Quê Nam Một Cơi
Hồ Trường An
Song Thi Với Tâm Sự Thiết Tha Qua
Tuyển Tập Thơ Văn ''Dỗ Giấc
Đêm Dài''
''Dỗ
Giấc Đêm Dài'' là tác phẩm văn chương thứ
hai của nữ sĩ Song Thi. Đây là một tuyển
tập thơ văn bát ngát t́nh người, t́nh quê
hương tổ quốc. Và dưới
ng̣i bút của chị, tiềm lực đấu tranh
chống bạo lực luôn luôn thao thức; ngọn lửa
chính khí vẫn cháy âm ỉ, hễ gặp cơ hội
thuận tiện là chúng bùng lên, soi rơ cái hoài bảo và cái tâm
nguyện của tác giả đối với đất
mẹ quê cha.
Dù dưới
h́nh thức thơ hay văn xuôi, dù là ở mỗi tác
phẩm nào, Song Thi vẫn là một cây bút đem tấm ḷng
nhân hậu, đem thiên lương ra chống đối
cái Ác, cái dối láo bất lương. Chị không chạy
theo cam ngôn mỹ từ
ngụy trang những điêu ngôn xảo ngữ, hay những tư tưởng
uốn éo cầu kỳ để nhận định t́nh
trạng khốn cùng của đất nước và hoàn
cảnh lầm than của dân tộc. Có như thế,
chị khỏi rơi vào
lưới bẫy của kẻ thù chúng ta là bọn
Cộng Sản. Chị nh́n thời cuộc, chủ
nghĩa, chính kiến bằng
trái tim chân thành, bằng ư thức đơn giản
nhưng rất thù thắng, bằng một trực giác
trong sáng tuyệt vời. Những cây bút đấu tranh
như chị càng ngày càng hiếm hoi. Nhưng dân tộc
chúng ta nói chung, kiều bào chúng ta nói riêng không hoàn toàn
tuyệt vọng đâu. Trước đây chúng ta đă có
Tạ Ty, Bắc Phong, Vũ Kiện, Lê Khắc Anh Hào,
Hồ Công Tâm, Nguyễn Mạnh An Dân, Vơ Kỳ Điền,
Diệu Tần, Vũ Nam... (nam), Thanh Phương, Vi Khuê,
Nhă Ca, Điệp Mỹ Linh, Linh Linh Ngọc, Trần
Mộng Tú, Hoàng thị Đáo Tiệp... (nữ). Gần
đây, bên các đấng râu mày bỏ cuộc rất
nhiều chỉ c̣n Hồ Công Tâm, Hải Bằng, Lê
Khắc Anh Hào, Thy Lan Thảo... Riêng bên nữ giới c̣n có thêm Song Thi, Trương Anh Thụy,
Ngô Minh Hằng, Dư thị Diễm Buồn, Ư Nga...
Niềm tin tất thắng, sự tồn tại của
chính nghĩa, sự bại vong của cái Ác làm sao tắt lịm trong cuộc
bút tŕnh của Song Thi và của những bạn đồng
hành của chị được?
* * *
Trước
hết chúng ta hăy bàn về thơ của Song Thi trong
''Dỗ Giấc Đêm Dài''.
Về h́nh
thức, ''Dỗ Giấc Đêm Dài'' không phải gồm
nhiều bài thơ suông đuột. Tác phẩm vẫn có
t́nh ư sâu sắc, có ngôn từ
không trơn nhẵn tầm thường. Trong văn
chương của vài cây bút đấu tranh cho chính
nghĩa, những t́nh ư, những ngôn từ tuy đă vào
được cơi thơ nhưng vẫn không vùng vẫy
được trong môi trường thơ, không thể
thắp hào quang cho thơ
được. Song Thi vốn không chọn nhiều
ngữ pháp hoa lệ, không nhiều cụm từ mới
lạ, không có luôn cách diễn tả cầu kỳ. Nhưng
chị vẫn săn t́m những t́nh ư rất đặc
biệt làm cho thơ lồng lộng nét sáng tạo, làm cho
từng câu theo reo lảnh lót trong cơi ấn tượng và
cơi thưởng ngoạn của độc giả. Như
thế khi làm thơ hay viết văn xuôi, Song Thi không làm
một người thợ thêu, đưa đẩy từng
mũi kim tinh xảo trên nền lụa óng ả.
Chị không thích h́nh thành
những bức tranh thêu kết hợp bằng thứ
chỉ ngũ sắc ḷe loẹt . Chị cũng không làm
một nghệ nhân kim hoàn chạm trổ những nét ti
mỉ chăm chút trên món trăng sức bằng bạc,
bằng vàng hay bằng bạch kim. Chị làm thơ trơn
ngọt, thống khoái như con én đưa thoi trong ánh
thiều quang tươi sáng, thoải mái như con cá
vẫy vùng dưới lớp nước trong vắt, làm
cho độc giả không vật lộn một cách quá
mệt nhọc với chữ nghĩa và với ư
tưởng của chị.
Anh đừng t́m anh
trong thơ tôi viết
Góc hồn
hoang không có mặt anh đâu
Vần tên
anh tôi quên mất từ lâu
Dấu
hỏi ngă không dấu nào ghi đúng
Vùng
kỷ niệm anh như trang giấy mỏng
Gió sang mùa
cũng đủ chóng bay đi
Khúc sông dài
tôi không thấy vết ghi
Mặt biển
rộng sao vết tăm chẳng thấy?
(''Chớ T́m'',
trang 77)
Một vùng
sương muối mênh mông
Một vùng gió
lạnh, một vùng thông reo.
Một vùng chân
núi lưng đèo
Mây
thương khắc khoải c̣n treo ngọn ngành.
Rưng rưng
cất bước viễn hành
Một
trời ảo ảnh ai dành cho tôi!
Buồn sao
thương nhớ không nguôi
Tôi qua biển
Bắc nhắn người biển Nam.
Nhắn
cồn cát mịn giùm thăm
Dă tràng giúp
đếm, sóng gầm giúp nghe?
Non cao nhắc
đón gió hè
Suối sông
nhắc đợi chuyến về hồi hương...
Sầu riêng
ngh́n mối trăm thương
Miên man trở
giấc đêm trường ngẩn ngơ.
(''Ảo
Ảnh'', trang 152)
Chớ dẫn
tôi về trên đường xưa
Rợp bóng tre
già che nắng trưa
Gió chao tà áo
người yêu cũ
Nước
đọng ân t́nh trên vũng mưa.
*
Đừng
vội bảo tôi thăm suối sông
Nuối tiếc hương xưa lạc
giữa gịng
Đem
lưới chài trăm câu ước hẹn
Vớt ngàn
thương nhớ buổi chiều đông.
*
Tôi chưa
về thăm biển của tôi
Vết bước chân xưa
đă mất rồi
Mượn dấu dă tràng mong
vẽ lại
Thủy
triều rồi cũng xóa mà thôi.
(''Ngủ
Yên'', trang 80)
Thư xưa
vỏn vẹn mấy hàng :
Báo tin Mẹ
mất ngút ngàn từ đây !
Áo tang không
đủ vải may
Khăn tan không
xé, củi thay hương trầm
Ván thô sáu
miếng vừa tầm
Khít khao
đủ lịm Mẹ nằm duỗi chân.
Mẹ đi
không tiếc dương trần,
Em đi
chỉ tiếc một lần tiễn đưa.
(''Thư
Chị'', trang 148)
Ngôn ngữ
của thơ Song Thi không bí hiểm, ư t́nh trong trẻo.
