‘Ai Làm Được’
Của Hồ Biểu Chánh,
Tiểu Thuyết Hiện
Thực Đầu Tiên Của Việt Nam
Thụy Khuê
H́nh: Nhà
Văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958)
Nguồn:
hobieuchanh.com
Hồ
Biểu Chánh bỏ hết những dư thừa trong
lời nói, chỉ giữ lại những ǵ cốt
yếu. Ông mô tả những chi tiết mà các tác giả
trước ông không chú ư tới. Nói cách khác, Hồ Biểu
Chánh mô tả một khung cảnh hiện thực, một
con người hiện thực đang đứng
trước mắt ta, người ấy ăn mặc
như thế nào, nói năng ra làm sao. Trong khi các tác giả
trước chỉ đưa ra một h́nh bóng từ
chương qua lời văn biền ngẫu, kiểu
«tuổi mới trăng tṛn», «h́nh dung yểu điệu »,
«bá mị thiên kiều» ... Hồ Biểu Chánh là
người đă khai sinh ra tiểu thuyết hiện
thực ở Việt nam.
Cuốn
tiểu thuyết đầu tiên của Hồ Biểu Chánh
nhan đề Ai làm được viết năm 1912
tại Cà Mau, nhưng măi đến 1922, mới
được ông sửa lại và in tại Sàig̣n.
Về
bước đầu này, ông kể lại như sau: «
Đổi xuống làm việc tại Cà Mau, mới thử
viết quyển «Ai làm được» là quyển tiểu
thuyết thứ nhứt viết văn xuôi tại Cà Mau
với nhơn vật cũng ở Cà Mau. Đổi lên Long
Xuyên năm sau [tức là năm 1913] viết quyển
thứ nh́, cũng văn xuôi, nhan đề «Chúa tàu Kim Quy»,
phỏng theo quyển Le Comte de Monte-Cristo của Alexandre Dumas,
viết điệu phiêu lưu, nghĩ có lẽ hấp
dẫn hơn.» (trích hồi ức Đời của tôi
về văn nghệ, bản đánh máy).
V́ sao Hồ
Biểu Chánh ngừng viết trong chín năm? Ông cho biết
lư do: « Kế thế giới chiến tranh thứ nhứt
bùng nổ, công việc đa đoan, không viết tiểu
thuyết được nữa... chỉ viết mấy
hài kịch nho nhỏ cho mấy thầy hát đặng
kiếm tiền giúp cho chiến sĩ Việt Nam ngoài
mặt trận Âu Châu. Năm 1917 làm «Đại Việt
tạp chí» ở Long Xuyên.
Năm 1918,
dời về Gia Định, phụ bút cho mấy tờ
báo Quốc Dân Diễn Đàn, Nông Cổ Mín Đàm, Công
Luận Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời
Báo. Năm 1922, v́ kiểm duyệt gắt gao, nghĩ
viết báo vô ích, mới bỏ mà chấn chỉnh lại 2
quyển tiểu thuyết viết hồi 1912 tại Cà Mau
và 1913 tại Long Xuyên, cho xuất bản và viết thêm 8 quyển
mới nữa. Từ năm 1927 tới 1932 làm chủ
quận Càng Long, viết thêm 8 quyển mới nữa,
cộng trước sau dưới 18 quyển». (trích
hồi ức Đời của tôi về văn nghệ,
bản đánh máy).
Như vậy,
Hồ Biểu Chánh đă ghi rơ: Ai làm được là tác
phẫm đầu tiên do ông sáng tác, năm 1912 và Chúa tàu Kim
Quy do ông cảm tác, năm 1913, nhưng măi đến 1922 ông
mới «chấn chỉnh» lại để in. Thanh Lăng khi
đọc Ai làm được thấy cốt truyện có
hơi giống André Cornélis của Paul Bourget. Vậy sự
giống này chỉ là t́nh cờ mà thôi. Bởi nếu là cảm
tác th́ Hồ Biểu Chánh đă nói rơ. Ngoài ra, trong danh sách 12
tác phẩm cảm tác, không thấy ông ghi Ai làm được.
