Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam (1954-1974)

DÂN TỘC, NHÂN BẢN, KHAI PHÓNG

TS Nguyễn Hữu Phước

 

Bài nầy chỉ viết sơ lược về đường hướng giáo dục ở Việt Nam (VN) trong khoảng thời gian 1954-1974 (1974 là năm mà những tài liệu liên quan được gom góp lại và tŕnh bày dưới đề tài triết lư giáo dục). Những sự kiện nào xảy ra trước 1954 được áp dụng cho toàn cơi VN.  Những ǵ xảy ra trong khoảng 1954-1974, chỉ áp dụng cho Miền Nam Việt Nam dưới vĩ tuyến 17, hay Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) mà thôi.        

Lịch sử phát triển giáo dục ở VN

Căn bản của sự phát triển hệ thống giáo dục VN trong thời gian 1954-1974 có thể xem như bắt nguồn từ sự phổ biến quyển Luật lệ về Giáo Dục của Albert Sarraut, toàn quyền Liên Bang Đông Dương, vào năm 1917.  Trước khi người Pháp ban hành một chính sách giáo dục ở VN, trong một thời gian nhiều thế kỷ,  VN đă rập khuôn theo hệ thống giáo dục Khổng giáo.  Mặc dù Liên Bang Đông Dương được thành h́nh từ 1887, măi đến 1917 người Pháp mới thành công trong việc thành lập một chính phủ ổn định cho Liên Bang và quyết định thay thế nền giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục Pháp.  Đây chỉ là sự áp đặït nền giáo dục Pháp vào xă hội VN (và Đông Dương nói chung). 

Pháp đă dùng giáo dục như là một dụng cụ phổ biến văn hóa Pháp đến các thuộc địa.  Pháp ngữ đă được dùng làm chuyển ngữ chính thức ở các học đường và trong các cơ quan công quyền.  Trừ những năm đầu của bậc tiểu học, quốc ngữ (Việt ngữ) chỉ giữ một vai tṛ nhỏ trong chương tŕnh học như là một ngoại ngữ.  T́nh trạng nầy kéo dài cho đến năm 1945, khi chánh phủ Trần Trọng Kim được thành lập. 

Thủ Tướng Trần Trọng Kim cho xúc tiến và thay đổi trong giáo dục và cho bắt đầu một chương tŕnh giáo dục VN.  Chương tŕnh mới nầy có tên  “chương tŕnh Hoàng Xuân Hản.”  Trên thực tế, chương tŕnh nầy là bản dịch của chương tŕnh đă dùng dưới thời Pháp thuộc. Việt ngữ, Khoa học và Toán học được chú trọng.  Trung và Bắc Phần VN bắt đầu dùng Việt ngữ trong việc giảng dạy ở bậc Trung học.  Tuy nhiên, thực sự chưa có ǵ thay đổi một cách sâu rộng, v́ hệ thống trường học và chương tŕnh vẫn rập khuôn theo chương tŕnh Pháp.

Sau 1945, tinh thần độc lập và tinh thần quốc gia càng ngày càng sáng tỏ hơn.  Chính điều nầy là chất xúc tác cho việc phát triển của hệ thống giáo dục địa phương. Từ năm 1951, ở Nam Phần VN tất cả các môn học ở bậc trung học đều được giảng dạy bằng Việt ngữ.  Và cứ mỗi năm sau đó, Việt ngữ được dùng ở lớp kế tiếp cho đến khi tất cả các lớp ở bậc  Trung học đều dùng Việt ngữ.

Trước khi có một nền giáo dục dạy bằng tiếng Việt cho Tiểu học và Trung học, VN đă nhận hai truyền thống giáo dục:  truyền thống “Khổûng giáo” hay “Nho giáo” của Trung Hoa và  truyền thống “cổ điển” của Pháp.

Sau đó VN nhận thêm truyền thống giáo dục “thực tiễn” của Hoa Kỳ (HK).

Nhân bản, dân tộc, và khai phóng

Một số ư kiến về cải tổ giáo dục trước năm 1954

Ngay trong thời Pháp thuộc, một số nhân sĩ  VN đă tỏ bày với các vua nhà Nguyễn về những ư tưởng liên quan đến việc hiện đại hóa giáo dục ở VN. Các ông Đinh văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định, Nguyễn Trường Tộ là những người tiên phong.  Những vị trong phong trào Đông du cũng đă phổ biến những ư tưởng về cải tổ giáo dục.  Từ năm 1941, đă có những b́nh luận về các khuyết điểm của giáo dục VN.  Có người đă chỉ rơ rằng cải tổ là một điều phải làm. 

Đại ư của khuynh hướng mới nầy là làm sao có một nền giáo dục mới thích hợp với nhu cầu của xă hội tương lai.  Mẫu người Việt lư tưởng được nêu ra với những đặc điểm sau:  một cơ thể mạnh khỏe,  hoạt động,  tự tin, có óc khoa học, và thực tiễn, và có một tinh thần quốc gia.  Ngay từ năm 1948, Hội thảo giáo dục toàn quốc có nhấn mạnh đặc điểm kiến tạo tuổi trẻ như là một điều cần thiết cho sự sinh tồn của quốc gia.

Ư tưởng  về cải tổ giáo dục sau năm 1954

Năm 1954, Pháp kư hiệp đinh Geneva, giao miền bắc vĩ tuyến 17 cho cộng sản VN, và miền Nam vĩ tuyến nầy cho một chánh phủ thuộc khối tự do. Xin nhắc lại, tất cả những sự kiện lịch sử hay giáo dục trong khoảng 1954-1974 chỉ liên quan đến Việt Nam Cộng Ḥa hay Nam VN mà thôi.  Năm 1955 quân đội Pháp hoàn toàn rút khỏi Nam VN và đệ nhất Cộng Ḥa được thành lập. Trong khung cảnh chính trị đó, trong những năm đầu của nền Cộng Ḥa, giáo dục chỉ là một sự nối tiếp  của những ǵ đă có. Với không khí mới của một nền Cộng Ḥa, nhiều ư tưởng giáo dục mới được bàn căi rất nhiều.  Nhưng thực sự những người có trách nhiệm về giáo dục c̣n lúng túng, và đang t́m một hướng đi cho giáo dục VN lúc đó.

Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng, một triết lư giáo dục mới

Cuộc “Hội thảo Giáo dục Toàn Quốc” (lần thứ nhất) được tổ chức năm 1958.  Hội thảo đă chú ư tới và đem đến cho giáo dục VN một cái nh́n mới liên quan đến triết lư giáo dục bằng cách đề nghị ba nguyên tắc hướng dẫn cho một nước Cộng Ḥa VN trong khuynh hướng dân chủ.  Ba nguyên tắc (hay đường hướng, triết lư) đó là: “Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng.”

·         Giáo dục VN là một nền giáo dục “nhân bản”:

Giáo dục phải tôn trọng những giá trị thiêng liêng của con người, coi con người là một cứu cánh, và chú trọng vào sự phát triển toàn diện của con người.

·         Giáo dục VN phải là một nền giáo dục “dân tộc.”

Giáo dục phải tôn trọng những giá trị quốc gia và phù hợp với hoàn cảnh thiên nhiên của con người (gia đ́nh, nghề nghiệp, quốc gia) và bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân tộc.

·         Giáo dục VN phải là một nền giáo dục khai phóng:

Giáo dục phải dùng phương pháp khoa học như là một yếu tố của tiến bộ, phát triển thái độ xă hội và dân chủ, và kính trọng giá trị văn hóa chân chính của mọi quốc gia trên thế giới.

Ba đường hướng triết lư giáo dục  trên được coi như là căn bản triết lư cho mọi thay đổi về chương tŕnh hay tổ chức học đường cho những năm tiếp theo. 

Đường hướng “dân tộc” là một ước nguyện tối cao của dân VN trong thời điểm lịch sử đó và sẽ đứng vững măi trong ḷng dân tộc VN.   

Đường hướng “nhân bản” rất cao quư, có tính cách phổ quát và có thể áp dụng cho bất cứ dân tộc nào trên thế giới.   Trong thực tế, từ nhân bản đă có nguồn gốc từ truyền thống “giáo dục tổng quát” hay “kiến thức tổng quát” (culture générale tradition) ở Pháp.  Alfred Bouglé đă diễn tả truyền thống nầy như sau:  “Truyền thống nầy gồm có ba đặc điểm: có tính cách nhân bản (humanism), có liên hệ đến việc giảng dạy xă hội học, và có liên hệ đến việc giảng dạy triết học.”  Theo ông Bouglé, nhân bản là sự bổ túc và hỗ trợ cần thiết cho lư thuyết cá nhân (individualism). 

Tuy nhiên “nhân bản và dân tộc” đều có tính cách trừu tượng, nên khó thể hiện qua một chương tŕnh học thực cụ thể, rơ ràng.  Môn Công dân giáo dục và môn Sử được dùng trực tiếp trong việc thể hiện hai đường hướng trên.  Ngoài ra, sự thể hiện đă rải rác trong các buổi tu nghiệp giáo chức, những bài diễn văn trong các buổi lễ khai trường, hay các buổi phát phần thưởng cho những học sinh ưu tú. 

Chỉ có đường hướng “khai phóng” là nổi bật trong những công cuộc cải tổ chương tŕnh học, và việc thay đổi tổ chức các học đường để tiến theo trào lưu mới trên thế giới.  

Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc thứ hai năm 1964

Mặc dầu có biến cố chính trị đưa đến sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa vào năm 1963, và các khủng hoảng chính trị trong những năm tiếp theo,  Bộ Quốc Gia Giáo Dục (sau nầy có tên Bộ Văn Hóa và Giáo Dục) vẫn tiếp tục nhiệm vụ thường xuyên trong việc tổ chức các kỳ thi trên toàn quốc ở Nam VN, và vẫn tiến hành các việc đă dự định. 

Năm 1964, một cuộc “Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc” thứ hai được tổ chức với hai đề tài đặc biệt. 

Đề tài đầu tiên là sự tổ chức lại hệ thống học đường với dự án nhấn mạnh sự học hành liên tục từ lớp 1 đến lớp 12.  Tuy rằng cuộc hội thảo không hề nhắc đến một phong trào giáo dục mới ở Pháp có tên là phong trào “học đường độc đáo” (l’école unique) trong thời gian trước và cả sau thế chiến thứ 2 (1939-1945) mà dự án  Hội Thảo 1964 đă phỏng theo. Bên Pháp, ư tưởng về l’école unique, với trọng tâm đặt vào sự khác biệt cá nhân của mỗi học sinh, cũng gây tranh luận sôi nổi một thời gian gần hai thập niên, mới được đem ra áp dụng. 

Đề tài thứ hai là sự xác nhận lại ba đường hướng căn bản: “Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng”, đă được thảo luận và chấp nhận trong cuộc hội thảo sáu năm về trước.

Dầu có nhiều cố gắng cải tổ, giáo dục VN cho đến thời điểm 1964-1965 vẫn c̣n chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo dục Pháp. Tuy nhiên, với đường hướng triết lư “khai phóng”, chúng ta thấy có một luồng gió mới trong giáo dục.

Tóm lại,  trong ba đường hướng chính của triết lư giáo dục VN trong thời gian 1954-1974 , khuynh hướng khai phóng được thể hiện một cách rơ rệt nhất. VN muốn tiến theo đà tiến bộ vềâ kỹ thuật, và sự mở rộng về hợp tác của thế giới, nên đă thực thi đường hướng phát triển khai phóng.