Nhưng ngôn ngữ không quá dễ dăi, ư t́nh không quá hở
hang bộc tuệch. Bởi đó, đọc phớt qua
thơ chị, chúng ta không bắt gặp ngay những
điều ǵ chị muốn nói. Phải bỏ một chút
thời gian, chúng ta mới t́m ra những ǵ tác giả
đang nói và sắp sửa nói. Chỉ cần một chút
suy nghĩ, chúng ta mới bắt gặp trọn vẹn
những ư t́nh chị đă diễn tả. Như vậy,
chị đă thành công một phần nào trong công việc
sáng tác. Nếu đọc thơ của ai đó, chúng ta
hiểu ngay tức khắc ư t́nh của tác giả, chúng ta
không c̣n thú vị nữa. Miếng cơm càng nhai lâu chúng ta
mới khám phá ra cái hậu vị ngọt ngào của nó.
Nhưng nếu gặp loại thơ hủ nút, ư t́nh chôn
giấu kỹ quá, chúng ta chỉ có nước nhức
đầu và mệt hốc hác mà thôi. Thời tiền
chiến, nếu đọc thơ của các bà Hằng
Phương, Vân Đài, Anh Thơ, Thu Hồng, ta hiểu
tức khắc thế giới thi ca của họ. Nhưng
khi đọc thơ của Mộng Tuyết, Ngân Giang và
Mộng Sơn, chúng ta phải ngẫm nghĩ mới t́m
thấy cái ẩn mật kỳ thú trong ngôn ngữ của
thơ họ.
Lại
nữa, chúng ta thấy ǵ qua những đoạn thơ mà
bút giả vừa trích ở trên. Phải chăng
điệu thơ lục bát của Song Thi chẳng
những rất tha thiết mà c̣n đượm một
chút ngọt ngào của t́nh ư ca dao, một chút đậm
đà của thơ Nguyễn Bính? Thử hỏi chúng ta khi
làm thơ lục bát, nếu thơ chúng ta không
đượm hơi hướm mộc mạc của
ca dao và của Nguyễn Bính
th́ thơ chúng ta cũng phảng phất một chút khói
sương của thơ Huy Cận, của thơ Cung
Trầm Tưởng. Cho nên, chỉ có loại thơ tám
chữ mới hoàn toàn là thơ của Song Thi, mới
thuần chất sáng tạo của chị. Dù sao, thơ
lục bát của chị vẫn phản ảnh trung thực tâm t́nh của chị
(qua bài ''Ảo Ảnh'') và
cũng vẽ nên một cách sống động những
cảnh bi thảm trên quê hương (qua bài ''Thư
Chị'').
Trong thế
giới thi ca của Song Thi, chúng ta đôi lúc bắt gặp
một không gian bao la lồng trong thơ. Hoặc cũng có
thể thơ của chị mở một không gian bát ngát
trong tâm hồn và trong trái tim người đọc:
Triều dâng
sóng cuốn xa khơi
Tôi đi
giữa sóng mồ côi một ḿnh
Triều dâng
sóng dậy b́nh minh
Tôi đi
giữa sóng với ngh́n nhớ thương
Triều dâng
sóng vọng quê hương
Tôi đi
giữa sóng vấn vương nỗi niềm...
(''Sóng
Triều'', trang 52)
Không gian
rộng khi tấm ḷng thương yêu của nhà thơ
mở rộng. Song Thi họa hoằn lắm mới
viết về t́nh yêu đôi lứa. Chị trải
nguồn cảm hứng của ḿnh lên t́nh yêu những
đối tượng rộng răi hơn, những
đề tài lớn hơn: đó là non sông nước
Việt nằm bên bờ Thái B́nh dương:
Tôi vẫn yêu
một người yêu bé nhỏ
Nằm
trải dài đón gió muôn phương
T́nh kết chung muối mặn
đại dương
Xơa tóc rối
cho Thái B́nh nổi sóng
Tôi yêu
Người v́ Người là mộng
Là Biển
xanh, là Mây bổng trên trời
Là Núi cao, là
Sông nước quê tôi
Là chữ
S ân t́nh ghi nét đậm
Ngựi Yêu
ơi, dẫu cách xa vạn dặm
Tôi yêu
Người, Người cũng vẫn yêu tôi...
(''Tôi Có Người Yêu'', trang
32)
* * *
Về phần
nội dung, thơ của Song Thi trong ''Dỗ Giấc
Đêm Dài'' vẫn là phần nội dung trong thi tập
''Đất Tạm Dung''. Có thể bảo phần thơ
ở quyển sau là phần nối dài của quyển
trước. Bởi vậy đường lối sáng tác
của chị là đuờng lối nhất quán,
trước sao sau vậy. Quân thù của chúng ta hăy c̣n
lộng hành trên đất nước Việt Nam. Dĩ
nhiên một kẻ ưu thời mẫn thế như
chị Song Thi th́ làm sao không c̣n thao thức trong đêm
đen của lịch sử bị tổn thương? Làm
sao không chờ đợi hoài hoài một b́nh minh tươi
sáng của dân tộc?
Chẳng lẽ
đi hoài đêm ba mươi?
Lạc
lơng chân mềm có hổ ngươi?
Đếm thêm tóc bạc sầu vong quốc
Pháo
đón giao thừa hận chẳng vơi.
*
Chẳng
lẽ đi hoài đêm ba mươi?
Bao nhiêu
năm bảng lảng qua rồi?
Nén nhang ai
đốt đêm trừ tịch?
Gió
quyện hương cùng mây nước trôi...
*
Khắc
khoải buồn ơi, đêm ba mươi!
Nhà ai kín
cửa dửng dưng thôi
Khói
sương đan phủ ḷng thương nhớ
Tuyết
lấp hồn đau tê cứng môi.
*
Chẳng
lẽ đi hoài đêm ba mươi
Ngày mai
rạng sáng ở bên trời
Quê xa
rực rỡ mùa sum họp
Trở
bước tôi về non nước tôi.
(''Đêm Ba
Mươi'', trang 162)
Quê hương
c̣n dưới bạo quyền, nhưng kiều bào chúng ta
đa số quên quốc hận, lơ là với quốc
nhục. Tuy vậy Song Thi vẫn không quên. Tinh yêu
nước của chị trước sau như một.
Đó là thứ giấy hồng cẩm tiên điểm sao
kim nhũ dùng để viết liễn Tết, dù gió
mưa sương giá vẫn không làm nó phai lạt sắc
thắm rực rỡ như nước mực son
tươi. Trong khi đó, ḷng ái quốc của đa
số nhà thơ bừng lửa tranh đấu lúc
đầu và trong một thời gian ngắn ngủi,
tắt lịm dễ dàng. Ḷng son của họ giống
như giấy hồng đơn đằm thắm màu
đỏ trộn sắc xám trân châu, hay như giấy kim
tương lộng lẫy màu hồng quê, cũng
điểm sao kim nhũ; nhưng
cả hai thứ giấy
này không dẻo dai và mau chóng
phai màu lợt sắc.
Đếm những lần xuân... Lại đếm
thêm!
Bao nhiêu
Xuân gối mỏi chân mềm
Ghe neo
bến lạ mong trừ tịch
Thuyền
ghé lạc bờ đợi nửa đêm.
Hỏi
nước, nước đau niềm cá nổi
Gạn
non, non xót cảnh chim ch́m
Đón
đưa Xuân sắc thêm lần nữa
Nhốt kín giao thừa tận
cuối tim.
