nhận ra nhiều đặc điểm của nền
văn chương Quốc ngữ sơ khai, nền móng.
Ở đây chúng tôi chỉ đi vào một vài đặc
điểm theo chúng tôi là nổi bật, rất đáng
lưu ư:
- Thứ nhất là trong buổi đầu
của ḿnh, văn chương Quốc ngữ ở ta
đă vận dụng những vốn sẵn có trong nền
văn học dân tộc hoặc từ những vùng văn
học gần gũi với ḿnh (qua con đường
dịch thuật, cải biên,…) để phát triển. Thành
công của Trương
Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của có sự
đóng góp quan trọng của sự lựa chọn
đúng đắn này. Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của mỗi người mỗi cách nhưng
đều có những đóng góp mới trên cơ sở
xuất phát từ những giá trị gần gũi, có tính
truyền thống để hướng đến
đối tượng tiếp nhận. Về
phương diện này, với Trương Vĩnh
Kư vấn đề tưởng đă quá rơ.
Riêng với Huỳnh Tịnh Của, có thể thấy ông
đặc biệt chú ư đến thị hiếu của
người đọc trong việc lựa chọn tác
phẩm để dịch thuật làm tài liệu giải
trí, vui học. Có lẽ do Huỳnh Tịnh Của không ghi
xuất xứ các truyện dịch - hiện tượng
phổ biến trong dịch thuật văn học cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và phần nào
do văn và truyện chọn dịch của Huỳnh
Tịnh Của giản dị nên không ít người xem
truyện dịch của ông là những sáng tác hoặc ghi
chép từ truyện kể dân gian. Theo khảo sát của
chúng tôi, hầu hết các truyện trong Chuyện giải
buồn được
dịch từ các sách truyện Trung Quốc như Chiến quốc sách, Nam hoa
kinh, Sử kư Tư Mă Thiên, Truyện truyền ḱ,…và
nhiều nhất là Liêu
trai chí dị của Bồ Tùng Linh, đều
là những truyện trọng nghĩa khinh tài, chí khí và
phần nhiều là các truyện gần gũi với quan
niệm nhân quả, khuyến thiện trừng ác của
dân gian. Trong số 112 mục bài trong hai tập Chuyện
giải buồn (không kể 7 “án tấu, án đoán quan Annam
làm” ở cuối tập hai) đă có khoảng 70 truyện
dịch từ Liêu
trai chí dị. Như chúng ta đều biết, Liêu trai chí dị nổi
tiếng ở các truyện hồ li mộng mị, thư
sinh tài tử với mỹ nhân hồ, nhưng trong Chuyện giải buồn
chỉ có một truyện về hồ li - Chuyện chồn đất
Thơ Thủy, c̣n lại đều là những
chuyện nhân quả, thiện ác đáo đầu rất
gần gũi với quan niệm đạo đức -
thẩm mỹ của nhân dân Nam Bộ. Đây là
điều thể hiện rất rơ ư thức hướng
đến đối tượng tiếp nhận rộng
răi là người đọc b́nh dân và thể hiện
rất rơ mục đích góp phần xă hội hoá chữ
Quốc ngữ của ông.
- Đặc điểm nổi bật
thứ hai là qua Chuyện
đời xưa, Chuyện khôi hài và Chuyện giải buồn,
chúng tôi nhận thấy có mối giao thoa rơ rệt giữa
phong cách văn học viết với phong cách văn
học dân gian. Giao thoa phong cách giữa văn học
viết và văn học dân gian trong buổi đầu
của một nền văn học hiện đại có
phải là hiện tượng phổ biến trong các
nền văn học thế giới hay không cần có
những nghiên cứu riêng. Tuy nhiên ở đây vẫn có
thể nhận ra đặc điểm có tính quy luật
của một nền văn học đang có bước
chuyển biến cơ bản là hướng về
quảng đại quần chúng, nói bằng ngôn ngữ
cuộc sống:
Với Chuyện
đời xưa: lựa nhón lấy những chuyện hay
và có ích (1866) và Chuyện
khôi hài (1882), Trương Vĩnh Kư là người
đầu tiên văn bản hoá chuyện kể dân gian
bằng chữ Quốc ngữ ở đủ các dạng cổ tích, truyện
cười, truyện ngụ ngôn, giai thoại,…và
giữ được lối kể hồn nhiên, quê
kiểng đậm màu sắc khẩu ngữ Nam Bộ.
