Tưởng Niệm
Nhà Giáo, Nhà Văn Trúc Giang (5/12/16 - 30/9/90)
Nghĩ về ''Cánh Đồng'' ở Nam bộ đă
bị lăng quên
Nguyễn
Văn Quan (Mỹ Tho)
Trước đây, ở trường
Đại học Văn khoa Saigon, khi giảng về
những tác phẩm văn học ở Nam bộ, Giáo
Sư Thanh Lăng có nhắc nhở với các sinh viên: ''Nếu
các anh chị muốn t́m hiểu về phong tục ở
miền Nam, th́ không ǵ bằng
đọc quyển Cánh Đồng
của nhà văn Trúc Giang''
Một lần về thăm huyện Cai
lậy, tôi được tham dự một buổi sinh
hoạt về đêm của các học sinh trường
Đốc Binh Kiều, sau một ngày lao động
thủy lợi giúp Hợp tác xă Nhị Mỹ, do một
giáo viên chủ nhiệm lớp hướng dẫn. Có
lẽ tṛ chơi hào hứng nhứt trong đêm sinh hoạt
là cuộc ḥ đối đáp giữa nam nữ, dựa
trên câu ḥ mẫu: ''Ḥ... ơi... con kiến vàng ḅ trên đám
cỏ... ơ... tao thấy chị mầy nhỏ thó...
ớ... tao thương... ơ...''
Mỗi bên đều nặn óc để
sáng tác ra những từ mới để thay từ đám
cỏ (đám sắn, đám lúa...), từ nhỏ thó
(trăng trắng, đen đúa...) từ thương (chê,
mê...). Những sáng tác độc đáo của các thi
sĩ nghiệp dư, đă
đem lại cho buổi sinh hoạt những chuỗi
cười ḍn dă, không ngớt, khiến cho mọi
người dường như quên hết nỗi nhọc
nhằn, sau một ngày lao động vất vả trên kinh
mương.
Sau buổi sinh hoạt, tôi hỏi
người bạn, thầy chủ nhiệm của
lớp:
- Anh t́m đâu
ra điệu ḥ hay ho như
vậy ?
- Th́ ở trong quyển Cánh Đồng
của Thầy Trúc Giang đó. Hồi lớp 6, tôi đă
đọc nó nhiều lần, đâm ra mê cảnh
đồng ruộng một cách lạ lùng. Tiếc là ḿnh
cho mấy người bạn mượn đọc
rồi mất luôn.
Những sự việc này đă khiến
tôi luôn khao khát đọc quyển sách này trong một
thời gian khá lâu. Măi đến năm 1990, trong lần
viếng lễ tang Thầy Trúc Giang, may mắn
được gặp nhà báo Trọng Thư, một nhà
sưu tầm các sách cổ nổi tiếng ở Tiền
Giang, tôi mới có cơ hội đọc quyển Cánh
Đồng và hiểu thêm cuộc đời sôi nổi
của Thầy.
Trúc Giang tên thật là Trần Đắc
Giỏi sinh ngày 5/l2/l916 tại Thuộc Nhiêu (Dưỡng
Điềm) huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, trong
một gia đ́nh trung lưu. Thầy đă từng học
ở các trường Huỳnh Khương Ninh (cái nôi
của những nhà trí thức cách mạng), trường Taberd.
Sau đó, Ông ra Hà nội học tiếp, nhưng gia đ́nh
gặp hoàn cảnh khó khăn phải bỏ dở...
Để t́m kế mưu sinh, Thầy
về Saigon mở ''Cours Trúc giang'' ở 184 đường
D'Ayot (Nguyễn Văn Sâm)
dạy tiếng Pháp cho các học sinh trung học.
Đến năm 1956, Thầy về Mỹ Tho, mở
trường tư thục Trúc Giang ở đường
Alexandre de Rhodes, tiếp tục nghề ''gỏ đầu
trẻ''. Thầy nổi tiếng là nhà giáo dạy giỏi,
với nét chữ tuyệt vời, với tác phong chững
chạc của nhà mô phạm và cách ăn nói duyên dáng, lôi
cuốn của một nghệ sĩ.
