Sơ lược lịch sử giáo dục
Việt Nam (1954-1974)
DÂN TỘC, NHÂN BẢN, KHAI
PHÓNG
TS Nguyễn
Hữu Phước
Bài nầy chỉ viết
sơ lược về đường hướng giáo
dục ở Việt Nam (VN) trong khoảng thời gian
1954-1974 (1974 là năm mà những tài liệu liên quan được
gom góp lại và tŕnh bày dưới đề tài triết lư
giáo dục). Những sự kiện nào xảy ra
trước 1954 được áp dụng cho toàn cơi VN. Những ǵ xảy ra trong
khoảng 1954-1974, chỉ áp dụng cho Miền Nam Việt
Nam dưới vĩ tuyến 17, hay Việt Nam Cộng Ḥa
(VNCH) mà thôi.
Lịch
sử phát triển giáo dục ở VN
Căn bản của sự
phát triển hệ thống giáo dục VN trong thời gian
1954-1974 có thể xem như bắt nguồn từ sự
phổ biến quyển Luật lệ về Giáo Dục
của Albert Sarraut, toàn quyền Liên Bang Đông Dương,
vào năm 1917. Trước khi
người Pháp ban hành một chính sách giáo dục ở VN,
trong một thời gian nhiều thế kỷ, VN đă rập khuôn theo hệ
thống giáo dục Khổng giáo.
Mặc dù Liên Bang Đông Dương được
thành h́nh từ 1887, măi đến 1917 người Pháp
mới thành công trong việc thành lập một chính phủ
ổn định cho Liên Bang và quyết định thay
thế nền giáo dục cũ bằng hệ thống giáo
dục Pháp. Đây chỉ là
sự áp đặït nền giáo dục Pháp vào xă hội VN
(và Đông Dương nói chung).
Pháp đă dùng giáo dục
như là một dụng cụ phổ biến văn hóa
Pháp đến các thuộc địa. Pháp ngữ đă được
dùng làm chuyển ngữ chính thức ở các học
đường và trong các cơ quan công quyền. Trừ những năm đầu
của bậc tiểu học, quốc ngữ (Việt
ngữ) chỉ giữ một vai tṛ nhỏ trong
chương tŕnh học như là một ngoại ngữ. T́nh trạng nầy kéo dài cho
đến năm 1945, khi chánh phủ Trần Trọng Kim
được thành lập.
Thủ Tướng Trần
Trọng Kim cho xúc tiến và thay đổi trong giáo dục
và cho bắt đầu một chương tŕnh giáo dục
VN. Chương tŕnh mới
nầy có tên “chương tŕnh
Hoàng Xuân Hản.” Trên thực
tế, chương tŕnh nầy là bản dịch của
chương tŕnh đă dùng dưới thời Pháp
thuộc. Việt ngữ, Khoa học và Toán học
được chú trọng.
Trung và Bắc Phần VN bắt đầu dùng
Việt ngữ trong việc giảng dạy ở bậc
Trung học. Tuy nhiên, thực
sự chưa có ǵ thay đổi một cách sâu rộng, v́
hệ thống trường học và chương tŕnh
vẫn rập khuôn theo chương tŕnh Pháp.
Sau 1945, tinh thần
độc lập và tinh thần quốc gia càng ngày càng sáng
tỏ hơn. Chính điều
nầy là chất xúc tác cho việc phát triển của
hệ thống giáo dục địa phương. Từ
năm 1951, ở Nam Phần VN tất cả các môn học
ở bậc trung học đều được
giảng dạy bằng Việt ngữ. Và cứ mỗi năm sau đó,
Việt ngữ được dùng ở lớp kế
tiếp cho đến khi tất cả các lớp ở
bậc Trung học đều
dùng Việt ngữ.
Trước khi có một
nền giáo dục dạy bằng tiếng Việt cho
Tiểu học và Trung học, VN đă nhận hai truyền
thống giáo dục: truyền
thống “Khổûng giáo” hay “Nho giáo” của Trung Hoa và truyền thống “cổ
điển” của Pháp.
Sau đó VN nhận thêm
truyền thống giáo dục “thực tiễn” của Hoa
Kỳ (HK).
Nhân
bản, dân tộc, và khai phóng
Một
số ư kiến về cải tổ giáo dục
trước năm 1954
Ngay trong thời Pháp thuộc,
một số nhân sĩ VN
đă tỏ bày với các vua nhà Nguyễn về những ư
tưởng liên quan đến việc hiện đại
hóa giáo dục ở VN. Các ông Đinh văn Điền,
Nguyễn Hiệp, Lê Định, Nguyễn Trường
Tộ là những người tiên phong. Những vị trong phong trào
Đông du cũng đă phổ biến những ư
tưởng về cải tổ giáo dục. Từ năm 1941, đă có
những b́nh luận về các khuyết điểm của
giáo dục VN. Có người
đă chỉ rơ rằng cải tổ là một điều
phải làm.
Đại ư của khuynh
hướng mới nầy là làm sao có một nền giáo
dục mới thích hợp với nhu cầu của xă
hội tương lai. Mẫu
người Việt lư tưởng được nêu ra
với những đặc điểm sau: một cơ thể mạnh
khỏe, hoạt động, tự tin, có óc khoa học, và
thực tiễn, và có một tinh thần quốc gia. Ngay từ năm 1948, Hội
thảo giáo dục toàn quốc có nhấn mạnh
đặc điểm kiến tạo tuổi trẻ
như là một điều cần thiết cho sự sinh
tồn của quốc gia.