Ba truyền thống

Truyền thống giáo dục Nho giáo

Có thể nói trong 10 thế kỷ trước khoảng thời gian 54-74, cuộc sống ở VN mang tính chất Khổng giáo hay c̣n gọi là Nho giáo.  Mặc dầu vài thế kỷ sau cùng VN có nhiều tiếp xúc với văn minh tây phương, nhưng ảnh hưởng của Nho giáo trên các liên hệ xă hội và tổ chức xă hội vẫn c̣n rất nhiều.

·         Nguồn gốc

Nho giáo, có nguồn gốc ở Trung Hoa (TH) có thể coi như một hệ thống đạo đức học, một triết học, hay một tôn giáo.  Những điều giảng dạy của Khổng Tử đều đặït căn bản trên nguyên tắc đạo đức và sự liên hệ giữa con người với nhau.  Khổng Tử ít chú trọng vào những lư luận liên hệ đến siêu h́nh học.  Ông nghĩ rằng chỉ trừ những bậc thiên tài, người thường không thể và không cần hiểu những vấn đề siêu h́nh.  Ông không coi ḿnh là người sáng lập ra một tôn giáo và cũng không giảng dạy về tôn giáo.  Chính các môn đệ của ông và những học giả nho gia đă phổ biến triết lư của ông qua những tác phẩm của họ.   Những quyển sách liên hệ đến Nho giáo và các ư tưởng của Khổng Tử gồm có Ngũ Kinh ( Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, và Kinh Xuân Thu), và Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, và Luận Ngữ). 

·         Những nguyên tắc căn bản của Nho giáo

Theo ông Lin Yutang, (Lâm Ngữ Đường)  nhận định triết lư cao đẹp nhất của Khổng Tử là sự đo lường con người bằng con người.  Khổng Tử chú trọng nhiều vào sự liên hệ giữa con người.  Ông coi sự rèn luyện về đạo đức là sự quan trọng nhất cho trật tự thế giới.  Việc tự rèn luyện về đạo đức giúp điều hành đời sống gia đ́nh và do đó đưa đến trật tự quốc gia.  Để đạt được những liên hệ tốt đẹp, con người cần phải hoàn tất năm nhiệm vụ căn bản.  Đó là nhiệm vụ giữa kẻ cầm quyền và người dân;  giữa cha con, giữa vợ chồng;  giữa anh (chị) em;  và giữa bạn bè với nhau. 

Có năm nguyên tắc căn bản về đức hạnh mà con người phải theo để tự giáo dục và để có những liên hệ hỗ tương tốt đẹp.  Đó là: nhân & nghĩa, hay t́nh thương và t́nh nhân loại được thể hiện bằng hành động;   lễ,  hay là việc áp dụng các nghi thức; trí : sự tự học và tự rèn luyện;   và tín: tạo sự tin cậy, giữ được sự tin cậy. 

Khi các môn đệ hỏi ông về chữ nhân, câu trả lời của Khổng Tử đă thay đổi tùy theo tŕnh độ học thức của từng đồ đệ.  Nhân có thể giải thích là tử tế, hiền ḥa, có t́nh nhân loại.   Nhân cũng có thể hiểu là luật trời, hay luật thiên nhiên.  Nói chung, nhân có nghĩa là t́nh thương.  Lễ bên trên áp dụng cho cá nhân.

Nho giáo c̣n giải thích xa hơn về quan niệm lễ và nhạc.  Lễ, quan niệm rộng, là một trật tự xă hội hợp lư với những thái độ xă hội rơ ràng giữa những cá nhân.  Lễ có thể coi như sự kính trọng lẫn nhau.  Nó c̣n có nghĩa cao hơn: đó là tinh thần tôn trọng kỷ luật của hành vi của mỗi người.  Lễ đă được bàn nhiều trong sách Lễ Kinh và trong quyển Luận Ngữ. Ư niệm về  “nhạc” tăng thêm phần quan trọng của “lễ”, v́ nhạc là sự ḥa điệu của thiên nhiên.  Lễ và nhạc đem lại sự điều ḥa trong cuộc sống v́ chúng ảnh hưởng đến t́nh cảm con người.

Trong Nho giáo, nguyên tắc “lễ nhạc” được áp dụng vào cả chính trị.  Nhà cầm quyền theo nho giáo, phải cố gắng đặït để mọi vật, mọi việc đúng vào trật tự của chúng.  Và do đó sẽ có một xă hội hợp lư trong đó con người có thể sống ḥa hợp với nhau.

·         Nho giáo và giáo dục:

Giáo dục là một phần rất quan trọng trong những điều giảng dạy của Khổng Tử, nhứt là sự  tự giáo dục để đạt đến t́nh trạng ḥa điệu cá nhân, một sự cần thiết cho việc đạt thành sự ḥa điệu trong chiùnh trị.  Một trật tự xă hội hợp lư sẽ được thể hiện cho toàn quốc khi đă có một sự ḥa điệu về chính trị.  Giáo dục, v́ vậy, có địa vị cao nhất trong xă hội và là điều cần thiết cho mọi người. 

Khổng Tử đă tŕnh bày một phương thức dạy và học mà trong ấy “hướng dẫn” giữ vai tṛ quan trọng.  Theo ông, tự giáo dục chính ḿnh là cách duy nhất để trở nên người “quân tử”, và giáo dục là cách duy nhất để người quân tử văn minh hóa dân chúng.  Phải có thực tâm chú trọng đến giáo dục, v́ không có giáo dục th́ con người không thể trở nên khôn ngoan và không hiểu được luật luân lư. 