(''Đếm
Những Lần Xuân'', trang 195)
Song Thi và
những người bạn chung tâm huyết với
chị làm sao khỏi đau ḷng trước đa số
những kẻ khi ra hải ngoại chỉ với mục
đích trốn cộng mà không có ư nghĩ chống cộng?
Khi an cư lạc nghiệp hoặc vinh thân ph́ gia trên
đất nước tạm dung rồi th́ họ chỉ
nghĩ tới hưởng thụ. Nhục nhă nhất là
bọn ḷn cúi kẻ thù để được về
thăm Việt Nam cốt khoe của cải và cốt
chơi bời trụy lạc chứ không phải cốt
viếng thăm, giúp đỡ người thân c̣n sống
sót hay viếng thăm mái từ đường xưa cùng
mồ mả tổ tiên.
Về cầm
bó bạc trên tay
Mua
Thương bán Khó kéo dài khổ đau
Xua t́nh cốt
nhục đi mau
Đón tên
cướp nước chia nhau miếng đường.
Em về
đón gió một phương
Em về
dẫm nát mảnh vườn quê cha
Em mang gấm
vóc lượt là
Nối tay cho
giặc cướp nhà tổ tiên.
Em đi cho
hết ba miền
Vỗ tay
cười cợt vung tiền làm vui
Thù chung năm
cũ đă vơi.
Hận chung em
cũng đă nguôi lâu rồi.
(''Hỏi
Thăm'', trang 106)
Đối
với những kẻ vong bản ấy, chị chỉ
than van, bộc lộ nỗi niềm của ḿnh tuy bằng
một giọng ch́ chiết đắng cay, nhưng chị
không để t́nh cảm bung vỡ thành những lời
gào thét phẩn nộ. Chị biết tự chế
để khỏi vừa bù lu bù loa vừa nguyền
rủa, chửi bới bọn chúng. Vốn là một nhà
thơ t́nh lư đồng cân, chị giải bày cho họ
hiểu nỗi đau khổ lầm than của
đồng bào chủng tộc, những u uất mang nặng
canh cánh bên ḷng của ḿnh:
Em có
thương về cho núi sông
Mười lăm năm nước chảy xuôi ḍng
Mười
lăm năm đá chau mày khóc
Mây
phủ ngang trời, em biết không?
*
Em có
thương và em có hay
Bao nhiêu năm nước mắt đong
đầy
Cây xanh héo úa v́ cay
nghiệt
Ruộng bỏ hoang tàn em có hay?
*
Em có
thương và có xót xa
Phong
ba vùi dập chốn quê nhà
Đau thương loang lổ tươm
thành máu
Cùng
cực in hằn trên lớp da.
*
Em
đă xa và em đă quên
Hai
mươi năm chửa cạn ưu phiền
Thêm bao năm
đá tan thành cám
Nước chảy xuôi ḍng trôi mất tên.
*
Em ngất ngư ch́m trong biển quên
Buồn cho phố cũ đổi thay tên
Xóm
thôn thay xác nên tù ngục...
Em
sống quê người, thương gác bên.
(''Em Có
Thương?'', các trang 90, 91)
Có những
kiều bào về thăm Việt Nam, thấy các thành phố có những chung
cư nguy nga, những ṭa kiến trúc tráng lệ nên
đổ hô là đất nước đă phú
cường, đă lột xác thành đất nước
văn minh tân tiến. Họ có biết đâu ở thôn quê
hay ở các xó xỉnh tối tăm trên đất
nước, đa số lê dân nghèo khó, ốm đói,
sống lây lất như lũ ma đói. Cái thiên
đường mà họ rêu rao đối với tác
giả Song Thi vẫn chỉ là một thiên đường
giả. Đó cũng như khuôn mặt rỗ chằng
chịt của một cô gái già được lớp
son phấn dầy cui tô trét
lên. Đó cũng như tấm thân c̣i cọc đầy
vết sẹo của cô gái xấu xí được y
phục bằng nhung gấm lộng lẫy,
được nữ trang bừa bộn hào nhoáng
đấp điếm lên.
Cái gọi là Xă
Hội Chủ Nghĩa được xây dựng trên
ảo tưởng điên khùng của ông Karl Max, trên ác
mộng của dân lành th́ thực tế làm sao đáp
ứng cho bọn Cộng
Sản hoang tưởng và cuồng tín thành sự thật?
Đó chỉ là cái phù du giả tạo ẩn núp sau
những h́nh người cười toe toét trong những
tấm tranh cổ động, trong khi đó tác giả
những tấm tranh ấy nghèo túng thiếu ăn. Chúng chỉ
gợi cho kẻ nhẹ dạ, kẻ mê muội cái h́nh bóng
phất phơ của thiên đường, cái ảo
ảnh rực rỡ trong giấc mơ phù phiếm mà thôi.
Thành quách em
đang thấy ở xa
Chừng
như đô thị sắc nguy nga
Em
ơi có biết thiên đàng đó
Là
chốn âm hồn chứa bóng ma.
*
Bước lại gần đi, mở mắt trông
Em
ơi có thấy máu loang hồng
Khổ đau thấm ướt vành khăn lệ
Người khóc cho người giữa hố chông.
*
Sặc sỡ cờ treo như rủ rê
Sáng
đèn nhung lụa chốn âm mê
Hồn trơn, ư
trợt, t́nh đi lạc
Giận kẻ ngu ngơ hối hả về.
*
Thảm máu em về cứ dẫm lên
Máu
từ đồng nội góc trời quên
Máu
trên thành phố người đông đúc
Đó
chốn ''thiên đàng'' không có tên.
(''Thiên Đàng
Giả'', trang 121)
Cái thiên
đường đích thực xa xưa đă thật
sự mất rồi. Người lưu vong trở về
thaăm lại ngơ ngác trước cuộc đổi
thay; Xin đọc:
Có người đứng
giữa cơn mưa
Dang
tay đứng đợi nắng mưa trở về.
Ngơ
hoang xóm vắng cận kề
Soăi
chân muốn bước bên lề phố đông.
Chèo
ghe trên nước ngược ḍng
Đêm
đen tối mịt tưởng trong ánh đèn.
Ngẩn
ngơ giữa chợ đua chen
Ngỡ
như đóng cổng cài then quanh ḿnh.
Bước
chân lên thác xuống ghềnh
Tưởng
đi suốt cuộc hành tŕnh gấm nhung.
Ḍ
đây hỏi đó mông lung...
Có ai biết
được tên khùng mất quê.
Ra đi
mất lối quay về
Thất thơ
giữ một chân hề lưu vong.
(''Hề
Lưu Vong'', trang 102)
* * *
Rải rác
đâu đó những h́nh ảnh thân thương trên
đất nước, những kỷ niệm hạnh phúc
len lỏi vào thi ca của Song Thi. Đó là những ám
ảnh không nguôi trong kư ức của chị như vết
xâm bám chặt suốt đời trên da. Và đó cũng là
những ngọn lửa thiêng giúp chị nuôi vững
bền t́nh yêu đối với giang sơn chủng
tộc để chị tranh đấu chống bạo
quyền không bằng súng ống giáo gươm mà bằng
ng̣i bút nhiệt thành vấn
vương linh hồn Tổ Quốc. Chị xứng đáng
là kẻ đi theo những bậc thi nhân ái quốc
tiền bối trong đo có nhà chí sĩ Nguyễn Đ́nh
Chiểu với hai câu thơ lục bát bất hủ:
''Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm''/
''Đâm mấy thằng gia bút chẳng tà''.
