NHÂN TÍNH VÀ NHÂN PHẨM TRONG “KƯ THÁC”
Vinh-Lan
KƯ THÁC (1960): 1-
Rừng Mắm 2- Hạ
Bệ 3- Ba Con Cáo 4- Ba Sao Giữa Giời 5- Ăn Cơm Chưa 6- Ṕ-Pế-Hán 7- Cho Tay Nầy, Lấy Tay Kia 8- Hồn Ma Cũ 9- Người Đờn Ông
Đẻ 10- Lầu 3 Pḥng 7 11-
Kẻ Chiến Bại 12- Rung
Cây Dừa 13- Đồng
Đội 14- Nguời Tài Xế
Điên 15- Nắng Chiều 16- Đôi Bạn Mắc Hoa Vông
„Viết văn chỉ là một thứ
kỹ thuật, tương đối dễ học. Nhưng muốn sáng tác, em cần
phải có cái ǵ trong ḷng, để mà nói ra, bằng không, th́
giă từ văn chương vậy“. Qua lời
giảng của một nhà văn với giai nhân muốn
học làm nữ sĩ trong truyện ngắn „Lầu 3
Pḥng 7“ B́nh- nguyên Lộc đă cố t́nh phân biệt hai
động từ có ư nghĩa của hai hành vi khác nhau:
„viết văn“ và „sáng tác“. Ông
quan niệm rằng, đáng gọi „ văn sĩ“ là
người „đă vật
lộn với t́nh cảm, với tư tưởng, đă
lao khổ sáng tác, và rốt
cuộc, đẻ ra được những cái ǵ bền
vững…“, và đối với văn sĩ,
người mà theo thói thường được gọi
là „người viết văn“, th́ „ viết văn nào
phải để leo lên đâu đâu?“(Lầu 3 Pḥng 7) mà là để „dồn tất cả tinh hoa
đă thâu lượm... để sản xuất ra tác
phẩm nghệ thuật“ (Người Đờn Ông Đẻ). Muốn có được
những tinh túy đó nhà văn không phải chỉ sử
dụng tài năng kết chữ thành câu, kết câu thành
truyện, mà c̣n có sự miệt mài làm việc của tim và
óc, c̣n có sự thoát ly ra khỏi cái tháp ngà xa cách con
người cũng như ra khỏi cái vùng tâm linh chật
hẹp của chính ḿnh. Đọc „Kư Thác“ của B́nh-nguyên
Lộc để thấm thía quan niệm về con
người trong các truyện của ông, con người với
đầy đủ nhân phẩm, nhân vị, nhân cách trong
mọi trạng huống và để cảm thụ
một lời khuyên nhắn, cũng có thể là một
mơ ước hay là một hy vọng của tác giả
đặt để vào những ai muốn làm văn nhân.
Đó là sự trang bị cho chính ḿnh những tư
tưởng, suy nghiệm, ư thức tôn trọng mọi giá
trị của cuộc đời bằng cách chấp
nhận gian khổ của cuộc đời, cũng
như của những cơn đau thai nghén để và v́
sáng tác.