Nhưng có một
khó khăn về văn bản, như Thanh Lăng đă nêu ra:
ngày nay chúng ta chỉ c̣n bản in năm 1922, không biết
được bản gốc viết năm 1912. V́ vậy
không rơ Hồ Biểu Chánh đă «chấn chỉnh» tác
phẩm như thế nào, cho nên không thể biết
được trong chín năm kỹ thuật tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh có thay đổi ǵ
không? Nhưng nếu căn cứ vào những tác phẩm
sau này, th́ có thể nói, về cách viết, cách dựng
truyện, cách mô tả hiện thực, trong gần 50
năm, Hồ Biểu Chánh không thay đổi. Ông chỉ
đổi đề tài, đổi thể loại từ
xă hội, lịch sử đến phiêu lưu, trinh thám,
trong những bối cảnh khác nhau của vùng Lục
tỉnh Nam kỳ. V́ vậy, có thể xác định
năm sinh của tác phẩm Ai làm được là 1912.
Như thế, 1912 cũng là năm ra đời cuốn
tiểu thuyết quốc ngữ hư cấu đầu
tiên của Việt Nam, viết theo lối Tây phương :
Ai làm được.
Đọc Ai làm
được điểm đáng chú ư đầu tiên
nằm trong cái tựa, đó là một câu hỏi : Ai làm
được. Tác giả lôi cuốn ta vào ṿng bí mật, với
một câu chưa kết thúc, một nghi vấn chưa
đặt ra, một thách thức, nôm na và cụt ngủn.
Lối viết như thế, trong tiếng Việt,
thời đó, chưa có. Chưa ai viết một câu có
cấu trúc nước đôi, nước ba như thế.
Hồ Biểu Chánh là một nhà nho. Tư tưởng
chủ yếu bao trùm toàn bộ tác phẩm của ông là
trọng nghĩa khinh tài của đạo nho và từ bi
hỉ xả của đạo Phật. Nhưng ông c̣n là
học sinh trường Pháp Chasseloup-Laubat nữa. V́
vậy, tiểu thuyết của ông mang h́nh thức Tây
phương trong tâm hồn Đông phương. Chính cái
dấu ấn Tây phương trong ngôn ngữ và cách mô
tả ấy, đă tạo sự khác biệt và chứng
tỏ ông là tiểu thuyết gia đă Việt hoá những
phương pháp tiểu thuyết của Tây phương
sớm nhất, và thành công nhất. Sớm và thành công
hơn tất cả những người cùng thời
với ông, trong Nam cũng như ngoài Bắc.
Cái mới của
tiểu thuyết Tây phương mà ông đem vào,
trước tiên là cách viết và cách mô tả, Hồ
Biểu Chánh vào truyện như sau:
«Ông Bạch
Khiếu Nhàn tuổi đă quá lục tuần mà sức hăy
c̣n mạnh khoẻ.
Từ khi con gái
ông bất hạnh, tủi phận thon von nên ít muốn
đi chơi, cứ lui cui ở nhà hoặc sửa
kiểng xem hoa, hoặc uống trà đọc sách (...)
Mặt trời
chen lặn, gió càng thêm mát mẻ, Khiếu Nhàn đi lần
tới quán cơm chú Lỳ, tuy chưa mỏi chơn, song
ông khát nước.
Chú Lỳ ngó
thấy ông lật đật chào mừng và mời ông vào
quán nước. Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà
ngồi, ngó quanh ngó quất không thấy khách ăn uống»
(trích Ai làm được, trang 3).
Không cần
phải dài ḍng biện luận về cái mới cái cũ,
chỉ cần nhớ lại văn phong «Lần hồi
ngày lụn tháng qua» của Nguyễn Chánh Sắt, hoặc
«Những khi trăng tà giăng xế» của Hoàng Ngọc
Phách, là ta thấy ngay sự khác biệt. Cụ thể
hơn, những khác biệt ấy là ǵ?