·         Ảnh hưởng tổng quát giáo dục của Nho giáo

Từ thế kỷ đầu trước Giáng sinh đến thế kỷ 20 sau Giáng sinh, những điều giảng dạy của Khổng Tử đă có ảnh hưởng sâu đậm vào văn hóa TH.  Vào thế kỷ thứ 2 sau Thiên Chúa, các kinh sách của ông đă được tuyên bố là sách giáo lư của TH và được dùng làm sách giáo khoa cho học sinh.  Các sách nầy, về sau cũng được dùng ở Đại Hàn, Nhật, và VN.  Ở TH, hệ thống thi tuyển công chức là một truyền thống của nho giáo, trong đó Ngũ Kinh và Tứ Thư vẫn là sách giáo khoa chính.  Ngay cả đời Đường và Tống vào thế kỷ 12 và 13, khi Phật giáo có nhiều ảnh hưởng hơn Khổng giáo trong triều đ́nh, các vị quan lại ở triều cùng các vị thống đốc ở tỉnh và một số quan chức khác ở các địa phương vẫn được tuyển chọn bằng các kỳ thi theo Khổng giáo. 

Những điều giảng dạy của Khổng Tử đă đứng vững không thử thách cho đến đầu thế kỷ 20 và là một phần không thể tách rời ra khỏi xă hội TH, Đại Hàn, Nhật, và VN cho đến thời cận, và hiện đại.  Một cá nhân có thể cho ḿnh là người theo Đạo giáo, Phật giáo, hay Công giáo, nhưng đồng thời người đó vẫn là một người của Nho giáo trong cuộc sống hàng ngày.

·         Ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo ở VN

Từ thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ thứ 20, VN đă ở dưới ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo.  Lịch sử văn minh VN cho chúng ta thấy VN có những đặc điểm văn hóa có tính chất thuần túy VN.  Tuy nhiên, VN trong thời gian vừa nói đă có một nền giáo dục rập khuôn theo giáo dục Nho giáo. Có ba điểm chánh trong ảnh hưởng giáo dục nho giáo ở VN.

-Việc dùng chữ Hán, giọng Hán Việt, và việc giảng dạy luân lư:

Chúng ta đă mượn chữ TH (chữ Hán) để làm chữ viết và đọc theo cách riêng của VN gọi là giọng Hán Việt (HV).  Chỉ có những người VN có học chữ Hán mới biết đọc chữ Hán, giọng HV, và mới hiểu những chữ nầy. 

Trong suốt thời gian dài từ đầu thế kỷ thứ nhất cho đến cuối thế kỷ 19, chỉ có một thiểu số biết chữ Hán hay c̣n gọi là chữ nho. 

Sau nầy khi quốc ngữ trở thành phổ thông, việc dùng những chữ HV (viết bằng quốc ngữ) cũng bành trướng theo.  Hiện tại, có  khoảng 60 phần trăm những chữ trong ngôn ngữ VN là chữ HV hoặc biến thể từ tiếng HV. 

Trong học đường, môn luân lư ở cấp Tiểu học,  hay  công dân giáo dục ở cấp Trung học là một môn học bắt buộc.  Những bổn phận của con người như  bổn phận đối với thầy, với cha mẹ, với bạn bè và với tha nhân được giảng dạy trong nhiều năm.  Đây là những điều căn bản trong thang giá trị của Nho giáo.

-Kỳ thi tuyển chọn nhân tài làm công chức: 

Kỳ thi tuyển chọn nhân tài theo Nho giáo bắt đầu ở VN vào thế kỷ 11, năm 1075, đời nhà Lư.  Kỳ thi nầy được cải tổ dưới đời nhà Trần (1225-1400). Các kỳ thi nầy có những thay đổi trong các triều đại kế tiếp nhưng không ngoài khuôn khổ của Nho giáo.  Những người thi đậu đă giữ những vai tṛ quan trọng trong xă hội và những chức vụ cao cấp trong guồng máy hành chánh công quyền. Dưới đời Trần, Phật giáo cũng phát triển mạnh. Nhiều học giả Phật giáo đă nắm vai tṛ cố vấn cho các vua. Tuy nhiên, trong giáo dục, Nho giáo vẫn giữ vai tṛ chánh yếu.

-Sự liên hệ giữa thầy tṛ và giữa con cái với gia đ́nh:

Trong nấc thang giá trị của giáo dục Nho giáo, người thầy có một địa vị cao quí.  Ngay cả ông vua cũng  kính trọng vị thầy của ḿnh. Trong xă hội, về phương diện tinh thần, sự kính trọng thầy c̣n cao hơn người cha trong gia đ́nh:

Muốn khôn th́ phải có thầy,

Không thầy dạy dỗ đố mầy làm nên.

Trong tiếng nói của VN, sự kính trọng thầy được diễn tả qua cách xưng hô.  Người nghe có thể nhận định ngay vai tṛ và thứ bực xă hội trong cách xưng hô.  Sự kính trọng thầy vẫn là một truyền thống tốt đẹp, và lẽ dĩ nhiên là cách dạy và cách học phải thay đổi cho kịp với sự tiến bộ và những tiêu chuẩn chung ở xứ mới.

-Đặt trọng tâm của xă hội vào đại gia đ́nh.

Theo truyền thống nầy, đại gia đ́nh quyết định nhiều khía cạnh của sự phát triển của những cá nhân trong gia đ́nh ấy.

Về ưu điểm, trong một hệ thống xă hội xưa không có bảo đảm hay bảo kê về tài chánh, đại gia đ́nh là nguồn giúp đỡ hữu hiệu nhất cho tương lai của những người trong gia đ́nh. Sức mạnh của gia đ́nh về cả vật chất lẫn tinh thần đều giúp đỡ cho sự thành công của cá nhân. 