Quan sát nhân vật B́nh-nguyên Lộc, độc
giả đôi khi có cảm tưởng như đứng
trước một khu vườn thiên nhiên có đủ
cả mọi loại bông hoa từ màu sắc rực
rở đến mộc mạc, từ hương thơm
ngào ngạt đến mùi hăng hắc khó ngửi, từ
loại vừa nở đă tả tơi v́ một cơn
gió nhẹ đến thứ mặc cho màu úa nhụy phai
vẫn bám trên cành. Và cả
những bông hoa nhỏ xíu mọc hoang dại nhưng
mạnh mẽ bên lề đường đất lẫn
lộn với dấu cỏ bị dẫm nát bằng
hằng bao vết chân vô t́nh đi qua. Cá tính của nhân vật B́nh-nguyên
Lộc cũng đa dạng đa diện như
thế. Đó là những con
người xuất hiện như chính họ
được sinh ra đời, sống với những
cơn mưa nắng của tâm t́nh và hiện thực trên
mọi b́nh diện tâm lư và hoàn cảnh. B́nh-nguyên Lộc viết về
họ, kể về họ như viết về những
nguyên bản của người sống thực tế:
họ là thủ phạm, là nạn nhân, là người chân
thành, là kẻ gian xảo, biết xử sự khôn ngoan, hay
vụng về trong tinh thần bấn loạn... Trong xă hội, có người
được ưu đăi trọng dụng, mà cũng có
người bị hất hủi gạt bỏ, trong sự tàn nhẫn cố t́nh
hay chỉ do một ngẫu nhiên không dụng ư... Ông luôn luôn
t́m ra tính chất mâu thuẫn của tánh t́nh, sắc thái, suy
nghĩ, hành động của từng cá nhân một trong
nếp sống thường nhật của con
người. Có thể nói, nhân
vật B́nh-nguyên Lộc không siêu việt mà cũng chẳng
thuần xấu xa, không là anh hùng để tôn sùng mà cũng
chẳng đê tiện đến đáng bị phỉ
nhổ, không cứng ngắt như được nặn
bằng sáp mà cũng chẳng èo uột như cọng bún
thiu. Ở mỗi con
người đều có khuyết điểm và lúc nào
cũng tiềm ẩn bên sau chỗ yếu đuối
một phần đáng để ư, đáng quư mến.
Trên đường du hành đi vào nội tâm
của nhân vật „Kư Thác“, độc giả sẽ gặp
gỡ vài tương phản của bản tính, có khi nó
phát triển một cách tự nhiên theo hiện tượng
tâm lư tuổi tác, như trường hợp ông bố già
gương mẫu đi học làm thanh niên (Hạ
Bệ), có khi nó lại biến thể một cách
bất ngờ do phản ứng tâm lư, như anh sinh viên y
khoa nhút nhát hết sợ thây ma v́ bùi ngùi về nghĩa
của đời người sau khi chết qua cái xác không
thừa nhận của người yêu phụ bạc (Ba
Sao Giữa Giời).
Cũng có những tương phản của hoàn
cảnh và tâm trạng thật chua chát xót xa như cô gái
trẻ bị bịnh thương hàn v́ gia đ́nh chết
đói nên căi lịnh bác sĩ cấm ăn (Ăn Cơm
Chưa), cái cảm giác trống rỗng trong ḷng và quanh
ḿnh tuy kề cận với giai nhân khi nhà văn biết
chắc rằng ḿnh sẽ không thể gặp
được người „văn hữu“ trong nàng (Lầu
3 Pḥng 7), sự sợ hăi chính ḿnh của con người
„đă vơi cạn hết chất người“ khi
tự cảm nhận tính chất đê hèn của phản
bội (Ba Con Cáo)... .
Bản sắc mâu thuẫn đầy nhân tính đó
hoặc đă nằm trong vô / tiềm thức qua những
đợt suy nghĩ th́ thầm như tự nói với
ḿnh của nhân vật; hoặc xuất hiện rơ ràng trên ư
thức của „Kẻ Chiến Bại“, mượn
h́nh ảnh hùng vĩ thu hẹp vào ḥn non bộ để
dối ḷng, để che đậy cái mặc cảm
nhỏ nhoi của đời ḿnh; hoặc bằng những
liên tưởng được khêu gợi từ h́nh
ảnh trước mắt, như ả ca nhi già trong
cơn lạnh là tương lai của chàng thi sĩ khi
chàng không c̣n là đồ trang sức cho những ông nhà giàu „thích
ké cái thơm lây của văn nghệ sĩ“
nữa (Ṕ-Pế-Hán).