Thứ nhất :
Hồ Biểu Chánh bỏ hết những dư thừa
trong lời nói, chỉ giữ lại những ǵ không
thể bỏ được.
Thứ hai : Ông mô
tả tất cả những chi tiết mà những
người thuật truyện trước ông, không chú ư
tới. Nói cách khác, Hồ Biểu Chánh mô tả một khung
cảnh hiện thực, một con người hiện
thực đang đứng trước mắt ta,
người ấy ăn mặc như thế nào, nói
năng ra làm sao. Trong khi các tác giả khác chỉ đưa
ra một h́nh bóng từ chương qua văn chương
biền ngẫu, kiểu «tuổi mới trăng tṛn», «h́nh
dung yểu điệu », «bá mị thiên kiều» v.v...
Hồ Biểu
Chánh là người đă khai sinh ra tiểu thuyết
hiện thực ở nước ta là một xác
định có cơ sở.
Trở lại câu
hỏi : Ai làm được. Ai làm được cái ǵ ?
Th́ câu trả lời từ tác phẩm vọng lên, sẽ có
thể là : Ai làm được như Khiếu Nhàn ? Ai làm
được như Bạch Tuyết ? Ai làm
được như Chí Đại? Ai làm được
như bà Phủ ? Bởi mỗi nhân vật trong cuốn
tiểu thuyết này đều có những thách đố
về thân phận và về cách giải quyết các vấn
đề.
Với cuốn
tiểu thuyết đầu tay, tác giả đă tŕnh bày
triết lư Trọng nghiă khinh tài của ḿnh và ông đă
đi theo quan niệm ấy trong suốt hành tŕnh văn
học: truyện của ông luôn luôn phân biệt chính tà và
kết có hậu: chính thắng tà thua.
Khiếu Nhàn,
Bạch Tuyết, Chí Đại là mẫu người
tốt. Ông Phủ, bà Phủ, nhất là bà Phủ thuộc
loại người chẳng ra ǵ, thậm chí là một
kẻ sát nhân. Cả hai loại người này đều
được đẩy đến cùng trong những
đối chất của hoàn cảnh. Người nhân
hậu như Khiếu Nhàn, lúc nào cũng sẵn sàng tha
thứ. Người tàn ác như bà Phủ không bỏ
một dịp nào để thi hành độc thủ.
Người quyết tâm trả thù cho mẹ như Bạch
Tuyết luôn luôn t́m mọi cách để lật mặt thủ
phạm đă giết mẹ ḿnh dù có phải sống
cuộc đời ba ch́m bẩy nổi.
Tính chất
đơn giản trong tâm lư nhân vật, ở đây,
vừa gắn bó với thời kỳ phôi thai của
tiểu thuyết, vừa hợp với tâm lư người
b́nh dân, nhưng không phải v́ thế mà không có tác dụng
cho sự khảo sát xă hội đương thời : cá
tính độc lập, tự do và dấn thân của
người phụ nữ ở trong Nam được
nhấn mạnh qua những nhân vật như Bạch
Tuyết trong Ai làm được, như Phi Phụng trong
Nhơn t́nh ấm lạnh, như Đoàn Thu Vân trong Chút
phận linh đinh, như Yến Tuyết trong Tỉnh
mộng, Bạch Yến trong Từ hôn... Mỗi
người đều chịu một hoàn cành khắc
bạc, nhưng đều t́m cách đứng lên,
đối chọi, để t́m lối thoát. Tính chất
độc lập, tự do và dấn thân này đă
đưa những nhân vật nữ của Hồ Biểu
Chánh phần lớn là những cô gái con nhà, ra khỏi quỹ
đạo kín cổng cao tường. Khác hẳn với
những nhân vật trong tiểu thuyết Bắc của
Hoàng Ngọc Phách hay sau này của Tự Lực văn
đoàn.