Trước và sau Trương Vĩnh Kư đều có
những học giả văn bản hoá truyện dân gian
như Lư Tế Xuyên với Việt điện u linh,
Vũ Quỳnh, Kiều Phú với Lĩnh Nam chích quái
(thời trung đại), Nguyễn Văn Ngọc với Truyện
cổ nước Nam, Vũ Ngọc Phan với
Truyện
cổ tích Việt Nam (thời hiện
đại) nhưng mục đích và quan niệm của
họ đều khác với Trương Vĩnh
Kư khi Trương Vĩnh Kư gắn chủ
yếu với mục đích xă hội hoá chữ Quốc
ngữ. Trương
Vĩnh Kư sưu tầm, văn bản hoá
truyện kể dân gian không phải nhằm mục đích
“làm người Nam, nên biết truyện cổ nước
Nam” như quan niệm của Nguyễn Văn Ngọc {14;
11}; hay “để độc giả thấy
được tinh thần đấu tranh của
người dân lao động Việt Nam” như quan
niệm của Vũ Ngọc Phan [15; 39]. Mục đích
sưu tầm khác nhau dẫn đến những quan
niệm ghi chép văn bản có phần khác nhau. Nguyễn
Văn Ngọc sưu tầm truyện cổ trên tinh
thần bảo tồn vốn cổ nên nhặt nhạnh,
ghi chép cẩn thận, so sánh đối chiếu để
phô diễn, sửa sang cho thành “câu chuyện có đầu,
có đuôi, có ư nghĩ, có ḱ thú, có văn vẻ” [14; 10] c̣n
Vũ Ngọc Phan th́ quan niệm tôn trọng những nét lớn,
“để sau khi viết lại, nếu đọc cho
đồng bào ở thôn xóm nghe, đồng bào cũng
vẫn nh́n nhận nó là truyện cổ tích Việt Nam
đă từng nghe trong gia đ́nh” [15; 39]. Trong khi đó, Trương Vĩnh Kư chủ yếu mượn chuyện kể trong dân
gian để làm tài liệu giúp mọi người vui
học nên ông có phần tự do “góp nhóp trộn trạo
chuyện kia chuyện nọ”, thậm chí ông c̣n “thêm một
hai chuyện thiệt tích mà có ư vị, vui, dễ tức
cười” [1; 2].
Văn bản hoá truyện kể dân gian là một
trong những cách làm cho văn học dân gian truyền
miệng thành như sáng tác văn học thành văn, làm cho
một câu chuyện
để kể
thành ra một truyện
để đọc
- một h́nh thức của văn học viết. V́
vậy người làm công việc văn bản hoá
truyện kể dân gian, nhất là xuất phát từ
mục đích chính như của Trương Vĩnh
Kư, thường ít nhiều để lại
dấu ấn qua cách
kể và cách
viết của ḿnh. Chẳng hạn đoạn
mở đầu trong Từ
Thức lấy vợ tiên được kể/viết
như sau:
“Ở ngoài Bắc có một cái ḥn tự nhiên
bốn bề đá dựng; đêm ngày sóng tạt bể
ầm ầm; người ta đặt tên là hang ông Từ
Thức.
Do cái chuyện nó người ta bày thế
nầy:…” [1; 35].
Rơ ràng đây là cách kể “vi phạm” nguyên tắc
Trường cổ
tích của các câu chuyện xưa. Cũng trong truyện này, nhân
vật Từ Thức có dáng dấp của một nhân
vật được xây dựng theo phong cách của
văn học viết khi “tác giả” chú ư đến khai
thác nội tâm, ngôn ngữ nhân vật…như:
“Sau về nhà, ông Từ Thức mới nhớ
mường tượng h́nh nhan nàng con gái ḿnh cứu; trong
ḷng nó bắt khoăn khoái nhớ thương, ước
cho đặng gặp mặt lại mới phỉ ḷng. Ra
vô bâng khuâng tư tưởng, ăn chẳng ngon, nằm
chẳng ngủ. Thao thức cả đêm; đang chừng
nửa đêm, lồm cồm chổi dậy kêu một
đứa thổi lửa, thắp đèn…” [1; 35].
Hoặc:
“Ông Từ Thức ở nhà nghĩ hoài: Mẽ!
Nầy! Không biết ư làm sao mà biểu đừng mở
cửa sau? Có khi bên kia có giống ǵ xinh tốt hơn bên
nầy, nên cổ cấm ḿnh vậy chăng? Lục
tặc đem vùng mở phứt ra” [1; 35 – 36].