Một tật xấu rất được
„chuộng“ của con người là liên hợp hay
đồng hóa sự ghen ghét trong ḷng với môi
trường sống thật, đă được tế
nhị kể lại qua chuyện anh văn sĩ nhất
định chống chữ f với đám bạn văn
chỉ v́ trong tiềm thức của anh c̣n giữ bức
thơ dứt t́nh của người yêu đă có những
chữ f (Hồn Ma Cũ), chuyện anh chàng oán một
người phụ bạc rồi coi mọi người
đàn bà là „những con ác quỷ“ và cho đời
chỉ đáng xa lánh (Rung Cây Dừa), chuyện cô gái
già tuổi dần sống trong cảnh ế ẩm cô
đơn đă từng hết thương bạn, cố
t́m ra đủ thứ lỗi lầm to nhỏ để ghét
bạn, tại v́ bạn đi lấy chồng (Đôi
Bạn Mắc Hoa Vông).
Sự xuất hiện cùng một lúc hai mặt
đối chọi nhau của sự kiện thực
tế ngoài đời, hay của tâm lư và bản tính con
người trong một số truyện là minh chứng cho
những vấn đề tuy khó ngờ khó tin nhưng
vẫn có thể là sự thật.
Đó là sự tương thân khi cùng khốn khổ
của hai „con cáo“ người (Ba Con Cáo), hay tính
cứng đầu của kẻ ở thế yếu : căi
không được mà không chịu thua (Người Tài
Xế Điên), đó là cảnh tượng cay đắng
của khoa học thuốc vừa cứu người ra
khỏi tay tử thần rồi khoa học máy cán
người dưới bánh xe (Cho Tay Nầy, Lấy Tay
Kia), hay quyết
định dứt khoát của kẻ rời bỏ
đảo „thần tiên“ để quay về đời
sống loài người „giả dối“, v́ cái nơi
xấu xa có đủ mọi yếu tố t́nh cảm
đau-buồn-hận-thù-ghét này c̣n đặc biệt
có „thương“....(Rung Cây
Dừa)
Có thể nói, truyện nào của B́nh-nguyên
Lộc cũng làm ta nghĩ đến những góc t́nh
thương đậm đà của nhà văn dành cho nhân
vật của ḿnh. Trong
truyện ngắn của B́nh-nguyên Lộc độc
giả khó ḷng t́m ra được một cái „Tôi“ vĩ
đại, toàn thiện của tác giả đứng
trước những „nhân vật nhỏ bé, ti tiện,
đáng khinh“. Độc giả chắc
không ngăn được nụ cười khi B́nh-nguyên
Lộc giới thiệu nhân vật có cái nghề mà thời
đại nào cũng miệt thị, nghề làm gái ăn
sương: „ là một thứ hồ ly không hớp
hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của
mấy anh lao động thôi“, hay với giọng hài hước
ông cho ta h́nh dung được cử chỉ lố bịch
của một ông bố cao niên đang „ vội vàng
chạy lượm mót của trời“ trong vũ
trường khiến cho cậu con „ có cảm giác
đang đọc một bài thất ngôn bát cú in xen vào
một tập thơ tự do“, trong khi cử chỉ
của cậu con háo thắng th́ lại „giống như một con dê
mới mọc sừng, đang giang hai chơn trước,
gầm đầu xuống, sừng chĩa tới trong
một dáng diệu sẵn sàng chờ địch
thủ“. Ngược lại, độc
giả cũng không khỏi chua xót cho sự dốt nát
của cô gái Triều châu bị bịnh thương hàn mà
không hiểu được sự nguy hiểm của
những hột cơm lúc bao tử đă bị vi trùng làm
mỏng đi, nên „ không cả quyết ăn v́ thèm
nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói
của cả nhà nó...“ Cái
thú vị tuyệt diệu của sự theo dơi diễn
biến tâm lư một nhân vật trong cuộc đi săn
h́nh ảnh của dĩ văng bắt đầu bằng
những h́nh ảnh hằng ngày quen thuộc trong tiệm
nước Tàu, là khi B́nh-nguyên Lộc cho anh ta phiêu lưu
với ư tưởng qua sự chủ động của
tiềm thức, mà hoàn toàn
không ngờ ḿnh đang
đi t́m nguyên nhân của sự ghét và chống chữ f. B́nh-nguyên Lộc dắt
độc giả theo chân anh ta đi t́m những hồn ma
cũ với giọng văn đă làm ma nào cũng đáng
yêu cả „Mến yêu là
những con ma tóc c̣n đương rẽ, áo quần c̣n hôi
ruộng bùn, cùng nhau ngơ ngác giữa đô thành....Bối
rối là những con ma thiếu nữ gặp nơi nhà quen,
khi ra chơi chúa nhựt, những con ma, nó làm cậu
học sinh lưu trú ngơ
ngẩn suốt tuần. Ôi!