Nhớ gốc
đa bên bờ dậu xanh
Làng xưa ẩn bóng
khóm tre lành
Một mái hiên đ́nh sơn thếp bạc
Một rặng dừa đón ánh trăng thanh.
*
Nhớ tiếng chuông chùa ngân vẳng xa
Trầm hương thơm thoảng cơi ta bà
Áo
nâu cung kính bên bàn Phật
Bài
kinh chiều gợi nhớ thiết tha.
*
Nhớ cánh đồng trải ngàn lúa non
Hồn quê ấp ủ chén cơm ngon
Áo ai
tay xắn trong mùa gặt
Chiều mục đồng ca
hát véo von.
*
Nhớ đô thành con đường Duy Tân
Đường mang t́nh ái tuổi thanh xuân
Gốc me đón đợi giờ tan học
Lá
rụng vàng non, lá bâng khuâng (1).
*
Nhớ nhịp cầu bắc nối sang sông
Hôm
xưa áo trắng có c̣n không?
Có đủ sáu
vày mười hai nhịp
U
uất tràn khuấy đục nước trong (2).
*
Nhớ biển xanh nước trời bao la
Ngút
ngọn thùy dương trên băi xa
Bọt biển có tràn trên cát mịn ?
Có dă
tràng đợi ngắm sao sa (3).
*
Nhớ gió đồi thông thoảng mặt hồ
Non
cao rày phủ đắp khăn sô
Có ai
lên viếng vùng cao đó
Hái
giúp nụ hồng đă héo khô (4).
(''Thư T́nh
Đêm Xuân'', các trang 164, 165)
.................................
(1) Sài G̣n, (2) Huế, (3) Nha Trang, (4)
Đà Lạt
Đă có
những ngày xa xưa, có lẽ vào thuở tác giả
đang độ hoa niên hay vào thời kỳ thanh xuân,
chị đă từng tuần tự phơi lụa tím, lụa xanh, lụa
đỏ trong nắng đẹp miền Nam, đă
sống trong t́nh yêu thơ mộng, đă bơi lội trong
biển hạnh phúc bao la
với ngươi yêu. Nhưng rồi giông băo tràn tới
quê hương đất nước, chị phải ra
hải ngoại. Kỷ niệm cũ vẫn sống măi
trong kư ức của chị. Nhưng trên đất khách
chị không c̣n phơi những thứ lụa có màu thuở
trước nữa. Chị phơi lụa trắng với
tâm nguyện để tang cho Tổ Quốc. Chị
phơi lụa vàng với hoài băo dựng lại ngọn
cờ xưa. Với tấm ḷng thành khẩn thiết tha,
chị mong rằng khi bóng cờ đỏ không c̣n trên giang
san gấm vóc của chúng ta, chị sẽ trở về
Việt Nam, làm lại từ đầu, tức là phơi
màu khăn tím trong xóm cũ làng xưa.
Bạt gió
trời lên cơn băo giông
Giây
phơi khăn đỏ máu loang hồng
T́nh
ngưng không kết thành mơ ước
Nắng trở đem buồn
cho nhớ mong.
*
Khăn trắng
mang phơi thấy xót xa
Ai
phơi tang khó trắng quê nhà?
Dung
xứ tạm người chan chứa hận,
Nhục
nhằn dầu dăi bước Kinh Kha.
*
Đất
tạm hong phơi tấm lụa vàng
Cờ bay trong gió nắng xuân sang
Sào giây nối
thẳng ba đường máu
Quốc
hận vơi đầy chung ư mang.
*
Ai
mơ chút nắng buổi hoàng hôn
Nắng chở mây xa trở nước nguồn
Khăn đỏ đi rồi thôi ác mộng
Tôi
về phơi lụa tím cô thôn.
(''Phơi
Lụa'', các trang 108, 109)
Chúng ta đă
từng đọc loại thơ văn dĩ tải
đạo nói chung, loại văn thơ ái quốc nói riêng,
chúng ta chỉ bắt gặp những đường
cũ lối ṃn, những ngôn từ quen thuộc, những
ư t́nh như đúc cùng một
cái khuôn. Ở thi ca của Song Thi, chúng ta vẫn thấy
những yếu tố, những tính chất mà tôi vừa
kể. Nhưng chị vẫn
tạo cho thơ ḿnh những cái kỳ đặc hơn,
le lói thần trí sáng tạo lấp lánh hơn. Chị
biết trồng vài thứ kỳ hoa dị thảo hai bên
đương cũ lối ṃn. Chị canh cải đôi
chút ngôn từ cho đặc sắc hơn mà khỏi
cần thêu hoa dệt gấm. Chị nh́n sâu vào niềm rung
cảm của ḿnh để t́m những ư t́nh thâm thúy
hơn. Nhưng dù ǵ th́ dù, chị vẫn giữ nguyên
vẹn cái văn dĩ tải đạo của ḿnh như
một tín đồ ngoan đạo giữ vẹn tấm
ḷng tín nguỡng kiến cố của ḿnh. Như
người trinh nữ trong điện thánh Hỏa Giáo bên
xứ Ba Tư giữ măi vết thủ cung sa đỏ
thắm trên cánh tay trắng nơn như ngó sen ngó cần
của ḿnh.
Sau đây là bài
''Áo Thêu'' nói lên nỗi niềm tha thiết, cái tâm nguyện
của kẻ hướng về một lư tưởng,
một đất nước và một ngọn cờ. Xin đọc:
Chị gửi cho em chiếc áo dài
Thêu
cành hoa bướm với mây bay
-
Hoa tươi có nở trời bên ấy
Bướm có sụt sùi, mây có bay?
*
Chị gửi cho em chiếc áo vàng
Thêu
cành hoa cúc đón xuân sang
- Sao không thêu áo màu tơi
tả
Loang lổ trên nền thước gấm
sang?
*
Chị gửi sang em
chiếc áo rồng
Đếm bao nhiêu vẩy, mấy chờ mong
Thiên
Long uốn khúc vờn châu ngọc
-
Thừa chỉ kim nào thêu núi sông?
*
Một chiếc áo thêu màu lúa thơm
Đồng xanh vương thắm buổi chiều
hôm
Lụa thêu trên áo tṛn như mộng...
-
Lúa lép bên nhà có đủ cơm?
*
Chị gửi sang em tà áo bay
Của người thiếu phụ mắt hoen cay
Khóc
con vượt biển mồi cho cá
Chồng chốn lao lung vướng đọa đày
*
Xin
chị thôi đừng gửi áo thêm
Quê
hương bày bán dưới đèn đêm
Te
tua vá víu màu sang cả
Gạt lũ chim non yếu cánh mềm.
*
Chị nhé thôi đừng gửi áo thêu
Lầm than phủ giấu lớp nhiễu
điều
Gấm nhung không ấm ḷng cô lữ
Chị gửi sang giùm tiếng
quốc kêu.
*
Chị nhé xin thôi đừng gửi áo!
Giữ ǵn mà phủ bọc giang san
Đau thương kết chỉ luồn trong máu
Kim
nào thêu được nét tan hoang?
(các trang 84, 85)
* * *
Bước
sang tản văn, Song Thi vẫn không buông bỏ
đường lối, khuynh hướng đả phá cái
Ác để duy tŕ và phát huy cái Thiện của ḿnh.
Giọng điệu văn chương miền Nam
thường véo von, bộc trực, xí xọn
đượm hơi hướm của ngôn ngữ dân quê.