Ư
tưởng về cải
tổ giáo dục sau năm 1954
Năm 1954, Pháp kư hiệp
đinh Geneva, giao miền bắc vĩ tuyến 17 cho
cộng sản VN, và miền Nam vĩ tuyến nầy cho
một chánh phủ thuộc khối tự do. Xin nhắc
lại, tất cả những sự kiện lịch
sử hay giáo dục trong khoảng 1954-1974 chỉ liên quan
đến Việt Nam Cộng Ḥa hay Nam VN mà thôi. Năm 1955 quân đội Pháp hoàn
toàn rút khỏi Nam VN và đệ nhất Cộng Ḥa
được thành lập. Trong khung cảnh chính trị
đó, trong những năm đầu của nền
Cộng Ḥa, giáo dục chỉ là một sự nối
tiếp của những ǵ
đă có. Với không khí mới của một nền
Cộng Ḥa, nhiều ư tưởng giáo dục mới
được bàn căi rất nhiều. Nhưng thực sự những
người có trách nhiệm về giáo dục c̣n lúng túng, và
đang t́m một hướng đi cho giáo dục VN lúc
đó.
Nhân
bản, Dân tộc và Khai phóng, một triết lư giáo dục
mới
Cuộc “Hội thảo Giáo dục Toàn
Quốc” (lần thứ nhất) được tổ
chức năm 1958. Hội
thảo đă chú ư tới và đem đến cho giáo
dục VN một cái nh́n mới liên quan đến triết
lư giáo dục bằng cách đề nghị ba nguyên tắc
hướng dẫn cho một nước Cộng Ḥa VN
trong khuynh hướng dân chủ.
Ba nguyên tắc (hay đường hướng,
triết lư) đó là: “Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng.”
·
Giáo
dục VN là một nền giáo dục “nhân bản”:
Giáo dục phải tôn
trọng những giá trị thiêng liêng của con
người, coi con người là một cứu cánh, và chú
trọng vào sự phát triển toàn diện của con
người.
·
Giáo
dục VN phải là một nền giáo dục “dân tộc.”
Giáo dục phải tôn
trọng những giá trị quốc gia và phù hợp với
hoàn cảnh thiên nhiên của con người (gia đ́nh,
nghề nghiệp, quốc gia) và bảo đảm cho
sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân
tộc.
·
Giáo
dục VN phải là một nền giáo dục khai phóng:
Giáo dục phải dùng
phương pháp khoa học như là một yếu tố
của tiến bộ, phát triển thái độ xă hội
và dân chủ, và kính trọng giá trị văn hóa chân chính
của mọi quốc gia trên thế giới.
Ba đường
hướng triết lư giáo dục
trên được coi như là căn bản triết
lư cho mọi thay đổi về chương tŕnh hay
tổ chức học đường cho những năm
tiếp theo.
Đường hướng
“dân tộc” là một ước nguyện tối cao
của dân VN trong thời điểm lịch sử đó
và sẽ đứng vững măi trong ḷng dân tộc VN.
Đường hướng
“nhân bản” rất cao quư, có tính cách phổ quát và có thể
áp dụng cho bất cứ dân tộc nào trên thế
giới. Trong thực tế,
từ nhân bản đă có nguồn gốc từ truyền
thống “giáo dục tổng quát” hay “kiến thức
tổng quát” (culture générale tradition) ở Pháp. Alfred Bouglé đă diễn tả
truyền thống nầy như sau: “Truyền thống nầy gồm
có ba đặc điểm: có tính cách nhân bản (humanism),
có liên hệ đến việc giảng dạy xă hội
học, và có liên hệ đến việc giảng dạy
triết học.” Theo ông Bouglé,
nhân bản là sự bổ túc và hỗ trợ cần
thiết cho lư thuyết cá nhân (individualism).
Tuy nhiên “nhân bản và dân
tộc” đều có tính cách trừu tượng, nên khó
thể hiện qua một chương tŕnh học thực
cụ thể, rơ ràng. Môn Công
dân giáo dục và môn Sử được dùng trực
tiếp trong việc thể hiện hai đường
hướng trên. Ngoài ra,
sự thể hiện đă rải rác trong các buổi tu
nghiệp giáo chức, những bài diễn văn trong các
buổi lễ khai trường, hay các buổi phát phần
thưởng cho những học sinh ưu tú.
Chỉ có đường
hướng “khai phóng” là nổi bật trong những công
cuộc cải tổ chương tŕnh học, và việc
thay đổi tổ chức các học đường
để tiến theo trào lưu mới trên thế
giới.
“Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc” thứ hai năm 1964
Mặc dầu có biến
cố chính trị đưa đến sự sụp
đổ của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa vào
năm 1963, và các khủng hoảng chính trị trong những
năm tiếp theo, Bộ
Quốc Gia Giáo Dục (sau nầy có tên Bộ Văn Hóa và
Giáo Dục) vẫn tiếp tục nhiệm vụ
thường xuyên trong việc tổ chức các kỳ thi
trên toàn quốc ở Nam VN, và vẫn tiến hành các
việc đă dự định.
Năm 1964, một cuộc
“Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc” thứ hai
được tổ chức với hai đề tài
đặc biệt.
Đề tài đầu tiên
là sự tổ chức lại hệ thống học
đường với dự án nhấn mạnh sự
học hành liên tục từ lớp 1 đến lớp
12. Tuy rằng cuộc hội
thảo không hề nhắc đến một phong trào giáo
dục mới ở Pháp có tên là phong trào “học
đường độc đáo” (l’école unique) trong
thời gian trước và cả sau thế chiến
thứ 2 (1939-1945) mà dự án
Hội Thảo 1964 đă phỏng theo. Bên Pháp, ư
tưởng về l’école unique, với trọng tâm
đặt vào sự khác biệt cá nhân của mỗi
học sinh, cũng gây tranh luận sôi nổi một
thời gian gần hai thập niên, mới được
đem ra áp dụng.
Đề tài thứ hai là
sự xác nhận lại ba đường hướng
căn bản: “Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng”, đă
được thảo luận và chấp nhận trong
cuộc hội thảo sáu năm về trước.
Dầu có nhiều cố
gắng cải tổ, giáo dục VN cho đến thời
điểm 1964-1965 vẫn c̣n chịu ảnh hưởng
sâu đậm của giáo dục Pháp. Tuy nhiên, với
đường hướng triết lư “khai phóng”, chúng ta
thấy có một luồng gió mới trong giáo dục.