dịu dàng là những con ma áo tím….”, để rồi
những con ma đó đă dẫn nhân vật đến
bức thơ tay cuối cùng của người t́nh
đầu tiên, bức thơ dứt khoát có những f thay
cho ph!
Tuy là người theo tân học, đă có ư
tưởng vượt ra một số ước lệ
luân lư cổ hủ, phá bỏ sự g̣ bó vô lư của vài
thành kiến đạo đức lỗi thời (Đôi
Bạn Mắc Hoa Vông, Hạ Bệ ), nhưng ông không sáng
tác với tác phong và bằng văn phong của người
tách ra khỏi môi trường sống của ḿnh. Trong
tập truyện có hơn hai mươi nhân vật khác nhau
mà tất cả, từ tên bất lương, ả giang
hồ, nữ ca nhi về chiều, cô gái trẻ nghèo
dốt bị mua từ hoàn cảnh nước lụt, cho
đến cô gái lỡ thời với tâm lư dằn xé hay anh
sinh viên trường Thuốc thất t́nh, chàng văn sĩ
đang nuôi ảo tưởng t́m văn hữu, ông thầy
đạo giáo năo nề với sự thật Fa-Kia ....
đều được miêu tả, diễn đạt
bằng một giọng văn dí dỏm, tuy đôi lúc có
châm biếm mỉa mai, hay phảng phất chất xót xa
nghĩ ngợi, nhưng cách hành văn phóng khoáng với
hơi hướm trào phúng duyên dáng đă làm những
bức tranh đời nhiều bộ mặt rất
thật này trở nên dễ mến, dễ được
thâu nhận và cảm thông.
Cả thủ phạm lẫn nạn nhân, cả trong
sạch lẫn tội lỗi đều được
ông ghi nhận bằng chân t́nh, không hề có sự hằn
học, khinh miệt hay phỉ báng. Mọi thứ sai lầm,
nhược điểm, như những nỗi sợ khác
nhau đă gặp gỡ nhau trong cùng tâm trạng sợ,
những nguyên nhân phản bội khác nhau đă gặp
gỡ nhau trong cùng hành động phản bội, mặc
cảm nhỏ nhoi được nguỵ trang bằng
giấc mộng lớn hải hồ, sự oán hận
một người lây đến cả loài người, ư
đồ phản trắc v́ nghèo nàn và áp lực tù tội,
thái độ hèn nhát đổ lỗi cho nhau trong cơn
nguy biến ... đều là những khía cạnh thực
tế của nhân cách đầy nhân tính trong cuộc
sống hỗn độn và trong một xă hội nhiễu
nhương. Nhưng, cũng
thiết tha vô cùng khi kẻ đă thù ghét con người
bỗng khao khát tiếng vang của loài người. Khao khát v́ đă sống và đă
thấm thía với „một xă hội thú vật, cóc
cần t́nh cảm, cóc cần t́nh thương đối
với lớp người trái chanh, lớp người
bị vắt hết cả nước cốt trong
thời niên thiếu để dâng lên đoàn thể, và bây
giờ chỉ c̣n trơ lại cái vỏ khô như xác ve.“ Thế nên, dù phải trở
lại một xă hội hời hợt đang dung túng cả
những „miệng kư sinh nhân“, người đă
cố t́nh bỏ tên tộc từ hăm hai năm qua
vẫn háo hức trở về mảnh đất
của „những
người biết thương, thương nhiều quá,
thương đến cả kẻ thù, đến cả
những cái miệng hoàn toàn vô ích“ (Rung Cây Dừa)
Có lẽ sự tô điểm cố ư của
B́nh-nguyên Lộc cho nhân vật của ông là khả năng
suy nghĩ, cái khả năng đă đưa con
người lên hàng cao nhất trên mọi sinh vật trong
trời đất, cái khả năng đă giúp con
người có được quyết định và hành
động chiến thắng những phản ứng
phản xạ theo bản năng
và chế ngự những chướng ngại
của tâm sinh lư phức tạp.