Nhưng cũng có những khuyết điểm như sự phát triển của cá nhân bị hy sinh cho ư muốn của gia đ́nh. Cho tới ngày nay, vẫn c̣n nhiều trường hợp con cái đă học những ngành chuyên môn theo ư muốn hay ư thích của cha mẹ hơn là học ngành ḿnh thích.  Một số sự đổ vỡ giữa con cái và cha mẹ do đấy mà ra.

 

Truyền thống cổ điển của Pháp

Truyền thống cổ điển về triết lư văn hóa giáo dục của Pháp đă có trước thời kỳ cách mạng dân chủ.  Đó là triết lư về một nền văn hóa quốc gia hợp nhất, không chia cắt.  Trong quyển “Tham luận về giáo dục”, Charlotais, vào thế kỷ 18, đă đưa ra một đường hướng và động lực đầu tiên cho nền giáo dục quốc gia Pháp.  Ông đề nghị rằng hệ thống giáo dục phải do dân chúng kiểm soát và phải là mối quan tâm của quốc gia.  Ông nhấn mạnh ở điểm là những thường nhân, chớ không phải là những người của các tôn giáo, phải có tiếng nói trong giáo dục.  

Hiến pháp 1791 của Pháp qui định rơ vai tṛ của quốc gia trong giáo dục. Hiến pháp đó ghi rơ là quốc gia bảo đảm cho mọi đứa trẻ và người lớn có cơ hội đồng đều được nhận lănh giáo dục, được đào tạo chuyên nghiệp và văn hóa.  Tổ chức giáo dục công lập không có tính cách tôn giáo, và là giáo dục miễn phí cho mọi cấp bậc, cũng là bổn phận của quốc gia. 

Qua nghị định 1806 và 1808,  Hoàng đế Napoléon đă đặt giáo dục là một phương tiện của quốc gia với một tổ chức rất phức tạp có nhiều cấp bực.  Tổ chức đó cho đến 1968 vẫn c̣n kiểm soát hữu hiệu nền giáo dục Pháp quốc. 

Đó là một tổ chức trung ương tập quyền mà trên hết là vị Bộ Trưởng giáo dục.  Bộ nầy kiểm soát mọi hoạt động giáo dục từ mẫu giáo cho đến đại học kể cả công lẫn tư, từ chương tŕnh cho đến việc đào tạo giáo chức, và việc tổ chức các kỳ thi trên toàn quốc.

Sự kiểm soát nầy được thực hiện qua các giáo chức do bộ tuyển chọn.  Giáo dục tư lập tuy được hưởng một mức độ độc lập về một vài khía cạnh, nhưng vẫn thuộc dưới quyền kiểm soát gián tiếp của Bộ giáo dục. Sự kiểm soát nầy không nhắm vào chương tŕnh học, mà là để bảo đảm rằng những điều giảng dạy không trái với luật pháp quốc gia, và để bảo đảm rằng trường ốc có đủ an ninh và vệ sinh.  Thêm vào đó, các học sinh tư thục cũng phải trải qua những kỳ thi toàn quốc.

·         Những kỳ thi toàn quốc

Các kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp (THĐNC) và Đệ nhị cấp (Túù Tài) là truyền thống của nền giáo dục tập trung đó.   Những kỳ thi nầy bắt nguồn từ thế kỷ thứ 13, khi Viện đại học Sorbonne đưa ra quyết nghị để định xem coi học sinh Trung học có đủ khả năng để tiếp tục việc học ở đại học không.

Trước năm 1965, Pháp có hai kỳ thi tú tài: Tú tài 1 và Tú tài 2. Sau năm 1965, Pháp chỉ c̣n giữ lại kỳ thi Tú tài 2.  Bằng Tú tài 2 là ch́a khóa cửa vào đại học.  Cũng từ năm nầy, Bộ Giáo Dục Pháp chuyển quyền thi cử cho các Khu học chánh địa phương, và chỉ giữ quyền kiểm soát thôi.

Cho măi tới năm 1974, lúc tài liệu được tham khảo cho vấn đề giáo dục VN (1954-1974),  bằng Tú tài 2 vẫn c̣n là chiếc ch́a khóa mầu nhiệm mở cửa vào các đại học ở Pháp.  Bằng nầy không những ảnh hưởng đến tương lai học sinh mà lẽ dĩ nhiên là mối quan tâm của cha mẹ. Thời gian chuẩn bị thi là một thời gian căng thẳng trong gia đ́nh và nó là mối quan tâm của toàn quốc. 

·         Kiến thức tổng quát

Quan niệm về “kiến thức tổng quát” (culture générale) là một quan niệm độc đáo trong triết lư giáo dục của Pháp. Dân Pháp chấp nhận rằng, tâm trí của dân chúng phải được huấn luyện để suy nghĩ hợp lư, và đạt được những kiến thức tổng quát.

Một cách rơ ràng hơn, kiến thức nầy gồm triết lư, văn chương, khoa học lư thuyết, sử, và nghệ thuật.  Nó bao gồm sự đào tạo một con người với khối óc, một sự đào tạo quan trọng nhất của con người. Ba năm cuối của bậc Trung học nhấn mạnh các môn học nầy. Chúng được coi là quan trọng v́ chúng góp phần vào kiến thức, giúp phát triển sự phán đoán của những nhà lănh đạo tương lai.

Sau thế chiến thứ hai, vào giữa thập niên 1940, sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật được thêm vào phần kiến thức tổng quát. Sự bành trướng của môn nầy cũng gặp nhiều thử thách v́ nhóm cổ điển không coi trọng kỹ thuật, trong lúc nhóm các nhà giáo dục cấp tiến coi quan niệm giáo dục tổng quát là hẹp ḥi, làm cản bước tiến của khoa học thực dụng. 