Những nhân
vật nữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh, mặc dù bị sự kiềm toả của một
nền luân lư nho phong, nhưng nhiều người đă vượt
ṿng lễ giáo, tự ư lấy người ḿnh yêu, chứng
tỏ những năm đầu thế kỷ XX,
người phụ nữ trong Nam đă Âu hoá hơn
người phụ nữ ngoài Bắc.
Hồ Biểu
Chánh c̣n đưa ra những mẫu người phụ
nữ ỷ giàu ăn hiếp chồng, chửi chồng,
như trong truyện Thày thông ngôn. Một mô típ rất hiếm
trong tiểu thuyết Bắc. Ngoài ra, trong giai cấp
trưởng giả ở miền Nam, vợ chồng khi
xung đột, có thể mày tao thẳng thừng và nếu
cần có thể đi đến thượng cẳng chân
hạ cẳng tay. Ngược lại, trong xă hội
Bắc, thường là chồng đánh vợ và
người vợ luôn luôn nhịn nhục, trừ
trường hợp hạn hữu trong một vài
truyện ngắn của Tô Hoài hay Nam Cao.
Hồ Biểu Chánh
sáng tạo ra một thứ «tổ hợp đối
lập» các giá trị, thiết lập quan hệ xung
đột giữa những cặp phạm trù: giàu-nghèo,
tốt-xấu, may-rủi, đẹp-xấu, v.v...
Tính bi kịch
trong tiểu thuyết của ông luôn luôn mạnh mẽ,
nhưng không bi thảm. Tinh thần tiểu thuyết
của ông gắn liền với khát vọng thoát ly, phiêu
lăng dưới đủ mọi h́nh thức, như
Bạch Tuyết trong Ai làm được, Thủ Nghiă trong
Chúa tàu Kim Quy, Lê Hiển Vinh và Đoàn Thu Vân trong Chút phận
linh đinh, Tất Đắc trong Từ hôn...
Những yếu
tố đó nhắc nhở lư do tại sao Hồ Biểu
Chánh viết tiểu thuyết, ông viết chỉ v́
«kiểm duyệt gắt gao - nghĩ viết báo vô ích».
Điều đó cũng giải thích lư do: tại sao trong
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không có các yếu
tố thời sự hoặc chính trị như một
số người đă đặt câu hỏi. Sự
đàn áp tư tưởng dưới thời Pháp
thuộc được Hồ Biểu Chánh thể hiện
trong vô thức thoát ly, phiêu lưu của các nhân vật, và
thường sau mỗi thoát ly, trở về, họ
sống hạnh phúc trong cuộc đời c̣n lại.
Trái ngược
với những nhân vật trong tiểu thuyết Bắc
của Hoàng Ngọc Phách, của Khái Hưng, Nhất Linh, dù
muốn thoát ly nhưng không thể thoát ly được,
những cố gắng của họ, thường
đưa đến cái chết hoặc án mạng.
Điều này một phần do tính lạc quan của
Hồ Biểu Chánh, nhưng cũng phản ảnh thực
tại xă hội miền Bắc có quy định xă hội
g̣ bó hơn xă hội trong Nam.
Về mặt ngôn ngữ tiểu thuyết, không những
người đọc t́m thấy ở Hồ Biểu
Chánh một thứ văn nói, khác hẳn thứ văn
viết theo khuynh hướng Bắc, mà ông c̣n là nhà văn
tả chân đầu tiên của Việt Nam. Hăy xem ông
tả một vài nhân vật, với một số ngôn
từ hoàn toàn mới lạ đối với độc
giả Bắc :
«Cách một
hồi, Tú Phan trở ra ḿnh mặc một cái áo tố xanh,
bộng thêu chỉ bạc, lót lănh màu hường, trong
lại mặc thêm áo trắng dài, bâu ủi cứng mà nút
lại cài chặt, nên cổ day qua day lại coi không
được thong thả, quần nhiễu Bắc
thảo mới may chưa mặc lần nào, mà bởi
tại không ủi nên có mấy lằn ngang coi không
được thẳng thắn. Giầy bót chinh vàng
cũng c̣n mới chưa mang lần nào nên đi trên
gạch bông muốn trợt lại kêu tiếng trèo treo.