Văn phong của Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng
Sển, B́nh Nguyên Lộc, Sơn Nam, bà Vân Trang, bà Nguyễn
Thị Thụy Vũ, nhất là của Lê Xuyên đều
quê rít quê rang nhưng rất quyến rũ mặn mà, gây cho
độc giả ngoài cái kiến thức uyên bác, c̣n thêm
niềm thú vị đậm đà. Văn phong của
lớp sau như Xuân Vũ, Phạm Thăng, Hồ Trường
An, Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Sâm, Vơ Kỳ
Điền, Phùng Nhân, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Tấn
Hưng, Sĩ Liêm...(nam), Phượng Khánh, Phương Hoài
Nam, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Tiểu Thu, Hồng Lan,
Dư Thị Diễm Buồn... (nữ) cũng quê mùa không
thuốc chữa, nhưng vẫn mở đầu tiếng
nói của một thế hệ đau thương mất
mát v́ chiến tranh, v́ hoàn ảnh vong gia khứ quốc.
Đó cũng phản ảnh
được tiếng nói vang vọng từ ḷng
đất nước Nam Kỳ Lục Tỉnh thân
thương. Cho nên họ cũng không cần thuốc
chữa làm ǵ. Trái lại, dù áp dụng ngôn ngữ Nam Kỳ
nhưng văn phong trong thơ Song Thi, bút pháp trong văn xuôi
của chị, chẳng những không quê mùa mà đôi lúc c̣n
đượm âm sắc cao sang thanh thoát. Chị không
cần chuốc lọc mà văn phong bút pháp chị vẫn
trong sáng như pha lê và óng ả như mặt gỗ cẩm
lai, gỗ giáng hương, huỳnh đàn giồi bóng.
Chị không ơng ẹo mà bút pháp vẫn quyến rũ ở
giọng điệu đoan trang thùy mị.
Phần văn
xuôi có những bài tùy búy như ''Kỷ Vật Trong
Đời'', với tính chất thuyết thoại (la
narration) trộn lẫn
hồi ức (flash back), nhắc lại thuở học tṛ
với quyển lưu bút cùng các khuôn mặt bạn bè
của tác giả. Chị cũng
nhắc lại quyển lưu bút ghi bút tích các văn
nghệ sĩ , nhắc luôn thời kỳ tác giả
viết văn, làm báo, làm phóng viên chiến trường và
vài món kỷ vật lúc chi cùng
chồng con vượt biên.
Tập lưu bút thuở học tṛ mang cái
tên ''văn vẻ đượm mùi học tṛ'': Lưu Bút
Ngày Xanh mà thời kỳ tôi c̣n trung học gần như
đứa học tṛ nào cũng có. Tập lưu bút của
tôi thật dầy với hàng trăm nét bút kỷ niệm,
ngay trang đầu là ảnh của ''chủ nhơn'' với mái tóc kết hai chiếc
bím dài và nụ cười thật tươi, thật vô
tư. Bạn bè của tôi suốt những năm trung học
hầu hết đều có mặt trong đó. Ảnh
người nào cũng được trang trí hoa ḥe
bằng những tấm carte postale thuở đó có cảnh
tuyết mùa đông, lá mùa thu, có hoa mùa hè sáng rỡ lấp
lánh đày kim tuyến. Miền NamViệt Nam của tôi không
có bốn mùa nhưng tập lưu bút có đủ h́nh ảnh
Xuân Hạ Thu Đông! Cho đến bây giờ, đă
mấy mươi năm qua, từng trang lưu niệm
vẫn hiển hiện rơ trong trí nhớ tôi: ảnh Cao
thị Nhung, bạn lớp nh́, đôi mắt mơ màng, tô
màu son thật đậm; ảnh Nguyễn thị
Chỉnh, cũng môi son đậm nhắc tôi tiếng
cười trẻ hơ năm học lớp nhất;
ảnh ''học tṛ ngoan nhất lớp'' Đào thị Lê
trong bộ y tá trắng có chữ thập trên mũ (dạo
đó có phong trào chụp ảnh giả trai, giả tá v.v..., không ngờ sau này Lê
cũng đi vào ngành y tế để trở thành nữ
hộ sinh bệnh viện Từ Dũ); ảnh Lư thị
Thảo, hai chị em Nguyễn thị Nâu và Nguyễn
thị Kim Liên, ảnh Hồ thị Ngọc, Nguyễn
Ngọc Ninh và nhiều lắm, nhiều lắm... Các
bạn nam cũng đầy đủ : Trưởng
lớp Nguyễn Huy Phú đội nón hướng
đạo cười vui; Nguyễn Hiếu Tín nước
da bánh mật, ''đi khu'' trong Phong Trào Bảo Vệ Ḥa
B́nh, sau anh trở về Sài G̣n trở thành con sâu
rượu v́ bất măn lỡ ngu dại lao đầu vào
'' đảng cướp''; Lư Thanh Điền vắn
số chết trận, có cặp chân mày châu lại rất gần;
Phạm văn Ne, Nguyễn Hữu Kỳ, Nguyễn văn
Hội và Giang văn Vui bốn ''yên hùng'' không bao giờ
thiếu mặt trong những cong tác văn nghệ xă
hội...C̣n nhiều, nhiều nữa..., những bạn
học tṛ mà ngày nay có đứa c̣n ở lại quê nhà, có
đứa trôi giạt khắp Năm Châu, có đứa
thất lạc mất tung mất tích...
Thời gian ''lăn lộn'' trong làng báo và giới
văn nghệ, tôi có thêm một tập lưu bút khác.
Tập lưu bút này rất trang nhă không có ảnh nhưng có
thủ bút các nhà văn, nhà thơ, nhà báo như B́nh Nguyên
Lộc, Nguyễn Ang Ca, Giang Tân, An Khê, Lư Cẩm Tâm, Ngô
Tỵ, Anh Quân, Ngọc Linh v.v... Tập kỷ niệm
đầy những trang chưa viết th́ biến cố
75 xảy đến.
(''Kỷ
Vật Trong Đời'', các trang 314, 315)
* ''Chuyện
Những Ḍng Sông'' cũng là thiên tùy bút nhắc nhở
người bạn gái đồng nghiệp tên
Phương khi cả hai cộng tác cho Đài Tiếng Nói
Hoa Kỳ ( đài VOA ). Chúng ta thừa biết đó là
nữ sĩ Thanh Phương, người cầm bút
hơn 3/ 4 cuộc đời. Tác giả và chị Thanh
Phương trước kia ở bên nhánh sông Đồng
Nai từ sông từ Biên hoà chảy ngang thành phố Sài
G̣n, ra Nhà Bè rồi tuôn ra
biển. Chẳng biết có
phải con sông có nối liền số mệnh cả hai
trong việc cầm bút, trong côn việc làm phóng viên cho
Đài Tiéng Nói Hoa Kỳ hay không? Nhưng nó nối liền
tấm ḷng cảm thông của cả hai với nhau dù tác giả
sống bên bờ biển thuộc tiểu bang Oregon
(Hoa Kỳ), c̣n chị Thanh Phuơng sống bên bờ sông
Seine trên nước Pháp:
Hai đứa tôi ở cách nhau hai
đầu cầu và một ḍng sông. Phương ở bên
kia cầu Trương Minh Giảng, tôi ở bên này sông
cầu Kiệu. Ḍng sông th́ không có tên nào nhất đinh:
ở hướng Càu Kiệu th́ gọi là sông Cầu
Kiệu, hướng Trương Minh Giảng th́ cứ
gọi là sông Trương Minh Giảng. Tựu trung, đây
là nhánh sông nhỏ chi lưu của sông Đồng Nai,
đổ từ Biên Ḥa xuống Thủ Đức, Cầu
Sơn, mạch lớn chảy qua Thị Nghè, hợp
lưu với sông Sài G̣n chảy ṿng dưới dạ
cầu Tân Thuận, qua Nhà Bè để ra cửa Soài Rạp
và tuôn ra biển.