Nó đă thể hiện qua sự cứu giúp nhau khi
cùng cảnh ngộ giữa những kẻ từng kênh
kiệu nhau, lương tâm của người chai đá
cũng được đánh thức v́ tính cách nhơ
nhớp của hành vi phản bội (Ba Con Cáo),
nỗi tuyệt vọng v́ mất uy tín trở thành niềm
hy vọng cho một sự cảnh cáo (Hạ Bệ),
sự dứt khoát thà tù tội chớ không bỏ
đồng đội ở giây phút cuối cùng (Đồng
Đội), sự tỉnh ngộ về cách phung phí
thời gian và tâm trí cho phép mầu của ông thầy đi
t́m chân lư (Nắng Chiều), niềm thương
cảm của cô gái già với con chó trẻ đang ở
độ xuân th́ (Đội Bạn Mắc Hoa Vông)... Và
tuyệt đẹp là sự hy sinh của những con
người chất phác như cây mắm, chịu gian
khổ để xây dựng cho thế hệ mai sau,
một hành động không phải chỉ đến
từ óc mà c̣n bằng tim! (Rừng Mắm)
Cũng có lẽ sự tô điểm cố ư
thứ hai của B́nh-nguyên Lộc cho nhân vật, đă
ngầm chất chứa trong đó tâm sự của chính tác
giả, là tính chất nghệ sĩ, hay rơ ràng hơn là tính
chất đặc sắc của lư tưởng
người làm văn nghệ chân chính. Nó không chỉ là „cái say chiến
đấu ..., cái ǵ dễ dàng quá th́ không ham, mà chỉ mê
mệt đối với những sáng tạo đau
đớn thôi“ (Lầu 3 Pḥng 7) mà c̣n là tinh thần quư
trọng giá trị tác phẩm hơn sự tôn vinh bản
thân, đặt mục đích và quá tŕnh sáng tác trước
mọi cơn đau tâm linh và quằn quại thể xác,
hầu mong „góp khí thiêng của trời đất, un
đúc lại“ mà hoàn thành công tŕnh „làm đẹp cuộc
đời“ và sẵn sàng chấp nhận hoàn cảnh „không
ai dư nước mắt khóc cho số kiếp
nghệ sĩ“, bởi v́
„cái kiếp của chúng nó là đau khổ rồi
chết đi, để lại đồ đẹp cho ta
hưởng...“ (Người Đờn Ông Đẻ). Cái
đẹp của nghệ sĩ tính không giống như cái
đẹp sáng tạo mà nghệ sĩ đă lưu lại
đời: „đẹp hơn ngũ sắc của
tường vân, đẹp hơn mống trời,
đẹp hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu
sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng
Uyển“, mà nó là cái đẹp khiêm nhường ẩn
khuất của một tâm t́nh tha thiết, không sợ ḿnh
bị thiệt tḥi mà chỉ sợ tác phẩm không
được bảo toàn, sợ „uổng công...khó
nhọc mà không ai hưởng được...“!
