Dân ca Nam bộ qua báo chí hậu bán TK 20
Vĩnh
Phúc
Nghiên cứu,
phê b́nh, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn
này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài,
tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như
đều nổi trội lên 2 thể loại chủ
yếu là Ḥ và Lư, kể cả những bài
viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.
Sự thiên di
của văn hóa nghệ thuật từ cội nguồn
miền Bắc gắn với lịch sử Nam tiến
của dân tộc. Nam bộ, xét theo mối tương quan
với các vùng đất cũ trong tiến tŕnh phát
triển mở mang bờ cơi của đât nước, là
một vùng đất mới. Văn hóa nghệ thuật
Nam bộ, do đó không hẳn xuất phát trực tiếp
từ cội nguồn mà thông qua trạm trung chuyển là
Thuận Hóa xưa, nơi đă định h́nh một
nền tảng văn hóa mới trên cơ sở hội
nhập văn hóa nghệ thuật thiên di của dân tộc
với văn hóa bản địa. Hoặc nói như Gs. Tô
Vũ trong bài khảo cứu Âm nhạc cổ
truyền Nam Bộ [1]: " Âm nhạc Nam Bộ, là
sự kế thừa truyền thống người
Việt từ cái nôi châu thổ sông Hồng, qua chuyển
giao ở một khâu trung gian là âm nhạc miền Ngũ
Quảng, với trung tâm là Thừa Thiên - Huế”.
Hai thể
loại dân ca tiêu biểu là Ḥ và Lư của Thuận Hóa
xưa theo bước chân của những người
lưu dân cấy vào vùng đất mới này tỏ ra
hợp với "thổ nhưỡng", đă phát
triển mạnh mẽ và phong phú hơn nhiều so với
cội nguồn thứ hai của nó là Thuận Hóa.
Nguyễn Văn Hầu trong bài nghiên cứu Ḥ miền
Nam [2] cho là Ḥ từ miền Trung theo đoàn
người của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu
Cảnh đi khai phá vùng đất mới. Nhưng "tiếng
ḥ ở đây không c̣n giống hệt tiếng ḥ ở chân
đèo Hải Vân hay trên ḍng sông Hương hôm nào nữa. Nó
tha thiết năo nùng hơn. Giọng ḥ miền Trung từ
ấy v́ biến thái địa lư và hoàn cảnh kinh tế,
dần dần chuyển hóa, sai chạy...” Về thể
loại Lư, nhạc sĩ Ngô Huỳnh trong bài Dân ca Nam
bộ, một kho tàng âm điệu dân gian phong phú
[3] cũng nhấn mạnh về sự phát triển này: "
Từ bài Lư giao duyên của vùng Trị Thiên, bài Lư giao duyên
của Nam Bộ đă tiến lên trong một quá tŕnh hoàn
chỉnh hơn”.
Hai chuyên
khảo về Ḥ sưu tập được đều
không phải của giới nghiên cứu âm nhạc,
nhưng đây là những khảo cứu nghiêm túc về
văn hóa dân gian.
Nguyễn
Văn Hầu trong Ḥ miền Nam đă cho thấy
vị trí quan trọng của Ḥ trong đời sống tinh
thần của người dân miền Nam trong buổi
đầu đi khai phá. Tác giả tỏ ra là người
rất sành ḥ qua những tiếng dùng mà ông gọi là trong
điệu nghệ ḥ, như: bắt-bỏ,
buông-đối, đứt-nối... Mặc dù công
bố trên tạp chí năm 1962 nhưng văn phong vẫn
nặng nề theo lối cổ, sử dụng nhiều
từ Hán Việt. Đây cũng là một đặc điểm
trong các bài nghiên cứu ở miền Nam trước năm
1975; trong lúc, cùng thời điểm, th́ văn phong nghiên
cứu ở miền Bắc đă hiện đại
hơn nhiều.
Một vài suy
nghĩ về Ḥ Nam Bộ của Nguyễn
Hữu Thu [4], rơ ràng là một khảo cứu đầy
đặn về thể loại này. Mặc dù vẫn là
khảo cứu trên góc độ văn hóa dân gian, dân
tộc học nhưng đă có những dẫn chứng,
thí dụ bằng bản kư âm ngũ tuyến. Đặc
biệt, tác giả đă dẫn ra 4 môtip điển h́nh
quán xuyến trong Ḥ Nam Bộ mà theo ông, như những
cung bậc riêng để nói lên đặc điểm
của ngôn ngữ địa phương được
phản ánh trong âm nhạc ḥ. Dù rằng, những môtip
điển h́nh ấy chỉ nêu mà không hề
được lư giải triệt để theo
hướng nghiên cứu âm nhạc, nhưng cũng đă
là một điều đáng quư trong lĩnh vực nghiên
cứu này.