Mạch sông nhỏ len lỏi đổi
hướng chảy về Càu Bông làm gạch nối
giữa Đa kao và Gia Định, men về phía Tân
Định làm ranh giới cho Xóm Chùa và một vùng ruộng
lúa nhiều lau lách. Tôi biết rơ đám ruộng này v́
thuở học lớp Đệ Thất, Đệ Lục,
tôi vẫn thường theo
mấy đứa bạn vào Chùa Vạn Thọ trong Xóm Chùa
để lạy Phật mỗi khi chuẩn bị kỳ
thi lục hay tam cá nguyệt. Chúng tôi kéo nhau ra sân sau chùa
ngồi học bài. Chùa ở sát bờ sông, nh́n qua bên kia
đám ruộng lúa, ở tít mù xa, đám bạn tôi nói đó
là hướng đường Chi Lăng Phú Nhuận, và có
vài lần, chúng tôi mạo hiểm mướn xuồng
băng qua sông hái lúa trộm, ép trong sách học tṛ...,
nhưng chứa bao giờ tôi được đi ngả
tắt đó mà đến Phú Nhuận cả.
Từ Xóm Chùa, con sông nhỏ tiếp tục
chảy luồn dưới gầm cầu Kiệu, lằn
gạch nói giữa Tân Định và Phú Nhuận, như
mối liên hệ giữa đường Hai Bà Trưng và
Vơ Di Nguy. Nhánh sông nhỏ càng đi tới càng khó khăn khi
phải chen lách giữa những khu nhà sàn càng ngày càng bành
trướng. Khúc sông cuối cùng bị nghẽn lối sau
khi đă cố gắng chui qua cho được thêm hai
chiếc cầu Công Lư và Trương Minh Giảng.
(các trang 273,
274)
Gặp lại
nguời bạn gái đồng nghiệp năm xưa bên
ḍng sông Seine chảy thao thao, có thuyền chở du khách
ngoạn cảnh hai ben bờ sông (bateau- mouche), tác giả
được chị Thanh Phương cho biết con sông
chảy qua khúc cầu Trương Minh Giảng đă
nghẹt ứ v́ rác rến lấp đầy. Cả hai
cùng buồn cảnh quốc phá gia vong và cảnh tha
hương ngộ cố nhân. Ḍng sông bị bít lối
ở đây ẩn dụ hay tượng trưng cho
một điều ǵ? Có phải là mạch cảm thông
của t́nh đồng bào, của mạch sống dạt
dào của Đất Mẹ thiêng liêng bị ngăn
chận bởi bạo quyền của chế độ
hiện tại trên cố quốc hay không?
*
''Người Bán Trăng'': nói
về cảnh khốn cùng của một người mù hát
dạo trong chuyến xe buưt sau cuộc đổi
đời. Anh hát bài thơ ''Hàn Mặc Tử'' của Trân
Thiện Thanh với 2 câu
mở đầu: ''Ai mua trăng? Tôi bán trăng cho''/ ''Không
bán t́nh duyên ước hẹn ḥ''.Sau đó, anh ta hát trong
Sở Thú bên cạnh loại ác thú bị giam cầm.
Đất nuớc nghèo, thú trong chuồng thiếu ăn,
ngựi ăn mày ốm đói. Chỉ có các anh nón cối
thấy loài thú lạ mà từ bấy lâu nay dưới
chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa ở ngoài
Bắc không có, tỏ ra thích thú
thôi.
*
''Người Nghệ Sĩ Tên Nhơn'': Chàng họa sĩ
tên Nhơn tuy cùng vợ đă đến định cư
trên đất nước Hoa Kỳ, nhưng anh không thích
ứng với đời sống hiện tại ở
đây. Anh không đủ sức làm phu khuân vác, anh không có
vốn liếng Anh ngữ để học ngành
điện tử. Anh đành thất nghiệp, vẽ tranh
bán lai rai. Anh rất ghét màu đỏ v́ đó là màu cờ
Cộng Sản nên anh cố tránh đưa màu máu dữ
dằn này vào các họa phẩm của anh. Cuối
truyện, anh lại chết v́ bạo bệnh.
''Người Nghệ Sĩ Tên
Nhơn'' cũng như ''Người Bán Trăng'' là hai
bức tranh xă hội rất sống động trên hai
xứ sở khác nhau. Nhưng cả hai truyện ngắn
đều có một mẫu số chung: sự điêu
đứng của những kẻ mất nước.
* ''Con Thằn
Lằn'': Nhân vật tên Lân mắc bịnh suyễn kinh niên,
chạy chữa thuốc Tây, thuốc ta đều vô
hiệu nghiệm. Khi chàng
đi quân dịch, có một lần nhờ ngườii
bạn tên Ánh giúp chàng qua cơn bệnh suyễn ngặt
nghèo bằng cách cho chàng nuốt con thằn lằn bạch.
May mắn cho Lân vào ngày hấp hối của chế
độ Cộng Ḥa của Miền Nam Việt Nam, chàng
cùng Ánh qua đảo Guam và rồi định cư ở
Hoa Kỳ. Ở hai nơi này, chàng không có con thằn lằn
bạch để trị suyễn. Trên đất
nước Hoa Kỳ chỉ có con thằn lằn xanh v́
đưọc nuôi bằng rau cỏ, trông gớm ghiếc,
không thể nuốt trôi. Ánh gửi thư về Việt Nam
xin thằng bạn khác tên Sơn gửi qua con thằn
lằn bạch cho Lân. Nhưng Sơn chỉ gởi xác khô
con thằn lằn dán ở góc
bức thư? Sơn cho biết ở Việt Nam bây
giờ, thằn lằn khó kiếm. Các nhà tối tân có máy
điều ḥa không khí rất kín mít nên thằn lằn không
thể chui vào. C̣n trong các nhà nghèo, người không có
đủ cơm ăn th́ đâu có ǵ để dành cho loài
vật.
* ''Sợ
Chuột'': Đây là chuyện tai nạn nhưng là
chuyện vui. Tác giả sợ chuột từ nhỏ, dù
là thứ chuột đồng
nuôi sống bằng lúa nếp có thịt tinh khiết
thơm ngon. Khi định cư trên đất
nướcHợp Chúng Quốc, tác giả khổ v́
chuột hí lộng trong nhà ḿnh nên chị t́m cách trừ
chuột. Nhưng không ngờ, chị giết
được vợ chồng con chuột cuối cùng
bằng thứ thuốc làm chúng khát nước nên rời
tổ để uống nước tới căng
bụng mà chết. Chúng dể lại lũ con trong ổ
chuột dưới sàn ván trong căn bếp. Bầy
chuột con chết v́ thiếu sữa mẹ, mùi thối
tha bốc lên khó chịu. Trải bao ngày vợ chồng
chị phải chịu trận, không kiếm
được chỗ nào để t́m ra chuột chết.
Sau cùng, cạy sàn ván lên, chị mới hay nguyên do tự
sự. Cơn ác mộng chấm dứt, nhưng dù trong
cơn ác mộng hay vào lúc kết cuộc của cơn ác
mộng ấy chị diễn tả bằng lối văn
ôn nhu lẫn dí dỏm để thay đổi khong khí u
trầm, thê thiết của các mẩu truyện khác.