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi không thể
phân tích, trích dẫn nhiều. Điều chắc chắn
là nh́n từ một hướng khác, khi “thêm một hai
chuyện thiệt tích mà có ư vị, vui, dễ tức cười”,
Trương
Vĩnh Kư hẳn viết theo hoặc rất
gần với chuyện kể dân gian. Do vậy đọc
Chuyện đời
xưa và Chuyện
khôi hài, nhất là trong Chuyện
khôi hài, có nhiều truyện
không dễ phân biệt đâu là chuyện Trương Vĩnh
Kư ghi chép lại, đâu là truyện ông
viết thêm. Những vấn đề này cần có
những nghiên cứu chuyên sâu hơn. Tuy nhiên qua Chuyện đời xưa
và Chuyện khôi hài,
có thể khẳng định sự giao thoa giữa phong
cách văn học dân gian và văn học viết là có
thật và có căn cứ.
Khác với Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của chọn con đường “dịch rút trong
các sách hay” - một cách làm hoàn toàn thuộc về văn
học viết. Khảo sát nhiều truyện trong Chuyện giải buồn,
chúng tôi nhận thấy về cơ bản Huỳnh
Tịnh Của theo khá sát nguyên tác từ nội dung, t́nh
tiết, đến tên tuổi, địa danh…Đó là
những truyện dịch hơn là những phóng tác,
cải biên [Xin xem thêm 16]. Tuy nhiên bên cạnh việc theo khá
sát nguyên tác ở các phương diện kể trên,
Huỳnh Tịnh Của lại thường có những
cách xử lư linh hoạt mà trọng tâm là hướng
đến việc làm sao cho gần gũi, dễ hiểu
và hấp dẫn hơn đối với công chúng b́nh dân.
Chỉ xét riêng những bản dịch rút từ Liêu trai chí dị
(LTCD), cũng có thể thấy có không ít nhan đề
truyện ông dịch thoát đi, hoặc đặt mới
dựa trên mới dựa trên nội dung truyện cốt
cho dễ hiểu và hấp dẫn hơn, chẳng hạn Cầu
tiếng chửi cho rụng lông vịt (từ Mạ áp - Mắng
kẻ trộm vịt, LTCD), Chuyện ông tấn sĩ
lưng mọc lông dê (Thiểm
Hữu mỗ công – Ông nọ ở Thiểm
Hữu, LTCD), Rủ nhau chết một
lượt (Chúc
Ông – Ông họ Chúc, LTCD),
Nợ không trông
trả (Kiểng
thường trái – Hoá lừa đền nợ,
LTCD), Quân bồ hóng (Hắc quỷ -
Quỷ đen, LTCD)…; Huỳnh
Tịnh Của cũng thường lược bỏ
hoặc dịch thoát đi những yếu tố xa lạ,
khó hiểu hoặc không cần thiết mà vẫn không làm
ảnh hưởng đến nội dung truyện;
ngược lại, ông lại thường “nới
rộng” câu văn dịch bằng cách thêm từ ngữ
để làm cho câu văn thêm sinh động và đậm
màu sắc khẩu ngữ, đặc biệt là khẩu ngữ
Nam Bộ. Chẳng hạn khi dịch Nghĩa thử (Con chuột có
nghĩa – LTCD), câu “Dương Thiên Nhất ngôn kiến
thị thử xuất, ḱ nhất vi xà sở thôn, ḱ
nhất trừng mục như tiêu, tự thậm hận
nộ, nhiên dao vọng bất cảm tiền” ông dịch
là “Hai con chuột đi ăn, rủi th́ một con bị
rắn bắt, con kia làm bộ giận dữ, ḷi hai con
mắt như hai hột tiêu; song cũng ở xa xa mà ngó,
không dám lại gần”. Ví dụ như thế có nhiều
trong Chuyện
giải buồn. Huỳnh Tịnh Của cũng
chuyển hầu hết những truyện theo lối
“đoản thiên” của LTCD sang h́nh thức chuyện kể.
Những lời thoại trực tiếp đều
được ông chuyển sang h́nh thức tường
thuật làm cho các truyện trong LTCD vốn thuộc ḍng
văn học thông tục càng gần gũi với
truyền thống tiếp nhận theo phong cách chuyện
kể dân gian. Ngay tên tập sách và chữ chuyện ông thêm vào
nhiều nhan đề truyện cũng cho thấy
điều đó (Chuyện
Vương Thập,
Chuyện người Đinh
Tiền Khê, Chuyện thây ma làm dữ,…).