Vấn
đề xếp loại, hai tác giả Nguyễn Hữu
Thu và Nguyễn Văn Hầu không thống nhất về
tiêu chí. Nguyễn Văn Hầu căn cứ vào cách
sử dụng văn chương, chia Ḥ Nam Bộ làm ba
loại chính : Ḥ mép (hay ḥ môi), Ḥ văn (hay ḥ sách) và Ḥ
truyện. Nguyễn Hữu Thu th́ căn cứ vào phương
thức diễn xướng của nghệ thuật
Ḥ mà chia thành Ḥ mép và Ḥ huê t́nh. Riêng
việc giải thích Ḥ mái ba là 3 mái chèo th́ chưa
thỏa đáng và không khác ǵ mấy cách giải thích của
Lê Văn Hảo về Ḥ mái nh́ B́nh-Trị-Thiên đă
nêu ở trước.
Nhạc sĩ
Ngô Huỳnh và Trần Kiết Tường cũng có
đề cập đến Ḥ trong bài viết về dân
ca Nam Bộ [5]. Mặc dù có một vài nhận xét âm
nhạc trong ḥ nhưng chưa thể là một bài nghiên
cứu âm nhạc mà chỉ dừng lại ở mức
độ giới thiệu.
Tản mạn
quanh những điệu Lư [6] là một
khảo cứu gọn gàng nhưng súc tích của Gs. Tô
Vũ. Được biết đây chỉ là một bài Tựa
cho sưu tập 150 điệu Lư của 2 nhà nghiên
cứu Lư Nhất Vũ và Lê Giang nhưng rơ ràng đă
vượt qua ranh giới của kiểu lời tựa
thông thường, mà trở thành một khảo cứu âm
nhạc nghiêm túc, sắc sảo về thể Lư Nam Bộ.
Ngoài việc
phân tích giá trị nội dung nghệ thuật của Lư, ông
đă đưa ra những nhận xét quan trọng, chính xác
về thể loại này như : " Lư là một
thể hát dân gian đă có từ cái nôi xa xưa của
truyền thống dân gian và được phát triển
(rộng) ở miền Trung và (mạnh hoặc rất
mạnh) ở miền Nam". Tuy nhiên, nếu chỉ
căn cứ vào các điệu hát Quan họ trong khối giọng
vặt, nơi mà theo tác giả cho là thuộc thể
điệu Lư để xác định Lư có từ cái
nôi xa xưa của truyền thống, th́ có phần
chưa hết nhẽ. Bởi v́, theo các nhà nghiên cứu Quan
họ và kể cả các nghệ nhân Quan họ, th́ khối
giọng vặt là những làn điệu
được thu nhận từ dân ca của các vùng
miền ngoài Quan họ do nhu cầu về bài bản
để đối giọng trong các cuộc hát thi,
mà trong đó có cả Lư của miền Trung và miền Nam.
Có thể
thấy thể loại Lư phát triển rất mạnh
ở Nam Bộ qua bài nghiên cứu: Đặc trưng
nghệ thuật của dân ca Nam Bộ
của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ [7]. V́ rằng
trong 36 thí dụ dẫn chứng về đặc
điểm âm nhạc dân ca Nam Bộ th́ đă có 32 thí
dụ là các điệu lư. Tất nhiên không phải hoàn toàn
v́ Lư có số lượng nhiều hơn hẳn các thể
loại khác mà v́ một lư do khác: Đó là sự hoàn
chỉnh về âm nhạc của bản thân các điệu
Lư. Bởi vậy, nên các vấn đề tác giả
đặt ra như nghệ thuật phổ nhạc,
phổ lời; các thủ pháp dân gian trong tiến
hành giai điệu; phương pháp phát triển
chủ đề âm nhạc trong dân ca Nam Bộ,
chủ yếu là được nhặt ra từ các
điệu Lư. Hoặc nói cách khác, không thể loại nào
đầy đủ để dẫn chứng cho các
vấn đề trên bằng thể loại Lư.
Đây là
một bài nghiên cứu nghiêm túc, cẩn trọng, nhất là
tác giả là người đă thực sự tiếp
cận tư liệu tại nơi sinh ra nó, không thông
qua những bản kư âm của người khác.
(Điều này để nói rằng, vẫn có một
số người viết bài nghiên cứu về dân ca
nhưng chẳng bao giờ cần nghe, cần biết.