Ngoài việc dạy
học, Thầy c̣n sáng tác thơ văn, dịch
thơ Việt sang tiếng Pháp (Tiểu thuyết: Cánh
Đồng, Hai Làn Sóng; Thơ:
Tiếng Trúc Bên Sông, Gịng Sông Xanh; Dịch thuật: Lục
Vân Tiên, Tỳ Bà Hành, Tráng
Sĩ Hành). Cánh Đồng ra đời vào năm 1938, có
thể xếp vào xu hướng hiện thực của
giai đoạn văn học 30-45. Như lời tựa
của tác giả, ''Cánh Đồng chỉ là những
bức tranh nho nhỏ vẽ những cảnh đời buồn
vui của đồng quê Nam phần Việt Nam''. Cốt
truyện xoay quanh gia đ́nh
vợ chồng Hương tuần, một nông dân tiêu
biểu ở vùng Nam bộ, với bản tính chân chất,
thật thà, vợ cần cù chăm chỉ làm việc,
nhưng họ vẫn phải lâm vào cảnh túng thiếu
đói nghèo. Để kiếm thêm nguồn thu nhập, anh
phải lên ngọn làm mắm và đă bỏ thây trên ḍng
nước bạc... Rồi hạn hán, lũ lụt,
dịch bệnh khiến cho chị Hương tuần
phải lần lượt bán heo, bán trâu, và đem cả
thằng Nữ (con út của chị) đi ở đợ
để trang trải nợ nần, thuế khóa. V́
tật bệnh và kiệt sức, chị đă qua
đời. Thằng Vá, con rể chị, phải
đăng kí làm phu cho sở cao su ở Tấn linh, bỏ
con Huyền ở lại, trong lúc bụng mang dạ chửa,
bơ vơ, trơ trọi một ḿnh.
Cánh Đồng đă tả lại cuộc
sống khốn khổ của người nông dân bị
vây phủ bởi các thế lực của thiên nhiên,
của thần quyền và của xă hội. Dường
như thiên nhiên khắt nghiệt chưa bao giờ buông tha
hành hạ đọa đày người dân hiền lành
nơi thôn dă, khi th́:
''Nắng sao mà nắng gay nắng gắt,
tàng lang sa như bông vải, nắng tháng ba là nắng
giết người'' và ''lửa cháy theo kèo, tiếng vi vu
như rắn hút gió, khói bốc um như ḷ than giữa
rừng'', khi th́:
''Băo gầm suốt đêm, cơn giông mănh
liệt gầm thét đến canh ba mới nghỉ.
Nước mênh mông mỗi lúc mỗi lên... nước trên
nguồn trên ngọn đổ về,... trời mờ
mờ đục, những khoảng mênh mông trắng xóa
chạy dài lẫn lộn với chân trời. Cả
đồng lúa xanh tươi đă thuộc quyền
Thủy phủ''... Lại c̣n cảnh:
''Người chết như đàn
ruồi. Ḥm đóng không kịp, họ phải dùng vạt
giường, bẹ chiếu vùi sơ cho có lệ'', và ban đêm:
''Những đóm nhang lờ mờ,
những ngọn đèn leo lét, những lều tranh tối
và thưa người. Lâu lâu có tiếng khóc kể bật
lên nghẹn ngào, buồn như tiếng nước vỡ
đê''...
Do tŕnh độ nhận thức c̣n
thấp kém lạc hậu họ lại ch́m đắm trong
kiếp nô lệ cho các phong tục mê tín di đoan từ
việc kiêng cữ trong mọi sinh hoạt như cách ăn
mặc, đi đứng nói năng, cách đoán
điềm giải mộng đến việc chữa bệnh,
bằng bùa phép cúng kiếng, khi dịch bệnh, khi hạn
hán th́ thả thuyền giấy, làm lễ cầu
đảo... Những thứ đó. làm cho cuộc sống
của họ càng thêm tăm tối, khốn cùng.
Đến lúc ''nhà không c̣n hột gạo''
th́ người ta thấy xuất hiện bộ mặt
khắc nghiệt, tàn nhẫn của nhà cầm quyền,
của chủ ruộng. ''Thằng Vá bị đóng trăng
liên miên. Ba bốn bữa nó nhổ cỏ ở Nhà việc
một lần. Và mỗi lần nghe mơ thúc thuế là nó
trốn chui, trốn nhủi''.
''Trăm bạc của lái xỉa ra, các
chủ nợ chia tay nhau hết, chị Hương
tuần năn nỉ muốn găy lưỡi, họ mới
để lại cho Chị mười đồng đóng
thuế''
Nhưng Cánh Đồng không phải chỉ
toàn là những h́nh ảnh ảm đạm mà vẫn có
những nỗi hân hoan, niềm yêu đời qua những
sinh hoạt ở nông thôn như trong những ngày tết
nhứt, trong những tiệc cưới xin, trong những
ngày lễ hội, trong những đêm hát đ́nh:
Nghe trống chầu, cái đầu láng
mướt,
Nghe trống chiến, cái cẳng láo liên
Và cả những cuộc ḥ đối
đáp trong lúc cày cấy trên ruộng nương, trong
những đêm đập lúa khi trúng mùa:
Đồng lúa vàng bông vàng bông đỏ
Bên đám cỏ cô gái xinh xinh
Hôm nay gió mát trăng t́nh
Gặp đây xin hỏi ''cô ḿnh có đôi ?''
Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm vẫn là
t́nh cảm mộc mạc nhưng đậm đà của
người nông dân, trong quan hệ giữa cha mẹ
với con cái, giữa vợ chồng, giữa trai gái và
cả sự gắn bó với mảnh vườn luống
đất, với đàn gia súc thân quen...
- Cánh Đồng c̣n là một công tŕnh
sưu tập những câu hát dân gian (hơn 140 câu). Tác
giả khéo léo lồng tiếng hát câu ḥ vào những sinh
hoạt trong đời sống nông thôn: từ những tṛ
chơi giải trí của trẻ thơ đến những cuộc hát ḥ
đối đáp, những lời ru con, lời than thân
của những người trong cuộc. Điều
đó đă phản ánh đời sống tinh thần
thật phong phú, vẻ cao đẹp của người
dân quê. Họ dă biết sử
dụng thơ ca, âm nhạc làm phương tiện
để quên lăng bao nỗi nhọc nhằn đằng
đẵng quanh năm suốt tháng, để bộc
lộ nỗi niềm sâu kín của ḿnh một cách
đằm thắm, nồng nàn:
''Tḥ tay mà ngắt ngọn ng̣,
Thương anh đứt ruột giả
đ̣ làm lơ''
''Ghe lên ghe xuống lao xao,
Ghe củi ghe gàu chẳng thấy ghe anh''
Một tác phẩm hấp dẫn
người đọc không nhất thiết phải luôn có
những t́nh tiết gay cấn, éo le, mà chỉ cần
một tấm ḷng chân thật, thương yêu vô hạn
của tác giả đối với cuộc sống th́ dù
nội dung chỉ là những mảnh đời b́nh
thường, phẳng lặng cũng có thể làm rung
động ḷng người, lôi cuốn được
người đọc một cách dễ dàng.
Như lời tựa của tác giả: ''V́
trót đời gần gụi những người ăn
chắc mặc dầy'' cho nên khi vẽ lại Cánh
Đồng, dường như tác giả đă chan ḥa:
''muốn sống với đời sống của họ,
mơ ứơc âu lo như âu
lo mơ ước của họ, giống như một
cây cỏ lẫn vào trong muôn ngàn cây cỏ trên đồng
quê mộc mạc''.
Nếu không ḥa ḿnh vào cuộc sống
ấy, làm sao tác giả có thể miêu tả tài t́nh cảnh
lúng túng, vụng về của cặp vợ chồng
trẻ trong đêm tân hôn:
''Trót ngày, hai đứa xây quanh, hết
đứng lại ngồi. Nhà vắng, chúng chỉ trao nhau
những tiếng vu vơ, tuy đứa nào cũng sẵn
trong ḷng biết bao chuyện để nói với nhau. Bóng
tối làm chúng lần bạo dạn. Vá đốt đèn
và loay hoay sửa soạn mùng chiếu. Mệt mỏi nó
muốn đi ngủ sớm, nhưng sợ con Huyền
thức một ḿnh buồn. Mà bảo con nọ đi
ngủ cũng lại e thẹn. Hai đứa ngó nhau
chốc chốc mỉm cười. Con Huyền ngáp. Vá
mới dám mở miệng :
- Thôi ngủ
đi em !
. . . và làm sao tác giả có thề diễn
đạt cho hết cái tâm trạng bi thiết của
người thiếu phụ đang bụng mang dạ
chửa, sống trơ trọi một ḿnh, trong khi
chồng phải bỏ nhà, lặn lội nơi rừng
sâu nước độc:
''Con Huyền
thấy thoáng trước mặt cái cảnh rùng rợn
đă bao lần ám ảnh nó: da vàng, bụng lớn, hai tay
trói ké sau lưng, thằng Vá đương quằn
quại dưới trận mưa roi... Vá thoát thân trốn
đi... Và một đêm mờ trong rừng sâu, nó bị
cọp nhai, chỉ c̣n nửa thân ḿnh... Huyền lảo
đảo như người
say rượu. Nó bưng mặt khóc ngất... Gió một
ngày một lớn. Trời bỗng dưng sẩm tối.
Mưa tuôn và sấm vang rền... Đă hai lần, bên hè, con
chó mực giật ḿnh tru lên mấy tiếng''...
Tóm lại, bên cạnh tính hiện thực
của một tác phẩn văn học, Cánh Đồng c̣n
cho ta thấy tất cả vẻ đẹp của
chủ nghĩa nhân văn ở tấm ḷng nhân ái vô biên
của nhà văn trước số phận khốn
khổ, long đong của con người.
Tưởng niệm một nhà giáo mẫu
mực, một nhà văn nhân hậu, tài hoa, noi gương
người xưa, xin được ''đốt ḷ
hương ấy'' và
''Cảo
thơm lần giở trước đèn''...