Khăn đen bịt thật khéo, song v́ lớp nhiều quá
nên chần vần một đống trên đầu coi
không được thanh bai cho lắm» (Nhơn t́nh ấm
lạnh, 1925, trang 20)
«Hội
đồng Yên bịt khăn đen, mặc áo sa ten lót màu
trứng diệt mặc quần Châu xá trắng, đi giày
bót chinh đen đi trước, c̣n Thủ Thiệp
mặc bộ đồ Tây nỉ xám mỏng, trong áo lá
cũng nỉ xám, ngực ḷi áo lót mồ hôi trắng có thêu
bông nho nhỏ, bâu áo cứng mà lại láng ngời, cổ
thắt nơ đen, đầu đội nón rơm, chân
mang giày su-đê ḷi vớ lụa mầu tím thủng
thẳng đi theo sau » (Nhơn t́nh ấm lạnh, trang 22).
Tiên phong trong
lối văn tả chân và làm h́nh nổi, trước
Hồ Biểu Chánh chưa ai viết những câu như:
«Thằng nhỏ
vỗ trên lưng con chó vài cái rồi đi lại chỗ
khạp nước để trước cửa
đứng mà kêu heo: «Quắn, quắn ột! Quắn
ột, ột, ột... Con heo núc ních đi lại, thằng
nhỏ mới lấy gáo múc nước trong khạp
xối mà kỳ rửa bùn đất sạch sẽ
rồi lùa vô nhà». (Cay đắng mùi đời, 1923, trang 7).
Những âm thanh và
động tác của con chó, con heo, lần đầu tiên
được đưa vào tiểu thuyết.
Hồ Biểu
Chánh phát huy lối văn trực tiếp mà Trương
Vĩnh Kư đă khai trương. Lối văn trực
tiếp này biểu lộ tâm t́nh cởi mở, trực tính
của người miền Nam, dưới h́nh thức có
ǵ th́ nói phứt ra cho rồi. Lối văn trực
tiếp này, đối chất với lối văn gián
tiếp, có văn chương của người Trung và
người Bắc. Không phải là Hồ Biểu Chánh không
có khả năng viết văn «có văn». Ông giao hoà
giữa hai lối văn trực tiếp và gián tiếp, nói
cách khác, ông thường viết văn «không có văn»
nhưng khi cần, ông vẫn có thể viết văn «có
văn», nghiă là vừa b́nh dân vừa bác học, trong cùng
một tác phẩm, đặc biệt trong các truyện dài
cảm tác.
Dường
như mỗi tiểu thuyết gia có một nỗi ám
ảnh lớn, từ đó khởi điểm nhân sinh quan
của họ, và xây dựng cái nh́n của họ trong
tiểu thuyết. Nếu đúng như vậy th́ nỗi
ám ảnh thứ nhất của Hồ Biểu Chánh về
con người là Tiền. Tiền làm cho con người tha
hoá. Tiền là đầu mối thương đau, là
sự trầm luân của con người. Cũng từ mối
ám ảnh đó nhà văn phóng bút thảo ra những
hoạt cảnh xă hội Việt Nam đầu thế
kỷ XX mà tiền như một phương tiện
sống, và như một phương tiện khuynh
đảo cuộc sống, cản lực của hạnh
phúc, cản lực của nhân phẩm, cản lực
của nghĩa t́nh.
Chủ đề
chính trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là sự
hủy hoại nhân phẩm của đồng tiền.