Chỉ tập hợp qua sách báo, rồi tán !) Những
nhận xét, phân tích âm nhạc rơ ràng không quá lệ thuộc
vào Lư thuyết Âm nhạc cơ bản như
một số bài nghiên cứu dân ca Nam Bộ thời kỳ
trước đó. Chẳng hạn: “Ḥ Đồng Tháp
th́ kết ở một nốt thuộc “át âm”, nhưng trong
lúc ấy, tuy cùng một điệu thức “son”, nhưng
ḥ Miền Đông...th́ lại dùng nốt chủ âm
để kết hoàn toàn” như trong bài Dân ca Nam
Bộ một kho tàng âm điệu dân gian phong phú
của nhạc sĩ Ngô Huỳnh.
Trong Một
cách nghe, một cách hiểu bài dân ca Nam Bộ: Lư
ngựa ô [8] nhạc sĩ Tô Đông Hải
"khuyến cáo" không nên chỉ cảm thụ bài Lư
ngựa ô qua dáng vẻ bên ngoài, là lời hát huênh hoang,
hợm hĩnh của một anh công tử nhà giầu; mà : toàn
bộ vấn đề dường như nằm ở
một phía khác, mà người nghe chỉ có thể
cảm nhận khi biết “nghe” cả phần nhạc
lẫn phần lời trong bài hát. Nhạc sĩ cho
đây là giấc mơ hạnh phúc của người nông
dân ngày xưa tồn tại trong tâm tưởng một
chàng trai nghèo, nên khi nghe kết hợp cả lời ca và
giai điệu mới thấy nó mang một dư vị
cay đắng, xót xa đến vậy. Bởi thế giai
điệu bài hát mới chứa đựng cả sự
"gập ghềnh" trong tâm tư người nghe
lẫn sự hài hước đến chua xót...chứ
không thấy sự hợm của hợm ḿnh như câu
chữ ở phần lời ca.
Những bài
b́nh luận có giá trị như thế này không phải là
nhiều. Để khơi gợi và hướng
người nghe tới những ư tưởng
đẹp đẽ của dân ca bao giờ cũng là
việc làm cần thiết của những người
nghiên cứu phê b́nh. Nhưng đối với điệu Lư
ngựa ô th́ xưa nay dường như mọi
người đều cảm nhận nó chứa
đựng một tinh thần lạc quan yêu đời
của người nông dân trên bước đường
đi mở cơi, chứ chưa bao giờ cho đó là
lời lẽ hợm hĩnh của một cậu công
tử nào đó. Hơn nữa, với đường nét
giai điệu đẹp như của Lư ngựa ô th́ khó
ḷng buộc mọi người cảm nhận cái dư
vị cay đắng, xót xa và sự gập ghềnh
trong tâm tư lẫn sự hài hước đến chua
xót được ! Đến như điệu Lư
ngựa ô xứ Huế, một vùng dân ca được xem
là thấm đẫm chất buồn thương mà
điệu Lư này vẫn phơi phới tính chất lạc
quan, duyên dáng và trữ t́nh.
Vấn
đề Điệu thức trong dân ca Nam Bộ
[9] đă được nhạc sĩ Ngô Đông Hải
đề cập dưới h́nh thức một chuyên
khảo từ năm 1965. Trong hoàn cảnh đất
nước c̣n bị chia cắt, nguồn tư liệu
về dân ca chủ yếu là từ các cán bộ,
bộ đội Nam Bộ tập kết ra Bắc mà tác
giả đă hoàn thành và công bố một chuyên khảo
nghiêm túc, khoa học về điệu thức quả là
một sự nổ lực vượt bậc.
Có thể nói
một số kết quả nghiên cứu trong chuyên khảo
này đến nay vẫn c̣n nguyên giá trị về mặt
học thuật. Ít nhất là trong phương pháp, cách nh́n
nhận về tính đặc thù trong truyền thống âm
nhạc dân gian của mỗi vùng, miền; không quy
đồng toàn bộ dân ca Việt Nam vào hệ thống
thang 5 âm không bán cung. V́ như thế thang 5 âm nào cũng
đều là dân tộc, đều là Việt Nam cả.
Chẳng hạn, trong mục II, mà tác giả gọi là Điệu
thức 5 âm đặc biệt có thể đă làm
tiền đề cho cách đặt vấn đề trong
các khảo cứu về thang âm một số tác giả
thời kỳ sau này, như Oán 1, Oán 2... rất
đặc trưng của âm nhạc cổ truyền Nam
Bộ.