Sau năm 1958 học sinh có thể chọn một trong hai thứ tiếng Hy Lạp hay La Tinh.  Khoa học áp dụng và giáo dục kỹ thuật càng ngày càng bành trướng hơn.  Nhưng việc giảng dạy triết lư ở lớp 12 vẫn giữ vững địa vị.  Môn triết lư ở trung học là một điểm độc đáo của giáo dục Pháp.  Triết lư được coi là một dụng cụ quan trọng trong việc đào tạo trí tuệ và đào tạo những học giả. Ngay cả cho đến năm 1974, mặc dầu chương tŕnh trung học đệ nhị cấp đă chia ra nhiều ban, nhưng triết lư (gồm tâm lư học, luận lư học, đạo đức học và siêu h́nh học) vẫn là môn bắt buộc ở tất cả các ban học.

·         Truyền thống Pháp trong giáo dục VN

Pháp  đă để lại cho VN một tổ chức giáo dục y như của Pháp quốc.

Bộ Giáo Dục theo công thức trung ương tập quyền, có bổn phận và trách nhiệm trong mọi cấp học vấn.  Bộ ban hành một  chương tŕnh học thuần nhất cho toàn quốc ở cấp tiểu và trung học. Các đại học tuy được một phần tự trị trong chương tŕnh học nhưng vẫn ở đưới sự kiểm soát của Bộ Giáo dục, nhất là phần ngân sách.

Kiến thức tổng quát vẫn được đề cao trong chương tŕnh trung học.  Triết lư vẫn là môn học chánh cho tất cả các ban ở trung học đệ nhị cấp. Chương tŕnh nhắm vào việc đào tạo những sinh viên đại học có một “kiến thức tổâng quát” theo truyền thống Pháp, sẽ trở thành những công chức có khả năng phục vụ cho guồng máy hành chánh công quyền.

Các kỳ thi toàn quốc vẫn được duy tŕ: Việc thi cử nầy đă gạn lọc học sinh quá nhiều.  Sĩ số  tốt  nghiệp trung học so với sĩ số  thi vào lớp đầu của trung học quá nhỏ.  Do đó đưa đến tệ trạng coi trọng văn bằng hơn là sự học hỏi thực tiễn với kiến thức thực dụng. Giáo dục tiếp tục đào tạo ra nhiều sinh viên ngành nhân văn nói chung. Các đại học về nhân văn như Văn khoa, Luật khoa th́ dư sinh viên và thiếu pḥng ốc, trong lúc quốc gia laiï cần nhiều chuyên viên các ngành công nghệ, kỹ thuật, canh nông, kiến trúc v.v…

Vào năm 1954 và 1955, khi Pháp trao trả độc lập lại cho chính phủ Hồ Chí Minh (ở bắc vĩ tuyến 17), và cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm (ở nam vĩ tuyến 17), VN  nằm trong thực trạng của sự thừa hưởng truyền thống giáo dục cổ điển của Pháp. 

Tuy xă hội VN có chịu ảnh hưởng của hơn 80 năm đô hộ của Pháp, vẫn là một xă hội có căn bản Nho giáo v́ nền giáo dục Nho giáo chỉ thật sự ra đi hoàn toàn vào đầu thập niên thứ ba của thế kỷ 20. 

 

Truyền thống giáo dục thực tiễn của Hoa Kỳ

Ảnh hưởng của nền giáo dục “thực tiễn” (pragmatism) của Hoa Hỳ đă bắt đầu phát triển để trở thành một truyền thống thứ ba sau truyền thống  “Nho giáo” và “cổ điển Pháp”.

Điều cần nói đến trong các thập niên 1954-1974 là các hoạt động giáo dục của HK ở VN.  Ngay từ năm 1954, một nhóm giáo chức thuộc đại học Michigan đă đến VN với nhiệm vụ giúp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VN.  Thật ra nhóm nầy nhắm vào giáo dục chính trị nhiều hơn là giáo dục thuần túy. Họ có mục tiêu giúp VNCH cải tổ guồng máy hành chánh.  Khi  sang, họ đă có trong tay một bản phúc tŕnh khá đầy đủ về hệ thống giáo dục ở VN do ông  Lavergne và ông Sassani viết (Education in VietNam. Washington D.C.: U.S. Department of Health, Education & Welfare, 1954) . 

Nhiều sinh viên VN được gởi đi du học ở HK và các quốc gia khác như  Australia, New Zealand, Germany, Japan.  Họ đă đi du học bằng học bổng, hoặc tự túc.  Phần lớn đă học các ngành kỹ thuật, thương mại, canh nông v.v… là những ngành thực tiễn. 

Bộ Giáo dục và các Bộ khác cũng gởi công chức của nhiều ngành khác nhau đi tu nghiệp, hoặc ngắn hạn, hoặc dài hạn (có học lấy thêm cấp bằng). Nơi có nhiều sinh viên và công chức du học nhất là HK.  Do đó trong thập niên 64-74 có nhiều dự án cải tiến giáo dục do các nhà giáo dục VN và HK đề nghị.

·         Truyền thống giáo dục thực tiễn ở HK

HK tách khỏi truyền thống của Âu Châu trong vấn đề giáo dục. Sau khi lập quốc, họ hướng về việc địa phương phân quyền và phát triển truyền thống thực dụng.

Ư niệm địa phương tự quản trị đă được đem từ Anh sang.  Nhưng hiến pháp HK không ghi chú vai tṛ của chính phủ liên bang, và v́ vậy, quyền nầy thuộc về mỗi tiểu bang. Lịch sử giáo dục HK cho thấy giáo dục là trách nhiệm của mỗi tiểu bang, do đó có nhiều khác biệt về tổ chức giáo dục giữa các tiểu bang.  Nhưng hầu hết các bang lại ủy quyền quyết định lại cho các học khu qua luật của từng bang, và bang chỉ giữ lại một số rất ít quyền hạn.  Nói cách khác, học khu ở địa phương là đơn vị chính yếu quyết định mọi vấn đề liên quan đến giáo dục tiểu học và trung học. Các học khu nầy hoàn toàn độc lập về hành chánh và tài chánh đối với các thị xă hay county.