Tóm lại, trong ba đường
hướng chính của triết lư giáo dục VN trong
thời gian 1954-1974 , khuynh hướng khai phóng
được thể hiện một cách rơ rệt
nhất. VN muốn tiến theo đà tiến bộ vềâ
kỹ thuật, và sự mở rộng về hợp tác
của thế giới, nên đă thực thi
đường hướng phát triển khai phóng.
Ba
truyền thống
Truyền
thống giáo dục Nho giáo
Có thể nói trong 10 thế
kỷ trước khoảng thời gian 54-74, cuộc
sống ở VN mang tính chất Khổng giáo hay c̣n gọi
là Nho giáo. Mặc dầu vài
thế kỷ sau cùng VN có nhiều tiếp xúc với văn
minh tây phương, nhưng ảnh hưởng của Nho
giáo trên các liên hệ xă hội và tổ chức xă hội vẫn
c̣n rất nhiều.
·
Nguồn
gốc
Nho giáo, có nguồn gốc
ở Trung Hoa (TH) có thể coi như một hệ thống
đạo đức học, một triết học, hay
một tôn giáo. Những
điều giảng dạy của Khổng Tử
đều đặït căn bản trên nguyên tắc
đạo đức và sự liên hệ giữa con
người với nhau.
Khổng Tử ít chú trọng vào những lư luận
liên hệ đến siêu h́nh học. Ông nghĩ rằng chỉ trừ
những bậc thiên tài, người thường không
thể và không cần hiểu những vấn đề
siêu h́nh. Ông không coi ḿnh là
người sáng lập ra một tôn giáo và cũng không
giảng dạy về tôn giáo.
Chính các môn đệ của ông và những học
giả nho gia đă phổ biến triết lư của ông qua
những tác phẩm của họ.
Những quyển sách liên hệ đến Nho giáo và
các ư tưởng của Khổng Tử gồm có Ngũ
Kinh ( Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, và Kinh Xuân Thu), và Tứ
Thư (Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, và
Luận Ngữ).
·
Những
nguyên tắc căn bản của Nho giáo
Theo ông Lin Yutang, (Lâm Ngữ
Đường) nhận
định triết lư cao đẹp nhất của
Khổng Tử là sự đo lường con người
bằng con người.
Khổng Tử chú trọng nhiều vào sự liên
hệ giữa con người.
Ông coi sự rèn luyện về đạo đức
là sự quan trọng nhất cho trật tự thế
giới. Việc tự rèn
luyện về đạo đức giúp điều hành
đời sống gia đ́nh và do đó đưa
đến trật tự quốc gia. Để đạt
được những liên hệ tốt đẹp, con
người cần phải hoàn tất năm nhiệm
vụ căn bản. Đó là
nhiệm vụ giữa kẻ cầm quyền và
người dân; giữa cha
con, giữa vợ chồng;
giữa anh (chị) em; và
giữa bạn bè với nhau.
Có năm nguyên tắc căn
bản về đức hạnh mà con người phải
theo để tự giáo dục và để có những liên
hệ hỗ tương tốt đẹp. Đó là: nhân & nghĩa, hay t́nh
thương và t́nh nhân loại được thể
hiện bằng hành động;
lễ, hay là việc áp
dụng các nghi thức; trí : sự tự học và tự
rèn luyện; và tín: tạo
sự tin cậy, giữ được sự tin
cậy.
Khi các môn đệ hỏi ông
về chữ nhân, câu trả lời của Khổng Tử
đă thay đổi tùy theo tŕnh độ học thức
của từng đồ đệ. Nhân có thể giải thích là
tử tế, hiền ḥa, có t́nh nhân loại. Nhân cũng có thể hiểu là
luật trời, hay luật thiên nhiên. Nói chung, nhân có nghĩa là t́nh
thương. Lễ bên trên áp
dụng cho cá nhân.
Nho giáo c̣n giải thích xa
hơn về quan niệm lễ và nhạc. Lễ, quan niệm rộng, là
một trật tự xă hội hợp lư với những
thái độ xă hội rơ ràng giữa những cá nhân. Lễ có thể coi như sự
kính trọng lẫn nhau. Nó c̣n
có nghĩa cao hơn: đó là tinh thần tôn trọng kỷ
luật của hành vi của mỗi người. Lễ đă được bàn
nhiều trong sách Lễ Kinh và trong quyển Luận Ngữ.
Ư niệm về “nhạc”
tăng thêm phần quan trọng của “lễ”, v́ nhạc
là sự ḥa điệu của thiên nhiên. Lễ và nhạc đem lại
sự điều ḥa trong cuộc sống v́ chúng ảnh
hưởng đến t́nh cảm con người.
Trong Nho giáo, nguyên tắc
“lễ nhạc” được áp dụng vào cả chính
trị. Nhà cầm quyền
theo nho giáo, phải cố gắng đặït để
mọi vật, mọi việc đúng vào trật tự
của chúng. Và do đó sẽ
có một xă hội hợp lư trong đó con người có
thể sống ḥa hợp với nhau.
·
Nho
giáo và giáo dục:
Giáo dục là một phần
rất quan trọng trong những điều giảng
dạy của Khổng Tử, nhứt là sự tự giáo dục để đạt
đến t́nh trạng ḥa điệu cá nhân, một sự
cần thiết cho việc đạt thành sự ḥa
điệu trong chiùnh trị.
Một trật tự xă hội hợp lư sẽ
được thể hiện cho toàn quốc khi đă có
một sự ḥa điệu về chính trị. Giáo dục, v́ vậy, có
địa vị cao nhất trong xă hội và là điều
cần thiết cho mọi người.
Khổng Tử đă tŕnh bày
một phương thức dạy và học mà trong ấy
“hướng dẫn” giữ vai tṛ quan trọng. Theo ông, tự giáo dục chính ḿnh
là cách duy nhất để trở nên người “quân
tử”, và giáo dục là cách duy nhất để
người quân tử văn minh hóa dân chúng. Phải có thực tâm chú trọng
đến giáo dục, v́ không có giáo dục th́ con
người không thể trở nên khôn ngoan và không hiểu
được luật luân lư.