* ''Học
Tṛ'': Nhân vật xưng tôi (có thể là tác giả) ngày
xưa đi dạy lớp b́nh dân học vụ cho các
bậc lăo nhiêu mù chữ,
được họ ''dạ thưa cô'' một cách
cung kính dù đương sự van xin họ nên gọi ḿnh
băng con hay bằng cháu. Nhưng họ không nghe v́ họ
tôn trọng lời dạy Đức Khổng Tử qua câu
''quân sư phụ'', làm cô thầy th́ chỉ có dưới
vua mà thôi.
Trên đất
Mỹ, nhân vật xưng tôi dạy t́nh nguyện miễn
phí tiếng Việt cho lũ choai choai thuộc hạn
đầu ḅ bướu cổ. Nhưng nhờ sụ
tận tâm và sự tế nhị của đương
sự mà lớp học được suông sẻ. Không
hiểu có phải do hồn thiêng Tổ Quốc và do tiền nhân phù hộ, hoặc
do ḍng máu chủng tộc luân lưu trong huyết quản
của lũ học tṛ hay không mà chúng học mau giỏi
tiếng mẹ đẻ, chẳng những chúng nói rựa
ràng tiếng Việt mà c̣n có đứa viết thư
về Việt Nam cho bà ngoại bằng tiếng Việt nữa.
Món quà thưởng tinh thần này làm nhân vật xưng tôi
hạnh phúc đến nỗi
không sao cầm được nước mắt.
* ''Sue'': Đây
là người bạn đồng nghiệp Mỹ của
tác giả tên Sue khi cả hai làm việc
tại hảng điện tử Textronix tại Oregon.
Đây là người phụ nữ da trắng giàu ḷng
từ thiện, không phân biệt chủng tộc màu da.
Chị ta lấy chồng gốc người Phi Châu.
Chị ta giúp đỡ dân tị nạn Đông
Dương và những ai đang khốn khó. Chị ta
đă nuôi đứa bé Căm-bốt mồ côi, nuôi luôn hai
thằng bạn lạc loài của nó. Hơn 10 năm
trước, Sue đă ly dị chồng v́ anh ta đă
tằng tịu với một phụ nữ khác. Nhưng
chị vẫn ở vậy để nuôi ba đứa con
ruột, ba đứa con nuôi và một bà mẹ già.
Khi tác giả
viết truyện ngắn này th́ Sue đă thiên cư về
New York. Mẹ chị ta đă chết. Chị ở chung
với cô trưởng nữ cũng lấy chồng
gốc Phi Châu như chị ta. Rồi một hôm, Sue
gọi điện thoại cho tác giả để hàn
huyên, để nhắc nhở những ngày cùng làm việc
chung với tác giả ở hảng Textronix.
Đây là
một khúc hoan ca tán tụng một tâm hồn thu nhỏ
tự ái (kết hôn với người đàn ông da màu mà
không mặc cảm, giúp tha nhân mà c̣n bị eo sèo bởi
miệng lằn lưỡi mối, ly dị người
chồng phản bội mà không thù oán). Sue thu nhỏ tự
ái vẫn chưa đủ mà
c̣n nới rộng t́nh bác ái thêm bao la. Một nhân vật
như thế chúng ta khó gặp
ở trong cuộc đời. Nhưng đối với
cây bút tin cậy cuộc đời như Song Thi th́ mới
có được cơ duyên kỳ diệu đưa
đẩy tới để chị kết bạn với
đương sự . Có vậy, tác giả mới có
dịp viết về cuộc đời của
đương sự để rọi ánh sáng tin yêu vào tâm
hồn độc giả giữa cuộc sống lọc
lừa, dối trá và tàn ác này.
(*) ''Thư
Không Niêm'': Đây là chuyện t́nh bạn bè của 5 học
sinh gồm có Tin, Vui, Ne, Kỳ, Hội và cô nữ sinh
Phạm thị Minh Trí (tên cúng cơm của tác giả). Họ là những học sinh tràn
trề nhiệt huyết, thường làm công tác từ
thiện cho xă hội và công tác văn nghệ cho nhà
trường. Thật ra, Tín hoạt động hăng say
cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, bị bắt,
trốn tù và chạy vào mật khu. Sau ngày sụp đổ
của Miền Nam Việt nNam, Tín trở về Sài C̣n
với thân vóc gầy g̣, khuôn mặt tiều tụy,
thường xa lánh các bạn cũ. Vui, Kỳ, Hội
nghĩ rằng Tín không muốn dây dưa với bạn
cũ v́ hắn không muốn họ lợi dụng t́nh bạn
cố tri để khỏi
bị họ xin xỏ điều này điều nọ
với hắn. Nhưng thật ra, Tín chán ngán chế
độ mà trước kia hắn cho là lư tưởng cao quư của
đời ḿnh. Khi tác giả vượt biên và
được định cư trên đất
nước HợpChúng Quốc, được nghe bạn
cũ kể lại rằng Tín bây giờ dùng rượu
để quên nỗi thất vọng v́ đi sai lầm
đường để rồi đút đầu vào
một chủ nghĩa không đáp ứng được
cái lư tưởng xa xưa của ḿnh.
Bức thư
không niêm của tác giả viết cho Tín vẫn là bức
thư thông cảm để chị chia sớt nỗi
khổ tâm của người bạn cũ. Niềm thông cảm
của chị đối với người bạn
xưa không v́ chính kiến, chủ nghĩa mà hao hớt,
lụn tàn. Nguyễn Hiếu Tín, Phạm văn Ne,
Nguyễn Hữu Kỳ, Giang văn Vui được tác
giả nhắc lại trong truyên ngắn ''Kỷ Vật
Trong Đời''.
* ''Chiếc
Quan Tài Quỳnh Đàn'': người bác của tác giả
là một trưởng giả có hai đứa con trai
đầu theo Cộng Sản. Nhưng người con
thứ ba là một chiến sĩ phe chủ nghĩa
Quốc Gia. Cô con gái kế là giáo sư Hội Việt
Mỹ; c̣n cô út thuộc thành phần tiểu tư sản,
có sạp vải ngoài chợ Đa Kao. Người bác
chỉ mong có ngày đất nước thanh b́nh, con cái bác
sẽ quay về dể bác chia gia tài gồm ngôi nhà
đồ sộ của ḿnh.
Nhưng khi Cộng Sản bạo chiếm Miền Nam
th́ nhà bác bị sung công, tụi chúng dành cho bác căn phố
nhỏ có thể bày cổ
hậu sự bắng gỗ huỳnh dàn. Tác giả đă
nhắn nhủ với người bác ấy như sau:
Con vẫn nhớ rơ một buôi trưa
nắng cháy, lũ nửa người nửa ngợm thao
dượt ''đánh trận trong thành phố'' đă leo theo
ống máng xối lên nóc nhà Bác và trổ xuống theo
đường nhà tắm, cầu tiêu. Bác giận dữ
đi t́m tên chỉ huy để phản đối,
khiếu nại về hành động xâm nhập gia cư
mà không xin phép, thằng chỉ huy tuổi đáng cháu
ngoại Bác đă hách dịch hỏi ngược Bác: ngày
chúng tôi đánh vào Sài G̣n chúng tôi có cần xin phép ''chú'' hay
không?