Chúng tôi xem những cách xử lư linh hoạt đă nêu là
những nét thuộc về phong cách trong t́nh h́nh ư thức
dịch thuật văn học chưa thật rơ nét và Chuyện giải buồn
thể hiện rất rơ sự chi phối của mục
đích dịch thuật, thể hiện rơ sự giao thoa
của hai phong cách văn học – văn học viết và
văn học dân gian.
4. Ở trên chúng tôi có nhắc đến thời
điểm năm 1901 với Nông cổ mín
đàm -
một tờ báo tư nhân. Nông
cổ mín (mính) đàm, như tên gọi của
tờ báo, chủ yếu bàn về chuyện nông nghiệp,
thương mại, kêu gọi cách làm ăn theo lối
mới, nhưng đây cũng là tờ báo có những
đóng góp đáng ghi nhận trong việc góp phần làm nên
diện mạo văn chương Quốc ngữ ở Nam
Bộ đầu thế kỷ XX và là mốc đánh
dấu bước phát triển về chất của quá
tŕnh xă hội hoá chữ Quốc ngữ ở đây [Xin xem
thêm 17]. Những người chủ trương Nông cổ mín đàm kêu
gọi học tập theo Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của viết văn theo lối mới v́ “Xin nghĩ
lại hết cả thi văn của người Annam ta,
những là Sử kư
diễn ca, Chinh phụ ngâm, Tần cung oán, Cung oán, Ca trù
thể cách, Kim Vân Kiều (…) th́ toàn là những
điệu ca ngâm mà thôi, chứ c̣n như điệu
văn từ lội lạc như Tây như Tàu th́ chúng tôi
vẫn chưa từng thấy” [12; 1]. Đối với
vấn đề dùng từ Hán - Việt gây khó hiểu cho
độc giả như có người từng gửi
thư phàn nàn, những người chủ trương Nông cổ mín đàm cũng
có quan niệm đúng đắn. Họ xác định không
thể bỏ từ Hán - Việt được v́
tiếng nước ta c̣n nghèo. Họ chọn cách “cắt
nghĩa dần sau mỗi câu chữ Nho” để cho
những người không thạo chữ Hán có thể
hiểu được [11; 5]. Bên cạnh những bài
về cách làm ăn mới, Nông
cổ mín đàm c̣n cho in nhiều sáng tác,
dịch thuật, tác phẩm cải biên từ văn
học Trung Quốc,
văn học dân gian, tổ chức thi thơ văn…
Điểm dễ nhận thấy là, nếu
cuối thế kỷ XIX, công việc dịch thuật, sáng
tác, cải biên của các ông Trương, Huỳnh,
Nguyễn Trọng Quản chủ yếu gắn với
mục đích phổ biến chữ Quốc ngữ th́
đến Nông cổ
mín đàm đầu thế kỉ XX t́nh h́nh đă
khác. Người ta dịch thuật, sáng tác, cải biên
hoặc sưu tầm văn học dân gian là để
đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức
của công chúng, góp phần thu hút độc giả,
nghĩa là đă có chút ít tính thương mại - một
trong những biểu hiện của sing hoạt văn
học hiện đại, nếu có thể nói
được như vậy.
Bước tiến của quá tŕnh xă hội hoá
chữ Quốc ngữ, dấu ấn của sinh hoạt
văn chương Quốc ngữ có tính xă hội hoá
cũng thể hiện khá rơ trên tờ báo này. Gắn
với yêu cầu thu hút độc giả, các cây bút trên Nông cổ mín đàm
càng chú ư đến thị hiếu thẩm mỹ của
người đọc. Cũng là dịch, cải biên
từ truyện Tàu
nhưng trên Nông
cổ mín đàm xuất hiện cả h́nh
thức diễn Nôm truyền thống như các truyện Nghĩa
Khuyển,
Tác thiện thiên giáng chi bá
tường (Lương Dũ Thúc diễn Nôm), Tín
nghĩa tương cảm (Nguyễn Liên Phong
diễn Nôm) lẫn h́nh thức dịch ra văn xuôi.