Tiểu thuyết Tiền bạc, bạc tiền là cao
đỉnh. Tác phẩm mô tả cơ cấu tâm lư xă
hội dựa trên sự hám danh, háo lợi mà gia đ́nh
Trần Bá Vạn vừa là nạn nhân vừa là thủ
phạm của mọi thủ đoạn tranh chức
hội đồng Quản hạt. Những việc mua
chức bán quan gả vợ gả chồng môn đăng
hộ đối trong xă hội miền Nam hồi
đầu thế kỷ XX được Hồ Biểu
Chánh mổ xẻ, phô bày trong tiểu thuyết cặn
kẽ và đa diện.
Ông có một
địa bàn sâu về các giai tầng xă hội và rộng
về mặt địa lư vùng Lục tỉnh Nam kỳ,
cho nên ông nắm rơ đời sống xă hội và tâm t́nh ngựi
Việt, phương Nam. Cùng một cảnh xung đột
mẹ chồng nàng dâu, nhưng cảnh xung đột trong
Nam không giống lối xung đột mẹ chống nàng
dâu ngoài Bắc. Một mặt v́ người phụ nữ
trong Nam tương đối được b́nh
đẳng hơn người phụ nữ ngoài Bắc,
một mặt, họ ít phải sống chung với mẹ
chồng hơn.
Tính chất di
động trong tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh không chỉ ngừng ờ chừng mức tiếng
động phát ra từ âm thanh của ngôn ngữ miền
Nam mà c̣n cả trong sự di động của mỗi nhân
vật trong trong miền đất Lục tỉnh.
Điều này chứng tỏ miền Nam có một hệ
thống giao thông, sông rạch và đường xá
đặc biệt hơn miền Bắc, xă hội
miền Nam chuyển ḿnh nhanh hơn xă hội miền
Bắc, tất cả tính chất động đó có
thể nằm trong một câu văn như :
«Bàn kia năm ba
người ăn rồi, nên ngồi chơi, người
hút thuốc, kẻ xỉa răng, nói chuyện om ṣm,
chửi thề vang rân, coi tự do mà lại tự
đắc lắm. Phiá trong có một tốp, chừng
mười mấy người, dụm nhau lại trên
một bộ ván nhỏ mà đánh bài cào, đàn ông có,
đàn bà có, con trai có, lời qua tiếng lại, căi cọ
inh ỏi. Chị Năm Tiền đang xới nồi
cơm, chị nghe rầy lộn th́ day vô, tay cầm
đũa bếp mà chỉ và nói rằng : «Nè, tôi lập
quán đặng buôn bán, chớ không phải lập ra cho
mấy người tựu bài bạc rồi rầy
lộn đa. Cha chả ! Bộ đánh bài có mua thuế hay
sao mà lên chữ dữ vậy hử! Dẹp đi, nếu
căi tôi, đố khỏi tôi kêu lính bắt hết cả
đám cho mà coi» (trích Ông Cử, 1935, trang 11)
Tính chất
động như một quan niệm cấu trúc tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, bằng ngôn ngữ
bạch thoại, bằng đối thoại đốp
chát, dẫn người đọc đi từ từng
lớp b́nh dân đến giai cấp trưởng giả;
mỗi gia đ́nh, mỗi chân dung, đều
được mô tả sống động kỹ càng.
Nếu h́nh
ảnh xă hội miền Bắc nằm trong toàn bộ các
tác giả Bắc qua nhiều thế hệ, từ Hoàng
Ngọc Phách đến Tự Lực Văn Đoàn, từ
Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, đến Nguyên
Hồng, Nam Cao, vv.. th́ có thể nói trong Nam, tất cả
t́nh h́nh xă hội, đẳng cấp, giàu nghèo, thành thị
và thôn quê đều nằm trong tay Hồ Biểu Chánh,
với 64 cuốn tiểu thuyết.
Một nhà văn
có thể thay mặt cho cả một ḍng văn học, th́
nhà văn đó phải có một tầm vóc lớn lao. Và
chính cái giá trị lớn lao đó, đ̣i hỏi chúng ta
phải chứng minh và t́m hiểu tới tận ngọn
nguồn.
11/2008
Nguồn: Vietnam
Review