(Người Đờn Ông Đẻ)
B́nh-nguyên Lộc đă c̣n cho độc
giả một cái thú đặc biệt nữa là tự
khám phá sự nhạy bén của cảm nhận qua lối
đùa giỡn tinh nghịch với đề tài của
ông. Sự đối chiếu
của hai cực tương phản giữa „người
bịnh quê mùa không tên“ và „y khoa, kỹ thuật tân kỳ“ (Cho
Tay Nầy, Lấy Tay Kia), giữa „khoa học thực
tế thực tiển“ và „thần học huyền bí khoa
trương“ (Nắng
Chiều) là mấu chốt cho suy tư chiêm nghiệm.
Tư tưởng tế nhị, thâm trầm
được trá h́nh qua sự giản đơn của
câu chuyện và lời lẽ khôi hài về nhân vật. Tính cách sâu sắc của
đề tài B́nh-nguyên Lộc nằm ở chỗ mọi
sự kiện được che dấu dưới
dạng chẳng có ǵ đáng gọi là sâu sắc
cả. Người
đọc tiếp xúc với những vấn đề
rất tầm thường mà không ngờ ḿnh đă
đối diện với những vấn đề
rất trọng đại, chẳng hạn như mục
đích phục vụ đời sống con người
của khoa học, hay tính nuôi dưỡng tinh thần con
người của đạo giáo.
Chỉ với 16 bài trong tập „Kư Thác“,
mà tựa tập truyện tự nó đă là nỗi
niềm-tâm tư-hoài bảo-gởi gắm trong chọn
lọc của tác giả, B́nh-nguyên Lộc đă đưa
rất nhiều vấn đề của con người ra
để được nhận diện, phản ảnh
và suy gẫm. Những vấn
đề chung quanh con người đó cho thấy trong
thời gian sáng tác nhà văn đă có không biết bao nhiêu
cơn động tâm động năo cho suy tưởng,
khổ nhọc đớn đau như „kiếp tằm“ và
đă có không biết bao nhiêu khắc khoải trăn
trở với đề tài, thao thức chịu
đựng với sự hoài thai để có thể cho ra
đời một cái ǵ „bền vững“ mà tác giả
mơ ước „nâng niu“.
Tấm ḷng của tác giả với chất liệu
và đối tượng sáng tác đă bộc lộ qua cách
xây dựng cốt chuyện, mà trong đó đó các nhân
vật, cho dù thuộc giai cấp hay thành phần nào trong xă hội, cho
dù đang ở trong trạng huống tâm lư hay thực
tế nào, nhân vị và nhân phẩm của họ bao giờ
cũng được B́nh-nguyên Lộc chăm sóc và bảo
vệ.
Nhà văn không thể trực tiếp làm thay
đổi thế cuộc, khó xoay chuyển được
t́nh thế của con người, nhưng nhà văn
vẫn có khả năng đóng góp vào một nhiệm
vụ cao cả, như văn sĩ đương đại
Péru, Mario Vargas Llosa, ao ước: „ ...tạo cơ
hội cho chúng ta biết tôn trọng các giá trị, mà
nếu không có những giá trị đó th́ thế giới có
thể sẽ bị ngự trị bởi tuyệt
vọng và con người sẽ đánh mất sự kính
trọng lẫn nhau“.
Điều ao ước ấy nhà văn Việt Nam quá
cố B́nh-nguyên Lộc của chúng ta đă thực hiện
từ lâu qua những sáng tác về con người, cho con
người và với ḷng yêu thương con người.
Vinh-Lan
* Bài trích đăng từ trang mạng B́nh
Nguyên Lộc http://web163.c2.ibone.ch/main.html
07.2007
© Binhnguyenloc.com