·
Ảnh
hưởng tổng quát giáo dục của Nho giáo
Từ thế kỷ
đầu trước Giáng sinh đến thế kỷ 20
sau Giáng sinh, những điều giảng dạy của
Khổng Tử đă có ảnh hưởng sâu đậm
vào văn hóa TH. Vào thế
kỷ thứ 2 sau Thiên Chúa, các kinh sách của ông đă
được tuyên bố là sách giáo lư của TH và
được dùng làm sách giáo khoa cho học sinh. Các sách nầy, về sau cũng
được dùng ở Đại Hàn, Nhật, và VN. Ở TH, hệ thống thi
tuyển công chức là một truyền thống của nho
giáo, trong đó Ngũ Kinh và Tứ Thư vẫn là sách giáo
khoa chính. Ngay cả đời
Đường và Tống vào thế kỷ 12 và 13, khi
Phật giáo có nhiều ảnh hưởng hơn Khổng
giáo trong triều đ́nh, các vị quan lại ở
triều cùng các vị thống đốc ở tỉnh và
một số quan chức khác ở các địa
phương vẫn được tuyển chọn
bằng các kỳ thi theo Khổng giáo.
Những điều giảng
dạy của Khổng Tử đă đứng vững
không thử thách cho đến đầu thế kỷ 20
và là một phần không thể tách rời ra khỏi xă
hội TH, Đại Hàn, Nhật, và VN cho đến
thời cận, và hiện đại. Một cá nhân có thể cho ḿnh là
người theo Đạo giáo, Phật giáo, hay Công giáo,
nhưng đồng thời người đó vẫn là
một người của Nho giáo trong cuộc sống hàng
ngày.
·
Ảnh
hưởng của giáo dục Nho giáo ở VN
Từ thế kỷ thứ
10 đến đầu thế kỷ thứ 20, VN đă ở
dưới ảnh hưởng của nền giáo dục
Nho giáo. Lịch sử văn
minh VN cho chúng ta thấy VN có những đặc
điểm văn hóa có tính chất thuần túy VN. Tuy nhiên, VN trong thời gian vừa
nói đă có một nền giáo dục rập khuôn theo giáo
dục Nho giáo. Có ba điểm chánh trong ảnh
hưởng giáo dục nho giáo ở VN.
-Việc dùng chữ Hán, giọng Hán Việt, và
việc giảng dạy luân lư:
Chúng ta đă mượn
chữ TH (chữ Hán) để làm chữ viết và
đọc theo cách riêng của VN gọi là giọng Hán
Việt (HV). Chỉ có
những người VN có học chữ Hán mới biết
đọc chữ Hán, giọng HV, và mới hiểu
những chữ nầy.
Trong suốt thời gian dài
từ đầu thế kỷ thứ nhất cho
đến cuối thế kỷ 19, chỉ có một
thiểu số biết chữ Hán hay c̣n gọi là chữ
nho.
Sau nầy khi quốc ngữ
trở thành phổ thông, việc dùng những chữ HV (viết
bằng quốc ngữ) cũng bành trướng theo. Hiện tại, có khoảng 60 phần trăm
những chữ trong ngôn ngữ VN là chữ HV hoặc
biến thể từ tiếng HV.
Trong học đường,
môn luân lư ở cấp Tiểu học, hay
công dân giáo dục ở cấp Trung học là một
môn học bắt buộc.
Những bổn phận của con người
như bổn phận
đối với thầy, với cha mẹ, với
bạn bè và với tha nhân được giảng dạy
trong nhiều năm. Đây là
những điều căn bản trong thang giá trị
của Nho giáo.
-Kỳ thi tuyển chọn nhân tài làm công
chức:
Kỳ thi tuyển chọn
nhân tài theo Nho giáo bắt đầu ở VN vào thế
kỷ 11, năm 1075, đời nhà Lư. Kỳ thi nầy được
cải tổ dưới đời nhà Trần (1225-1400).
Các kỳ thi nầy có những thay đổi trong các
triều đại kế tiếp nhưng không ngoài khuôn
khổ của Nho giáo.
Những người thi đậu đă giữ
những vai tṛ quan trọng trong xă hội và những
chức vụ cao cấp trong guồng máy hành chánh công
quyền. Dưới đời Trần, Phật giáo
cũng phát triển mạnh. Nhiều học giả
Phật giáo đă nắm vai tṛ cố vấn cho các vua. Tuy
nhiên, trong giáo dục, Nho giáo vẫn giữ vai tṛ chánh
yếu.
-Sự liên hệ
giữa thầy tṛ và giữa con cái với gia đ́nh:
Trong nấc thang giá trị
của giáo dục Nho giáo, người thầy có một
địa vị cao quí. Ngay
cả ông vua cũng kính
trọng vị thầy của ḿnh. Trong xă hội, về
phương diện tinh thần, sự kính trọng
thầy c̣n cao hơn người cha trong gia đ́nh:
Muốn khôn th́ phải có
thầy,
Không thầy dạy dỗ đố mầy
làm nên.
Trong tiếng nói của VN,
sự kính trọng thầy được diễn tả
qua cách xưng hô. Người
nghe có thể nhận định ngay vai tṛ và thứ
bực xă hội trong cách xưng hô.
Sự kính trọng thầy vẫn là một truyền
thống tốt đẹp, và lẽ dĩ nhiên là cách
dạy và cách học phải thay đổi cho kịp
với sự tiến bộ và những tiêu chuẩn chung
ở xứ mới.
-Đặt trọng tâm của xă hội vào
đại gia đ́nh.
Theo truyền thống
nầy, đại gia đ́nh quyết định nhiều
khía cạnh của sự phát triển của những cá
nhân trong gia đ́nh ấy.
Về ưu điểm, trong
một hệ thống xă hội xưa không có bảo
đảm hay bảo kê về tài chánh, đại gia
đ́nh là nguồn giúp đỡ hữu hiệu nhất cho
tương lai của những người trong gia đ́nh.