Điều đáng chú ư là việc diễn Nôm những tích
truyện Trung Quốc
theo lối truyền thống chỉ xuất hiện trong
khoảng mươi số đầu, về sau chỉ c̣n
lại h́nh thức diễn dịch ra văn xuôi như các
bản dịch của Nguyễn Thiện Kế, Dị
Sử Thị (Bút danh của Dũ Thúc Lương Khắc
Ninh, chủ bút), Lương Hoà Quư, Trần Khắc
Kỷ, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Dư Hoài, Nguyễn
Đoan Khai…Điều đó cho thấy cả người
viết lẫn người đọc đă quen và thích thú
hơn với những truyện
kể theo “ngôn ngữ đời sống”. Một
điểm cũng đáng lưu ư là các cây bút trên Nông cổ mín đàm,
so với Huỳnh Tịnh Của trước đó,
lại càng chú ư đến thị hiếu của
người đọc, của công chúng với truyền
thống truyện Nôm khuyến thiện trừng ác phổ
biến. Họ thậm chí c̣n đổi tên truyện cho phù
hợp với quan niệm đạo đức - thẩm
mỹ nêu trên. Chẳng hạn, truyện Thụy Vân
(LTCD) được Lương Dũ Thúc dịch với
nhan đề Thương người khác để thương thân,
ghét người khác để vung phân cho người
hoặc truyện Thuỷ măn thảo
(LTCD) được ông dịch với nhan đề Tác
thiện thiên giáng chi bá tường, Nguyễn
Chánh Sắt dịch truyện Vương Xảo
Nhị (LTCD) với nhan đề Thiện
ác đáo đầu chung hữu báo…Có
người lấy hẳn bút danh là Khuyến Thiện
Đạo Nhân và Chính Khuyến Thiện Đạo Nhân khi
dịch truyện Nhiệm
Tú (LTCD) cũng đổi thành Hoành tài bất phú…
Nhà văn Sơn Nam có nhận định: “Nông cổ mín đàm
do Lương Khắc
Ninh làm chủ biên dành quá nhiều chỗ cho truyện Tàu
dịch ra Quốc ngữ” [18; 5]. Theo chúng tôi, đó là
điều b́nh thường, có khi là cần thiết. Trong
giai đoạn đầu của sự h́nh thành nền
văn xuôi hiện đại theo hướng đáp
ứng nhu cầu của độc giả, dịch
thuật thường đi trước sáng tác và các
nguồn gốc, chất liệu văn học gần
gũi, truyền thống thường được khai
thác, diễn dịch lại bằng h́nh thức mới.
Trên Nông cổ mín
đàm, những chuyện kể dân gian hoặc có
nguồn gốc từ văn học dân gian cũng
được sưu tầm, viết lại bằng h́nh
thức văn xuôi Quốc ngữ như Mài gươm dạy vợ
(Lương
Dũ Thúc), Nghĩa
hổ tâm truyện (Nguyễn Dư Hoài thuật), Chuyện hai anh khùng,
Chuyện anh hà
tiện, Chuyện khôi hài (Trần Khắc Kỷ)…
5. Chính trong quá tŕnh dịch thuật, sưu tầm,
cải biên (tất nhiên vẫn chưa có sự thể
hiện đầy đủ ư thức dịch thuật,
sưu tầm như các giai đoạn sau), các cây bút trên Nông cổ mín đàm
được trau dồi cách viết, hoàn chỉnh hơn
câu văn xuôi Quốc ngữ. Không ít người từ
dịch thuật, sưu tầm, cải biên trên Nông cổ mín đàm đă
trở thành những cây bút sáng tác có tiếng ở Nam
Kỳ đầu thế kỷ XX, tiêu biểu như
Nguyễn Chánh Sắt - một trợ bút đắc lực
của Nông cổ mín
đàm, sau trở thành nhà văn, nhà dịch
thuật chuyên nghiệp.