Tuy nhiên,
nếu cứ chuyên chú xem xét, phân tích trên cơ sở
dạng thang âm điệu thức được tác
giả tạm gọi là 5 âm đặc biệt
th́ giá trị khoa học của chuyên khảo càng cao hơn.
Bởi v́ trong mục I, dù gọi là Điệu thức 5
âm không bán cung trong dân ca Nam Bộ và phân chia thành thành
5 dạng từ Điệu thức I đến Điệu
thức V th́ thực chất vẫn là xem xét trên hệ
thống 5 âm Trung Hoa; dù gọi thế nào th́ sự sắp
xếp thứ tự trong chuyên khảo cũng vẫn là: Điệu
thức I = Chủy; Điệu thức II = Vũ; Điệu
thức III = Cung; Điệu thức IV =
Thương; Điệu thức V = Giốc.
Như vậy, nội dung của mục I và mục II
đă tạo ra sự không nhất quán trong cách thức
lựa chọn phương pháp khảo cứu, nếu
không muốn nói là có thể bị hiểu khác đi: cái
chính trở thành cái phụ; cái tất nhiên trở thành cái
ngẫu nhiên, ngoại lệ, mà c̣n làm rối rắm thêm cho
phần cuối, phần C: Sự kết hợp
điệu thức trong dân ca Nam Bộ; là nơi tỏ
ra tác giả đă bỏ nhiều tâm huyết để
hệ thống, phân tích một cách công phu, cẩn trọng.
Với nhăn quan ngày nay có thể c̣n nhiều vấn đề
cần luận bàn, nhưng giữa thời điểm
năm 1965 mà một tiểu luận khoa học âm nhạc
được công bố như Điệu thức
trong dân ca Nam Bộ th́ không phải là
nhiều.
TẠM KẾT
Do điều
kiện, hoàn cảnh của nước ta trong giai
đoạn này, nhất là từ những năm 50
đến 70, đội ngũ nghiên cứu lư luận âm
nhạc đang từ không có đến có với số
lượng chỉ như đếm đầu ngón tay. Các
bài viết về dân ca Việt Nam đa phần do các tác
giả là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc
học sưu tầm nghiên cứu, dù sâu sắc về
lịch sử, tổ chức xă hội, đời
sống vật chất và phong tục, tín ngưỡng, tôn
giáo...nhưng lại thiếu yếu tố âm nhạc
học. Tuy vậy, các khảo cứu trên lĩnh vực này
đă góp phần không nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu
âm nhạc dân tộc (và sau này là dân tộc nhạc học).
Đó là tạo tiền đề, cơ sở, tư liệu
và kể cả cảm hứng, hứng thú cho các nghiên
cứu âm nhạc học về sau.
Trong lĩnh
vực nghiên cứu âm nhạc, ngoài một số nghiên
cứu có giá trị nhưng khá hiếm hoi của các
nhạc sĩ tên tuổi, c̣n lại phần nhiều là các
bài viết nặng về sưu tầm, giới thiệu
mang tính chất điểm mặt một số
thể loại dân ca của một số địa
phương hoặc như một báo cáo tư liệu
điền dă nên yếu tố nghiên cứu tỏ ra khá
bị mờ nhạt (ngoại lệ trường hợp
một số bài nghiên cứu sau đó đă
được tác giả hoàn thiện lại và in thành
sách).
Đầu
thế kỷ XX Việt Nam mới bắt đầu
tiếp xúc với âm nhạc phương Tây, tiêu chuẩn
thẩm mỹ âm nhạc với hệ thống lư
thuyết âm nhạc cổ điển châu Âu
được xem là thước đo chuẩn mực
để các nhạc sĩ soi xét, đánh giá trong nghiên
cứu âm nhạc dân gian nước ta. Đây là một
thực trạng tồn tại phổ biến trong nghiên
cứu lư luận âm nhạc cổ truyền thời kỳ
này. Việc đứng trên quan điểm thẩm mỹ
của một truyền thống âm nhạc này để
nhận xét, đánh giá một truyền thống âm nhạc
khác thường sinh ra những trường hợp
kiểu như nhạc sĩ Pháp Hector Berlioz nhận xét
nhạc Trung Hoa là giống tiếng "chó ngáp mèo mửa",
trái lại một ông hoàng ở Lahore th́ rất sành nhạc
Ấn Độ, c̣n nhạc Âu đối với ông
chỉ là "tiếng sói tru giữa sa mạc" 1.