Các trung học tổng hợp của HK là một sự thể hiện của triết lư giáo dục thực tiễn.  Trung học không chỉ là chỗ đào tạo ra những sinh viên đại học, mà c̣n chuẩn bị cho những học sinh có thể ra đời với một nghề trong tay nếu học sinh lựa chọn điều đó.

Các đại học được cấp đất:  Phong trào thiết lập những đại học canh nông và cơ khí, mở đầu cho việc thực hiện triết lư thực tiễn ở giáo dục hậu trung học.  Phong trào nầy gắn liền với sự tăng gia tin tưởng vào khoa học và các thực dụng của nó.  Đạo luật Morill vào năm 1862 cấp 30,000 mẫu đất liên bang cho mỗi đại học mở ở cấp tiểu bang. Các đại học nầy đều mang tính chất thực tiễn với các môn canh nông, kinh tế gia đ́nh, thú-y, và khoa học ứng dụng. 

Các đại học cộng đồng: Vào đầu thế kỷ 20, phong trào đại học cộng đồng được phát khởi. Đại học cộng đồng chỉ dạy những môn của hai năm đầu của chương tŕnh cử nhân (bachelor) 4 năm. Sinh viên muốn theo đuổi chương tŕnh cử nhân, th́ lúc vào phải có tốt nghiệp trung học.  Thêm vào các đại học nầy c̣n giảng dạy hầu hết những môn thực dụng cho học sinh nào muốn ra trường với một nghề sau hai năm học. 

Để đáp ứng với nhu cầu của sự thay đổi trong các nghề nghiệp, và để giúp cho người lớn trong cộng đồng có thể trở lại với giáo dục hậu trung học, các đại học cộng đồng thâu nhận bất cứ người nào trên 18 tuổi, muốn học nghề, dù không có tốt nghiệp trung học.  Họ sẽ được học thêm Anh văn và toán, nếu cần, để có thể theo đuổi một ngành chuyên môn mới.

Nói khác đi, đại học cộng đồng là trung tâm giáo dục ở địa phương, mà nơi đó dân chúng có thể theo đuổi học vấn tổng quát, để tiếp tục học cao hơn, hay học vấn chuyên nghiệp để có một nghề.  Học phí ở đại học cộng đồng rất nhẹ. Tóm lại các cơ chế giáo dục như khu học chánh địa phương, các trường trung học tổng hợp, các đại học cộng đồng, và các đại học chuyên nghiệp là sự thể hiện truyền thống giáo dục thực tiễn của HK.        

·         Ảnh hưởng của truyền thống thực tiễn trên triết lư “khai phóng” của VN

Trong thập niên 1964-1974, đă có khá nhiều sinh viên, công chức tốt nhiệp ở HK trở về phục vụ trong nhiều ngành khác nhau ở VN.  Qua cơ quan USAID (United States Agency for International Development), nhiều đại học HK gởi các toán chuyên viên sang giúp các đại học VN.  Một vài thí dụ: Nhóm Florida trong ngành canh nông, nhóm Missouri lo về kỹ thuật, nhóm Ohio lo về đào tạo giáo chức cho các trung học tổng hợp và sự phát triển các trung học nầy, nhóm Illinois lo về đào tạo giáo chức tiểu học v.v… Với khuynh hướng cải tổ và với số nhân lực mới, triết lư khai phóng đă được thi hành.

-Việc dân chủ hóa nền giáo dục nói chung:  Bộ Giáo dục đă đưa ra chính sách dân chủ hóa giáo dục với chiều hướng kêu gọi sự  thành lập các hội đồng giáo dục địa phương.  Bước đầu của chính sách nầy là sự thành lập Sở Văn Hóa và  Giáo Dục ở mỗi tỉnh. Sở nầy coi luôn trung và tiểu học ( không như trước kia chỉ có Ty Tiểu Học ở mỗi tỉnh, trong lúc các trung học vẫn trực thuộc Bộ).  Bên cạnh mỗi Sở có một Hội Đồng Cố Vấn để dân chúng địa phương có tiếng nói trong việc giáo dục con em.

-Việc giáo dục hướng nghiệp qua các trung học kỹ thuật  và trung học tổng hợp. 

Hai trung học tổng hợp đầu tiên có tên là Trung học Kiểu Mẫu, một ở Huế (1964) và một ở Thủ Đức (1965).  Hai trường nầy trực thuôïc hai Đại học Sư Phạm Huế và Saig̣n theo thứ tự trên.  Chương tŕnh học phỏng theo mô h́nh của trung học tổng hợp HK. Ngoài các môn kiến thức tổng quát, các trường nầy c̣n thêm các ngành như kỹ thuật, canh nông, và kinh tế gia đ́nh. 

Điều đáng chú ư là khuynh hướng école unique ở Pháp cũng có ảnh hưởng nhiều đến việc cải tổ chương tŕnh trung học. Lư do là những người giữ vai tṛ quan trọng trong guồng máy giáo dục đa số vẫn là những người đă được đào luyện từ giáo dục Pháp.

Việc tổ chức các ban chuyên khoa ở đệ nhị cấp là một tổng hợp giữa ảnh hưởng Pháp, Mỹ và tinh thần “khai phóng” của VN. Đệ nhị cấp ở các trung học tổng hợp mới có thể lên đến tám ngành thay v́ chỉ có 4 như các trung học thường.