Sức mạnh của gia đ́nh về cả vật
chất lẫn tinh thần đều giúp đỡ cho
sự thành công của cá nhân.
Nhưng cũng có những
khuyết điểm như sự phát triển của cá
nhân bị hy sinh cho ư muốn của gia đ́nh. Cho tới
ngày nay, vẫn c̣n nhiều trường hợp con cái đă
học những ngành chuyên môn theo ư muốn hay ư thích của
cha mẹ hơn là học ngành ḿnh thích. Một số sự đổ
vỡ giữa con cái và cha mẹ do đấy mà ra.
Truyền
thống cổ điển của Pháp
Truyền thống cổ
điển về triết lư văn hóa giáo dục của
Pháp đă có trước thời kỳ cách mạng dân
chủ. Đó là triết lư
về một nền văn hóa quốc gia hợp nhất,
không chia cắt. Trong quyển
“Tham luận về giáo dục”, Charlotais, vào thế kỷ
18, đă đưa ra một đường hướng
và động lực đầu tiên cho nền giáo dục
quốc gia Pháp. Ông đề
nghị rằng hệ thống giáo dục phải do dân
chúng kiểm soát và phải là mối quan tâm của quốc
gia. Ông nhấn mạnh ở
điểm là những thường nhân, chớ không
phải là những người của các tôn giáo, phải
có tiếng nói trong giáo dục.
Hiến pháp 1791 của Pháp qui
định rơ vai tṛ của quốc gia trong giáo dục.
Hiến pháp đó ghi rơ là quốc gia bảo đảm cho
mọi đứa trẻ và người lớn có cơ
hội đồng đều được nhận lănh
giáo dục, được đào tạo chuyên nghiệp và
văn hóa. Tổ chức giáo
dục công lập không có tính cách tôn giáo, và là giáo dục miễn
phí cho mọi cấp bậc, cũng là bổn phận
của quốc gia.
Qua nghị định 1806 và
1808, Hoàng đế Napoléon
đă đặt giáo dục là một phương tiện
của quốc gia với một tổ chức rất
phức tạp có nhiều cấp bực. Tổ chức đó cho
đến 1968 vẫn c̣n kiểm soát hữu hiệu
nền giáo dục Pháp quốc.
Đó là một tổ
chức trung ương tập quyền mà trên hết là
vị Bộ Trưởng giáo dục. Bộ nầy kiểm soát mọi
hoạt động giáo dục từ mẫu giáo cho
đến đại học kể cả công lẫn
tư, từ chương tŕnh cho đến việc đào
tạo giáo chức, và việc tổ chức các kỳ thi
trên toàn quốc.
Sự kiểm soát nầy
được thực hiện qua các giáo chức do bộ
tuyển chọn. Giáo dục
tư lập tuy được hưởng một mức
độ độc lập về một vài khía cạnh,
nhưng vẫn thuộc dưới quyền kiểm soát
gián tiếp của Bộ giáo dục. Sự kiểm soát
nầy không nhắm vào chương tŕnh học, mà là
để bảo đảm rằng những điều
giảng dạy không trái với luật pháp quốc gia, và
để bảo đảm rằng trường ốc có
đủ an ninh và vệ sinh.
Thêm vào đó, các học sinh tư thục cũng
phải trải qua những kỳ thi toàn quốc.
·
Những
kỳ thi toàn quốc
Các kỳ thi Trung học
Đệ nhất cấp (THĐNC) và Đệ nhị
cấp (Túù Tài) là truyền thống của nền giáo
dục tập trung đó.
Những kỳ thi nầy bắt nguồn từ
thế kỷ thứ 13, khi Viện đại học Sorbonne
đưa ra quyết nghị để định xem coi
học sinh Trung học có đủ khả năng
để tiếp tục việc học ở đại
học không.
Trước năm 1965, Pháp có
hai kỳ thi tú tài: Tú tài 1 và Tú tài 2. Sau năm 1965, Pháp
chỉ c̣n giữ lại kỳ thi Tú tài 2. Bằng Tú tài 2 là ch́a khóa cửa
vào đại học. Cũng
từ năm nầy, Bộ Giáo Dục Pháp chuyển
quyền thi cử cho các Khu học chánh địa
phương, và chỉ giữ quyền kiểm soát thôi.
Cho măi tới năm 1974, lúc
tài liệu được tham khảo cho vấn đề
giáo dục VN (1954-1974),
bằng Tú tài 2 vẫn c̣n là chiếc ch́a khóa mầu
nhiệm mở cửa vào các đại học ở
Pháp. Bằng nầy không
những ảnh hưởng đến tương lai học
sinh mà lẽ dĩ nhiên là mối quan tâm của cha mẹ.
Thời gian chuẩn bị thi là một thời gian căng
thẳng trong gia đ́nh và nó là mối quan tâm của toàn
quốc.
·
Kiến
thức tổng quát
Quan niệm về “kiến
thức tổng quát” (culture générale) là một quan niệm
độc đáo trong triết lư giáo dục của Pháp. Dân
Pháp chấp nhận rằng, tâm trí của dân chúng phải
được huấn luyện để suy nghĩ
hợp lư, và đạt được những kiến
thức tổng quát.
Một cách rơ ràng hơn,
kiến thức nầy gồm triết lư, văn
chương, khoa học lư thuyết, sử, và nghệ
thuật. Nó bao gồm sự đào
tạo một con người với khối óc, một
sự đào tạo quan trọng nhất của con
người. Ba năm cuối của bậc Trung học
nhấn mạnh các môn học nầy. Chúng được
coi là quan trọng v́ chúng góp phần vào kiến thức, giúp
phát triển sự phán đoán của những nhà lănh
đạo tương lai.
Sau thế chiến thứ
hai, vào giữa thập niên 1940, sự hiểu biết
về khoa học kỹ thuật được thêm vào
phần kiến thức tổng quát. Sự bành
trướng của môn nầy cũng gặp nhiều
thử thách v́ nhóm cổ điển không coi trọng kỹ
thuật, trong lúc nhóm các nhà giáo dục cấp tiến coi
quan niệm giáo dục tổng quát là hẹp ḥi, làm cản
bước tiến của khoa học thực dụng.