Trên Nông
cổ mín đàm những năm đầu
hiếm có truyện dịch từ văn học
phương Tây, trong khi truyện dịch từ văn
học thông tục Trung
Quốc hoặc cải biên, ghi lại từ
chuyện kể dân gian lại chiếm số lượng
khá lớn. Điều đó góp phần khẳng
định thêm nhận định của chúng tôi về
sự vận dụng những chất liệu văn
học gần gũi, truyền thống để sáng
tạo lại, hoặc đơn giản hơn, chỉ
ghi chép, diễn dịch những ǵ có sẵn để
đáp ứng nhu cầu của độc giả đang
ngày càng được xă hội hoá. Vận dụng
nguồn văn liệu sẵn có, quen thuộc,
hướng đến đối tượng là công chúng
độc giả rộng răi, b́nh dân, dù xuất phát từ
mục đích xă hội hoá chữ Quốc ngữ như Trương Vĩnh
Kư, Huỳnh Tịnh Của trước
đó, hay xuất phát từ mục đích đáp ứng
nhu cầu thưởng thức của công chúng như các
cây bút trên Nông cổ
mín đàm, các học giả, tác giả này cũng
đều chọn cách viết gần gũi với
tiếp nhận của công chúng nên cách viết của
họ có sự giao thoa rơ rệt giữa phong cách văn
học viết và văn học dân gian, có sự giao thoa rơ
rệt giữa phong cách chuyện
kể với phong cách truyện
đọc.
Như vậy, quá tŕnh xă hội hoá chữ
Quốc ngữ có vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành
lối viết văn mới, trong việc xă hội hoá công
chúng văn học. Đến lượt ḿnh, công chúng
văn học lại có vai tṛ quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển của văn chương
Quốc ngữ, của nền văn học Việt Nam
hiện đại. Sự nở rộ của phong trào
dịch truyện Tàu
từ giữa thập niên đầu thế kỷ XX không
tách rời với quá tŕnh vận động tác
động qua lại này.
Nghiên cứu quá tŕnh phát triển và đặc
điểm của văn chương Quốc ngữ Nam
Kỳ từ trong buổi sơ khai của nó, do vậy,
không thể không nh́n trong mối quan hệ với quá tŕnh xă
hội hoá chữ Quốc ngữ như chúng tôi đă nêu
trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trương Vĩnh Kư: Chuyện đời xưa.
Imprimerie de Quinhon, 1914.
- Trương
Vĩnh Kư: Chuyện khôi hài. F. H. Schneider, Sài
G̣n, 1909.
- Trương
Vĩnh Kư: Miscellanées. Imprimerie Commerciale &
Curiol, Sài G̣n, 1888.
- Huỳnh
Tịnh Của: Chuyện giải buồn. Nhà in Phát
Toán, Sài G̣n, 1911.
- Huỳnh
Tịnh Của: Chuyện giải buồn cuốn sau.
Bản in Quản hạt, Sài G̣n, 1895.
- Cao Xuân Mỹ (sưu tầm): Truyện dài
đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn
Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX. Nxb. Văn nghệ Tp.
HCM, 1998.
- Nguyễn Văn
Trung: Chữ, Văn Quốc ngữ thời ḱ
đầu Pháp thuộc, Nam Sơn xuất bản, Sài
G̣n, 1975.
- Bằng Giang:
Sương mù trên tác phẩm Trương
Vĩnh Kư. Nxb. Văn học, Hà Nội,
1994.
- Bằng Giang:
Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930.
Nxb. Trẻ, Tp. HCM, 1992.
- Địa chí
văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 2, Nxb. Tp
Hồ Chí Minh, 1988.
- Nông cổ mín
đàm, số 7 (ra ngày 12/9/1901).
- Nông cổ mín
đàm, số 14 (ra ngày 31/10/1901).
- Phan Khôi: Từ Trương
Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Trai cho
đến Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng.
Phụ nữ tân văn, số 28 (ra ngày 8/11/1929).
- Nguyễn
Văn Ngọc: Truyện cổ nước Nam. Nxb. KHXH,
Tp Hồ Chí Minh, 1990.
- Vũ
Ngọc Phan: Truyện cổ tích Việt Nam. Nghiên
cứu Văn Sử Địa xuất bản, Hà
Nội, 1965.
- Nguyễn
Văn Hiệu: Góp phần t́m hiểu lịch sử
phiên dịch “Liêu trai chí dị” ở Việt Nam.
Tạp chí Hán Nôm, số 1 – 2001.
- Nguyễn
Văn Hiệu: Vài nét về dịch thuật và sáng tác
trên Nông cổ mín đàm (1901 – 1924), trong sách B́nh luận
văn học, Hội nghiên cứu và giảng dạy
văn học Tp. HCM – Nxb. KHXH, Hà Nội, 1999.
- Sơn
Nam: Báo chí Sài G̣n xưa. Tạp chí Văn hoá, số 6 –
1997
TS
Nguyễn Văn Hiệu
Nguồn: Tạp chí Văn học – 2002