-Việc thiết lập các Đại học Cộng Đồng và Đại học Bách Khoa:

Ư tưởng về giáo dục cộng đồng đă được giới thiệu vào VN ngay từ năm 1954, bắt đầu với một số các trường tiểu học.

Đến đầu năm 1970, ư tưởng đại học cộng đồng (ĐHCĐ) được giới thiệu ở VN do một công chức kỳ cựu của Bộ Giáo Dục.  Ông nầy đă được đào tạo trong hệ thống  giáo dục Pháp và đă đi tu nghiệp ba năm ở HK và trở về VN với bằng Ph.D. về giáo dục.   Chính luận án của ông về đại học cộng đồng và vai tṛ của ông trong Bộ Giáo Dục mà ư tưởng về việc thành lập các Đại học cộng đồng được bàn căi sâu rộng, và được chấp thuận. 

Năm 1971, Tổng thống VNCH ban hành nghị định thành lập hệ thống đại học cộng đồng.  Hai ĐHCĐ đầu tiên ở VN: Tiền Giang (ở Mỹ Tho) và Duyên Hải (Đà Nẵng) được thành lập cùng năm 1971.  Sau đó có nhiều địa phương khác xin xúc tiến việc mở các đại học nầy v́ thấy tính cách thực dụng của nó trong việc đào tạo các chuyên viên trung cấp ở nhiều ngành cho phù hợp với sự phát triển ở địa phương. 

Ngoài ra, vào năm 1973, VN cũng thành lập một đại học bách khoa ở Thủ Đức với nhiều trường chuyên nghiệp về kỹ thuật, canh nông, công kỹ nghệ v.v… nằm ngay trong khu đại học nầy.  Mục tiêu chánh là để mở rộng các ngành học thực tiễn cần thiết cho việc xây dựng đất nước.

 

Dĩ văng, hiện tại, và tương lai

·         Dĩ văng

Triết lư giáo dục hay đường hướng giáo dục  “nhân bản, dân tộc, và khai phóng” đă ảnh hưởng đến hơn 25 triệu dân ở nam vĩ tuyến 17 trong khoảng thời gian 1954-1974.  Nhóm dân nầy giờ đây đă ở vào lứa tuổi 35-70  hoặc già hơn.  Những cải tổ giáo dục liên quan đến khai phóng đă có một thời sôi nổi.  Từ 1971-1972 đă có những toán học sinh tốt nghiệp từ hai trung học tổng hợp đầu tiên trong nhiều ngành mới trong kỹ thuật, canh nông, kinh tế gia đ́nh v.v… Cho tới năm 1974 chưa có khóa sinh nào tốt nghiệp từ các đại học Cộng đồng, hay Bách khoa.

Những cải tổ về giáo dục theo đường hướng “khai phóng” chưa có một kết quả rơ rệt, đă phải chấm dứt sau tháng tư, năm 1975.  Một thập niên sau năm 1975, ba chữ “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, không được ai ở VN nói tới nữa, hay chỉ nói trong thầm lặng. 

·         Hiện tại

Đại đa số của số 25 triệu dân nầy c̣n ở lại trong nước.  Họ đă, dù muốn hay không, phải nhận lănh thêm những (hay chỉ một) đường hướng giáo dục mới, thật xa lạ. C̣n một số nhỏ, độ hơn một triệu (mà hiện nay nếu kể cả những người đoàn tụ, số nầy lên khoảng ba triệu người) đă rải ra rất nhiều quốc gia trên thế giới. Có thể nói đây chính là những người, trong cái rủi của sự bỏ nước ra đi, đă và đang thực sự hưởng được cái may của những ǵ liên hệ đến ba chữ “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, nhất là số người cư ngụ tại các nước có một nền dân chủ trưởng thành như : Pháp, Anh, Đức, Ḥa Lan v.v… thuộc Âu Châu;  Gia Nă Đại, HK v.v… thuộc Mỹ Châu; Tân Tây Lan, Úc, thuộc Úc Châu và Nam Hàn, Nhật, thuộc Á Châu.

·         Tương lai

Hy vọng rằng một ngày nào đó, toàn thể dân Việt được sống trong đường hướng giáo dục đó. Ước vọng nhỏ bé hơn,  là trong mỗi gia đ́nh của chúng ta, những người Việt hải ngoại, dù ở quốc gia nào, cũng  dùng ba đường hướng “nhân bản, dân tộc và khai phóng” theo nghĩa rộng hơn những ǵ của dĩ văng, để làm triết lư giáo dục riêng cho từng gia đ́nh, thích ứng với hoàn cảnh của quốc gia mới mà gia đ́nh đă nhận làm tổ quốc mới. Và dù là thuộc về tổ quốc mới nào đi nữa th́ nguồn gốc của chúng ta vẫn là dân tộc VN, một sự kiện sẽ vẫn đứng vững măi với thời gian.

Theo đường hướng “khai phóng”, để theo kịp ư niệm toàn cầu hóa, để tiến bộ;  theo đường hướng “nhân bản” để biết sống trong t́nh người, không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, hay biên giới quốc gia v.v…;  và theo đường hướng dân tộc để măi măi nhớ đến nguồn gốc của hai tiếng Việt Nam thân yêu.

 

Tài liệu tham khảo

Bougle, C.C. Alfred. (1938).  The French conception of “culture generale” and its influence upon instruction.   Columbia University, New York.

Kim Định. (1970).  Hiến chương giáo dục.  An Tiêm, Saig̣n, Việt Nam.

Lin, Yutang. (1943).  The wisdom of Confucius.   Random House, New York.

Nguyen, Phuoc H. (1974). Contemporary educationalphilosophies in VietNam, Unpublished doctoral thesis, University of Southern California (USC), Los Angeles, California.

Trần, Kim T. (?) . Nho giáo.  Tân Việt, Saigon,   Việt Nam