Sau năm 1958 học sinh có
thể chọn một trong hai thứ tiếng Hy Lạp hay
La Tinh. Khoa học áp dụng và
giáo dục kỹ thuật càng ngày càng bành trướng
hơn. Nhưng việc
giảng dạy triết lư ở lớp 12 vẫn giữ
vững địa vị. Môn
triết lư ở trung học là một điểm
độc đáo của giáo dục Pháp. Triết lư được coi là
một dụng cụ quan trọng trong việc đào
tạo trí tuệ và đào tạo những học giả.
Ngay cả cho đến năm 1974, mặc dầu
chương tŕnh trung học đệ nhị cấp
đă chia ra nhiều ban, nhưng triết lư (gồm tâm lư
học, luận lư học, đạo đức học và
siêu h́nh học) vẫn là môn bắt buộc ở tất
cả các ban học.
·
Truyền
thống Pháp trong giáo dục VN
Pháp
đă để lại cho VN một tổ chức
giáo dục y như của Pháp quốc.
Bộ Giáo Dục theo công thức trung
ương tập quyền, có bổn phận và trách nhiệm trong
mọi cấp học vấn.
Bộ ban hành một
chương tŕnh học thuần nhất cho toàn
quốc ở cấp tiểu và trung học. Các đại
học tuy được một phần tự trị
trong chương tŕnh học nhưng vẫn ở
đưới sự kiểm soát của Bộ Giáo
dục, nhất là phần ngân sách.
Kiến thức tổng quát vẫn được
đề cao trong chương tŕnh trung học. Triết lư vẫn là môn học
chánh cho tất cả các ban ở trung học đệ
nhị cấp. Chương tŕnh nhắm vào việc đào
tạo những sinh viên đại học có một
“kiến thức tổâng quát” theo truyền thống Pháp,
sẽ trở thành những công chức có khả năng
phục vụ cho guồng máy hành chánh công quyền.
Các kỳ thi toàn quốc vẫn được duy
tŕ: Việc thi cử nầy đă gạn lọc học
sinh quá nhiều. Sĩ
số tốt nghiệp trung học so với
sĩ số thi vào lớp
đầu của trung học quá nhỏ. Do đó đưa đến
tệ trạng coi trọng văn bằng hơn là sự
học hỏi thực tiễn với kiến thức
thực dụng. Giáo dục tiếp tục đào tạo
ra nhiều sinh viên ngành nhân văn nói chung. Các đại
học về nhân văn như Văn khoa, Luật khoa th́
dư sinh viên và thiếu pḥng ốc, trong lúc quốc gia laiï
cần nhiều chuyên viên các ngành công nghệ, kỹ
thuật, canh nông, kiến trúc v.v…
Vào năm 1954 và 1955, khi Pháp
trao trả độc lập lại cho chính phủ Hồ
Chí Minh (ở bắc vĩ tuyến 17), và cho chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm (ở nam vĩ tuyến 17), VN nằm trong thực trạng
của sự thừa hưởng truyền thống giáo
dục cổ điển của Pháp.
Tuy xă hội VN có chịu
ảnh hưởng của hơn 80 năm đô hộ
của Pháp, vẫn là một xă hội có căn bản Nho
giáo v́ nền giáo dục Nho giáo chỉ thật sự ra
đi hoàn toàn vào đầu thập niên thứ ba của
thế kỷ 20.
Truyền
thống giáo dục thực tiễn của Hoa Kỳ
Ảnh hưởng của
nền giáo dục “thực tiễn” (pragmatism) của Hoa
Hỳ đă bắt đầu phát triển để
trở thành một truyền thống thứ ba sau truyền
thống “Nho giáo” và “cổ
điển Pháp”.
Điều cần nói đến trong các
thập niên 1954-1974 là các hoạt động giáo dục
của HK ở VN. Ngay từ
năm 1954, một nhóm giáo chức thuộc đại
học Michigan đă đến VN với nhiệm vụ
giúp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VN. Thật ra nhóm nầy nhắm vào
giáo dục chính trị nhiều hơn là giáo dục
thuần túy. Họ có mục tiêu giúp VNCH cải tổ
guồng máy hành chánh. Khi sang, họ đă có trong tay một
bản phúc tŕnh khá đầy đủ về hệ
thống giáo dục ở VN do ông
Lavergne và ông Sassani viết (Education in VietNam. Washington
D.C.: U.S. Department of Health, Education & Welfare, 1954) .
Nhiều sinh viên VN được gởi
đi du học ở HK và các quốc gia khác như Australia, New Zealand, Germany, Japan. Họ đă đi du học
bằng học bổng, hoặc tự túc. Phần lớn đă học các
ngành kỹ thuật, thương mại, canh nông v.v… là
những ngành thực tiễn.
Bộ Giáo dục và các Bộ
khác cũng gởi công chức của nhiều ngành khác nhau
đi tu nghiệp, hoặc ngắn hạn, hoặc dài
hạn (có học lấy thêm cấp bằng). Nơi có
nhiều sinh viên và công chức du học nhất là HK. Do đó trong thập niên 64-74 có
nhiều dự án cải tiến giáo dục do các nhà giáo
dục VN và HK đề nghị.
·
Truyền
thống giáo dục thực tiễn ở HK
HK tách khỏi truyền
thống của Âu Châu trong vấn đề giáo dục. Sau
khi lập quốc, họ hướng về việc
địa phương phân quyền và phát triển truyền
thống thực dụng.
Ư niệm địa phương tự
quản trị đă được đem từ Anh sang.
Nhưng hiến pháp HK không ghi chú vai tṛ của chính
phủ liên bang, và v́ vậy, quyền nầy thuộc
về mỗi tiểu bang. Lịch sử giáo dục HK cho
thấy giáo dục là trách nhiệm của mỗi tiểu
bang, do đó có nhiều khác biệt về tổ chức
giáo dục giữa các tiểu bang.