Hoặc như ư kiến của Gs. Trần Văn Khê phê phán
một nhạc sĩ khi ông này đặt hợp âm cho
bài Trống cơm dân ca quan họ v.v... Hiện
tượng nghiên cứu, phân tích âm nhạc cổ
truyền như trên, kể cả nhiều trường
hợp chúng tôi đă nhận xét trong các chương là
sự áp đặt, là kinh viện hóa âm nhạc dân gian,
nếu không muốn nói là đánh đồng truyền
thống, đánh đồng ngôn ngữ cấu trúc âm
nhạc phương Tây cổ điển với dân ca dân
gian Việt nam, chưa kể đến một số bài
nghiên cứu nhưng rất sống sượng khi lấy
đối tượng dân ca Việt nam để “tiêu hóa”
kiến thức âm nhạc phương Tây đă học ở
trường Âm nhạc.
Mặc dù c̣n
những tồn tại về phương hướng,
phương pháp trong một số bài nhưng nh́n chung
những khảo cứu dân ca Việt Nam trong thời
kỳ này đă để lại một hệ thống,
một kho tàng tư liệu quư giá các thể loại dân ca
khắp mọi miền đất nước, giới thiệu
cho công chúng biết được giá trị nghệ
thuật truyền thống của dân tộc, điều
mà trước 1945 chưa biết đến và chưa làm
được bao giờ. Điều quan trọng trong khoa
học âm nhạc là đă giải quyết được
một số vấn đề về dị bản,
cải biên, kư âm, bảo tồn, phát triển và nhất là
đă đúc kết có hệ thống về giai
điệu, thang âm điệu thức... Chính những
điều này đă tạo cơ sở, phương
hướng mang ư nghĩa “mở lối, dẫn
đường” cho các nhà nghiên cứu âm nhạc thế
hệ kế tiếp của thế kỷ XXI.
Do điều
kiện không cho phép, chúng tôi chỉ liệt kê danh mục tài
liệu được tuyển chọn để tổng
lược và nhận xét vào cuối bài viết, mà
không thể in trọn vẹn các bài nghiên cứu đó
để tiện đối chiếu trực tiếp.
DANH MỤC TÀI
LIỆU TUYỂN CHỌN
[1] Tô Vũ. Âm nhạc cổ truyền Nam
Bộ.
T/c VHNT số
3/1996.
[2] Nguyễn
Văn Hầu. Ḥ miền Nam.
T/c Bách khoa
số 135, 136/1962.
[3] Ngô Huỳnh. Dân
ca Nam Bộ, một kho tàng âm điệu dân gian phong phú.
T/c NCNT số
4/1977.
[4] Nguyễn
Hữu Thu. Một vài suy nghĩ về Ḥ Nam Bộ.
T/c Dân tộc học số
4/1975.
[5] Trần
Kiết Tường. Dân ca Nam Bộ.
T/c VHNT số 7/1974.
[6] Tô Vũ. Tản
mạn quanh những điệu Lư.
T/c VHNT số 12/1995.
[7] Lư Nhất
Vũ. Đặc trưng nghệ thuật của dân ca
Nam Bộ.
T/c NCNT số 2/1983.
[8] Tô Đông
Hải. Một cách nghe, một cách hiểu bài dân ca Nam
Bộ: Lư ngựa ô.
Văn hóa dân gian số 4/1990.
[9] Ngô Đông
Hải. Điệu thức trong dân ca Nam Bộ.
Những vấn đề Âm
nhạc và Múa số 7, 8/1965.
SÁCH
THAM KHẢO
1.
Âm nhạc Đông Nam Á. Trần
Văn Khê. Viện Âm nhạc. Hà Nội, 1998
2.
Dân ca Việt Nam. Nguyễn
Hữu Ba. Tập 1,2. Bộ QGGD, Sài G̣n, 1961
3.
Dân ca Việt Nam. Phạm Phúc
Minh. Nxb Âm nhạc, 1994
4.
Dân ca người Việt. Tú Ngọc. Nxb
Âm nhạc, Hà Nội, 1994
5.
Đặc khảo dân nhạc ở
Việt Nam. Phạm Duy. Nxb Hiện Đại. Sài G̣n,
1972
6.
Lịch sử âm nhạc dân gian cổ
truyền Việt nam. Nguyễn Viêm. Viện Âm nhạc. Hà Nội,1996
7.
Những vấn đề cơ bản
trong âm nhạc Tuồng. Lê Yên. Nxb Thế Giới. Hà Nội, 1996
8.
Sức sống của nền âm nhạc
truyền thống Việt Nam. Tô Vũ. Nxb Âm
nhạc. Hà Nội, 1996
9.
Lư Huế. Dương Bích Hà. Nxb. Viện
Âm nhạc
10. © http://vietsciences.free.frr và http://vietsciences.org
Vĩnh Phúc