Nhưng hầu hết các bang lại ủy quyền
quyết định lại cho các học khu qua luật
của từng bang, và bang chỉ giữ lại một
số rất ít quyền hạn.
Nói cách khác, học khu ở địa phương là
đơn vị chính yếu quyết định mọi
vấn đề liên quan đến giáo dục tiểu
học và trung học. Các học khu nầy hoàn toàn
độc lập về hành chánh và tài chánh đối
với các thị xă hay county.
Các trung học tổng hợp của HK là một sự
thể hiện của triết lư giáo dục thực
tiễn. Trung học không
chỉ là chỗ đào tạo ra những sinh viên đại
học, mà c̣n chuẩn bị cho những học sinh có
thể ra đời với một nghề trong tay nếu
học sinh lựa chọn điều đó.
Các đại học được cấp
đất: Phong trào thiết lập những
đại học canh nông và cơ khí, mở đầu cho
việc thực hiện triết lư thực tiễn ở
giáo dục hậu trung học.
Phong trào nầy gắn liền với sự tăng
gia tin tưởng vào khoa học và các thực dụng
của nó. Đạo luật
Morill vào năm 1862 cấp 30,000 mẫu đất liên bang
cho mỗi đại học mở ở cấp tiểu
bang. Các đại học nầy đều mang tính
chất thực tiễn với các môn canh nông, kinh tế gia
đ́nh, thú-y, và khoa học ứng dụng.
Các đại học cộng đồng: Vào đầu thế kỷ
20, phong trào đại học cộng đồng
được phát khởi. Đại học cộng
đồng chỉ dạy những môn của hai năm
đầu của chương tŕnh cử nhân (bachelor) 4
năm. Sinh viên muốn theo đuổi chương tŕnh
cử nhân, th́ lúc vào phải có tốt nghiệp trung
học. Thêm vào các đại
học nầy c̣n giảng dạy hầu hết những
môn thực dụng cho học sinh nào muốn ra
trường với một nghề sau hai năm
học.
Để đáp ứng
với nhu cầu của sự thay đổi trong các
nghề nghiệp, và để giúp cho người lớn
trong cộng đồng có thể trở lại với
giáo dục hậu trung học, các đại học
cộng đồng thâu nhận bất cứ người
nào trên 18 tuổi, muốn học nghề, dù không có tốt
nghiệp trung học. Họ
sẽ được học thêm Anh văn và toán, nếu
cần, để có thể theo đuổi một ngành
chuyên môn mới.
Nói khác đi, đại
học cộng đồng là trung tâm giáo dục ở
địa phương, mà nơi đó dân chúng có thể
theo đuổi học vấn tổng quát, để tiếp
tục học cao hơn, hay học vấn chuyên nghiệp
để có một nghề.
Học phí ở đại học cộng
đồng rất nhẹ. Tóm lại các cơ chế giáo dục
như khu học chánh địa phương, các
trường trung học tổng hợp, các đại
học cộng đồng, và các đại học chuyên
nghiệp là sự thể hiện truyền thống giáo
dục thực tiễn của HK.
·
Ảnh
hưởng của truyền thống thực tiễn trên triết lư “khai phóng” của VN
Trong thập niên 1964-1974, đă có khá nhiều
sinh viên, công chức tốt nhiệp ở HK trở về
phục vụ trong nhiều ngành khác nhau ở VN.
Qua cơ quan USAID (United States Agency for International
Development), nhiều đại học HK gởi các toán chuyên
viên sang giúp các đại học VN.
Một vài thí dụ: Nhóm Florida trong ngành canh nông, nhóm
Missouri lo về kỹ thuật, nhóm Ohio lo về đào
tạo giáo chức cho các trung học tổng hợp và
sự phát triển các trung học nầy, nhóm Illinois lo
về đào tạo giáo chức tiểu học v.v… Với
khuynh hướng cải tổ và với số nhân lực
mới, triết lư khai phóng đă được thi hành.
-Việc dân chủ hóa nền giáo dục nói
chung: Bộ Giáo dục đă đưa
ra chính sách dân chủ hóa giáo dục với chiều
hướng kêu gọi sự
thành lập các hội đồng giáo dục
địa phương.
Bước đầu của chính sách nầy là
sự thành lập Sở Văn Hóa và Giáo Dục ở mỗi tỉnh.
Sở nầy coi luôn trung và tiểu học ( không như
trước kia chỉ có Ty Tiểu Học ở mỗi
tỉnh, trong lúc các trung học vẫn trực thuộc
Bộ). Bên cạnh mỗi
Sở có một Hội Đồng Cố Vấn
để dân chúng địa phương có tiếng nói
trong việc giáo dục con em.
-Việc giáo dục hướng nghiệp qua
các trung học kỹ thuật và trung học tổng hợp.
Hai trung học tổng
hợp đầu tiên có tên là Trung học Kiểu Mẫu,
một ở Huế (1964) và một ở Thủ
Đức (1965). Hai trường
nầy trực thuôïc hai Đại học Sư Phạm
Huế và Saig̣n theo thứ tự trên. Chương tŕnh học phỏng
theo mô h́nh của trung học tổng hợp HK. Ngoài các môn
kiến thức tổng quát, các trường nầy c̣n thêm
các ngành như kỹ thuật, canh nông, và kinh tế gia
đ́nh.
Điều đáng chú ư là khuynh
hướng école unique ở Pháp cũng có ảnh
hưởng nhiều đến việc cải tổ
chương tŕnh trung học. Lư do là những người
giữ vai tṛ quan trọng trong guồng máy giáo dục đa
số vẫn là những người đă được
đào luyện từ giáo dục Pháp.
Việc tổ chức các ban
chuyên khoa ở đệ nhị cấp là một tổng
hợp giữa ảnh hưởng Pháp, Mỹ và tinh
thần “khai phóng” của VN. Đệ nhị cấp ở
các trung học tổng hợp mới có thể lên
đến tám ngành thay v́ chỉ có 4 như các trung học
thường.
-Việc thiết lập các Đại học
Cộng Đồng và Đại học Bách Khoa:
Ư tưởng về giáo
dục cộng đồng đă được giới
thiệu vào VN ngay từ năm 1954, bắt đầu
với một số các trường tiểu học.
Đến đầu năm
1970, ư tưởng đại học cộng đồng
(ĐHCĐ) được giới thiệu ở VN do
một công chức kỳ cựu của Bộ Giáo
Dục. Ông nầy đă
được đào tạo trong hệ thống giáo dục Pháp và đă đi tu
nghiệp ba năm ở HK và trở về VN với
bằng Ph.D. về giáo dục.
Chính luận án của ông về đại học
cộng đồng và vai tṛ của ông trong Bộ Giáo
Dục mà ư tưởng về việc thành lập các
Đại học cộng đồng được bàn
căi sâu rộng, và được chấp thuận.
Năm 1971, Tổng thống
VNCH ban hành nghị định thành lập hệ thống
đại học cộng đồng. Hai ĐHCĐ đầu tiên
ở VN: Tiền Giang (ở Mỹ Tho) và Duyên Hải (Đà
Nẵng) được thành lập cùng năm 1971. Sau đó có nhiều địa
phương khác xin xúc tiến việc mở các đại
học nầy v́ thấy tính cách thực dụng của nó
trong việc đào tạo các chuyên viên trung cấp ở
nhiều ngành cho phù hợp với sự phát triển ở
địa phương.
Ngoài ra, vào năm 1973, VN
cũng thành lập một đại học bách khoa ở
Thủ Đức với nhiều trường chuyên
nghiệp về kỹ thuật, canh nông, công kỹ nghệ
v.v… nằm ngay trong khu đại học nầy. Mục tiêu chánh là để
mở rộng các ngành học thực tiễn cần
thiết cho việc xây dựng đất nước.
Dĩ
văng, hiện tại, và tương lai
·
Dĩ
văng
Triết lư giáo dục hay
đường hướng giáo dục “nhân bản, dân tộc, và khai
phóng” đă ảnh hưởng đến hơn 25
triệu dân ở nam vĩ tuyến 17 trong khoảng
thời gian 1954-1974. Nhóm dân
nầy giờ đây đă ở vào lứa tuổi
35-70 hoặc già hơn. Những cải tổ giáo dục
liên quan đến khai phóng đă có một thời sôi
nổi. Từ 1971-1972 đă có
những toán học sinh tốt nghiệp từ hai trung
học tổng hợp đầu tiên trong nhiều ngành
mới trong kỹ thuật, canh nông, kinh tế gia đ́nh
v.v… Cho tới năm 1974 chưa có khóa sinh nào tốt
nghiệp từ các đại học Cộng đồng,
hay Bách khoa.
Những cải tổ về
giáo dục theo đường hướng “khai phóng”
chưa có một kết quả rơ rệt, đă phải
chấm dứt sau tháng tư, năm 1975. Một thập niên sau năm 1975,
ba chữ “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, không
được ai ở VN nói tới nữa, hay chỉ nói
trong thầm lặng.
·
Hiện
tại
Đại đa số
của số 25 triệu dân nầy c̣n ở lại trong
nước. Họ đă, dù
muốn hay không, phải nhận lănh thêm những (hay
chỉ một) đường hướng giáo dục
mới, thật xa lạ. C̣n một số nhỏ,
độ hơn một triệu (mà hiện nay nếu
kể cả những người đoàn tụ, số
nầy lên khoảng ba triệu người) đă rải
ra rất nhiều quốc gia trên thế giới. Có thể
nói đây chính là những người, trong cái rủi
của sự bỏ nước ra đi, đă và đang
thực sự hưởng được cái may của
những ǵ liên hệ đến ba chữ “nhân bản, dân
tộc và khai phóng”, nhất là số người cư
ngụ tại các nước có một nền dân chủ
trưởng thành như : Pháp, Anh, Đức, Ḥa Lan v.v…
thuộc Âu Châu; Gia Nă Đại,
HK v.v… thuộc Mỹ Châu; Tân Tây Lan, Úc, thuộc Úc Châu và Nam
Hàn, Nhật, thuộc Á Châu.
·
Tương
lai
Hy vọng rằng một ngày
nào đó, toàn thể dân Việt được sống
trong đường hướng giáo dục đó.
Ước vọng nhỏ bé hơn, là trong mỗi gia đ́nh của
chúng ta, những người Việt hải ngoại, dù
ở quốc gia nào, cũng
dùng ba đường hướng “nhân bản, dân
tộc và khai phóng” theo nghĩa rộng hơn những ǵ
của dĩ văng, để làm triết lư giáo dục riêng
cho từng gia đ́nh, thích ứng với hoàn cảnh
của quốc gia mới mà gia đ́nh đă nhận làm
tổ quốc mới. Và dù là thuộc về tổ
quốc mới nào đi nữa th́ nguồn gốc của
chúng ta vẫn là dân tộc VN, một sự kiện sẽ
vẫn đứng vững măi với thời gian.
Theo đường
hướng “khai phóng”, để theo kịp ư niệm toàn
cầu hóa, để tiến bộ; theo đường hướng
“nhân bản” để biết sống trong t́nh
người, không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn
giáo, hay biên giới quốc gia v.v…;
và theo đường hướng dân tộc
để măi măi nhớ đến nguồn gốc của
hai tiếng Việt Nam thân yêu.
Tài liệu tham khảo
Bougle, C.C. Alfred. (1938). The French conception of “culture
generale” and its influence upon instruction. Columbia University, New York.
Kim Định. (1970). Hiến chương giáo dục.
An Tiêm, Saig̣n, Việt Nam.
Lin, Yutang. (1943). The wisdom of Confucius. Random House, New York.
Nguyen, Phuoc H. (1974). Contemporary
educationalphilosophies in VietNam, Unpublished doctoral thesis, University of
Southern California (USC), Los Angeles, California.
Trần, Kim T. (?) . Nho giáo. Tân Việt, Saigon, Việt Nam