(trang 284)
Đây chỉ
là một trong muôn ngàn thí dụ điển h́nh của
bọn cướp được chủ nghĩa tồi
tệ ủng hộ (cướp đất, cướp
nhà, cướp gia sản, cướp cả tự do suy
nghĩ, tự do tín ngưỡng...). Xưa kia, nhà thơ
ngụ ngôn La Fontaine có bảo: ''Lư luận kẻ mạnh
bao giờ cũng thắng thế''.Có lẽ câu ấy
đúng trong trường hợp của tên chỉ huy kia
* ''Đóa
Hồng Cho Quê Hương'': Đó là thời gian tác giả
làm việc cho hảng
điện
tử Textronix. Vào chiều 30 tháng Chạp, chị
nhớ cái Tết nơi quê nhà
nên khóc tức tưởi các bạn đồng nghiệp
ngơ ngác không hiểu v́ sao chị khóc như thế.
Tới chừng rơ nguồn cơn tự sự, ông Ted
Wollam, xếp của chị hôm sau đến chị
một b́nh có cắm hai đóa hồng vàng và tấm
thiệp Happy New Year.
Hai mươi
năm sau, tác giả về hưu. Ông Wollam cũng đă
hồi hưu trưóc đó khá lâu. Các bạn đồng
nghiệp của chi phân rẽ tứ tán, nhưng hai đóa
hồng c̣n sáng măi trong kư ức và trong niềm cảm khái
sâu xa của chị. Lại nữa, đây là một câu
chuyện tin yêu giữa con người với con
người, nhất là con người có tổ quốc
đối với con người mất nước
sống nơi khách địa với tâm trạng bơ vơ lạc loài.
* Sau hết,
chúng ta có thể xem các
truyện ngắn ''Thư Gửi Chị'', ''Chị Hai Tôi'',
''Hiếu B́nh'', ''Mối Lo Của Người Chị''
thành 4 chương của một truyện vừa.
Chuyện kể: người chị lớn của tác
giả (trong truyện gọi là Chị Hai) khi c̣n ở
Việt Nam, sau cái chết của anh học sinh Trần
văn Ơn, chị cùng nhóm sinh viên học sinh chống
chính quyền Thuộc địa Pháp. Nhưng chị sa vào
lưới bẫy của bọn Việt Minh, thứ
Cộng Sản trá h́nh mượn chiêu bài chống Tây
để dụ dỗ những kẻ ái quốc chân chính
theo chủ nghĩa chúng . Chị Hai bị chánh quyền Tây
bắt giam, nhưng nhờ ông thân sinh của chị
vốn là bạn thân của Thủ Tướng Nguyễn
văn Tâm dàn xếp, chị được phóng thích và
được sang Pháp du học. Trên đất Pháp,
chị vẫn mê say chủ nghĩa Việt Cộng
để chống Mỹ mà chị cho rằng đó là
bọn Đé Quốc bởi v́ chị nghe lời tuyên
truyền xảo trá của Việt Công về vụ Mỹ
dội bom B 52 trên đất Bắc. Sau khi đỗ
bằng kỷ sư ngành dêt, chị về Miền Bắc
với tinh thần phục vụ quê hương.
Trước đó, chị lấy chồng ở Pháp,
nhưng sinh đứa con
độc nhất là Hiếu B́nh trên đất
Bắc. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Miền Nam rơi vào tay
giặc Cộng, chị trở về Sài G̣n phục vụ
cho ''bọn họ''. Chị có vẻ thất vọng v́ những lư do như sau:
Hai vợ chồng chị ở trong một
chung cư chỉ tiêu vừa rộng hơn một sàn
gỗ trải chiếu đủ hai người nằm;
chiếc thùng dựng xe đạp chở từ Pháp về
được dựng lên vừa làm vách pḥng, vừa làm
kệ tủ. Bếp là một ḷ duy nhất kê sát
tường lâu ngày ám khói đen kịt. Cầu tiêu là
cầu công cộng để người ta lấy phân bón
rau cải. Chị vui, hănh
diện v́ thời gian đầu ''nhà nước''
đưa chị và các bạn Việt Kiêu yêu nước''
của chị lên mút tầng mây bằng những lần
tuyên dương các chị là những ''phụ nữ
bắn máy bay Mỹ'' Suốt
thời gian ở Hà Nội, chị không hề được ăn nước mắm, nước
mắm của chị là loại nước tương pha
thêm muối, chị không dám ăn một miếng thịt
v́ chỉ tiêu của hai vợ chồng gom lại chỉ
đủ mua thịt cho thằng con cưng Hiếu B́nh.
Cũng theo lời chị tiết lộ
trong những lúc vui miệng: chỉ ''tuyên dương''
được vài năm đầu, ''nhà nuớc'' bắt đầu
bỏ rơi những
''Việt kiều yêu
nước''. Không những ''nhà nước'' làm lơ
với những hy sinh cao đẹp của chị cùng các
bạn chị, mà cứ đôi ba tháng, công an cứ
''gọi'' chị đến văn pḥng để vấn
nạn chị một câu được lập đi
lập lại nhiều lần: ''Chị ở Pháp
được đầy đủ tiện nghi,
đời sống sung túc... Chị về đây làm ǵ?
Chị là thành phần cộng sản Pháp, có phải
chị về để làm gián điệp cho Pháp
chăng?''.
(''Chị Hai
Tôi'', trang 302)
Chị Hai có
phải người Cộng Sản thuần túy không? Có
lẽ là không. Chị vẫn c̣n nặng óc gia đ́nh, đó
là cái óc lụn bại của thành phẩn tiểu tư sản
đối với Cộng Sản. Chị vẫn
thương yêu cô em Minh Trí ương ngạnh của ḿnh
v́ đương sự luôn tôn thờ chủ nghĩa
Quốc Gia. Chị sau khi định cư ở Sài G̣n,
vẫn t́m việc làm cho tác giả nhưng tác giả không
thấy thích hợp ngành nghề nào mà chị Hai đề
nghị. Riêng tác giả vẫn thương yêu thằng cháu
Hiếu B́nh của ḿnh, vẫn vừa thương vừa
giận người chị ruột của ḿnh. Thế
rồi tác giả cùng chồng con vượt biên,
được định cư ở tiểu bang Oregon,
trên đất nước Hợp Chúng Quốc.
Tác giả
vẫn thừa biết một điều: trong tận cùng
sâu kín của ư thức, chị Hai vẫn thấy ḿnh lầm. Nhưng tác
giả cảm thấy thất vọng v́ người chị ấy luôn bám
riết cái lư tưởng sai lầm của ḿnh và vào cái ảo ảnh
của thiên đường cộng sản. Cho nên trong
truyện ''Thư Gửi Chị'', tác giả đă
viết:
Tiếc rằng hai chị em ḿnh chọn hai
con đường khác nhau, hai ư thức hệ đối
nghịch, hai chị em ḿnh cách biệt hai chiến
tuyến, dù chị Hai biết sự chọn lựa ḿnh là
sai lầm chị vẫn tiếp tục nhắm mắt
phục vụ, không ''phản bội đảng'', sự
ĺ lợm, ương ngạnh đó là do gịng máu của Ba
chúng ḿnh để lại, em không chấp nhận con
đường chị đi nhưng đôi khi em phân vân
không biết ḿnh nên chê trách hay nghiêng ḿnh kính phục chị
ở sự trung thành, dù biết ḿnh lầm nhưng vẫn
không đón gió, trở cờ. Thôi đành vậy,
đường ai nấy đi, em vẫn tự hứa
''nhất định không về khi CS c̣n ngự trị trên
đất nước Việt Nam của chúng ḿnh''.
Hai mươi lăm năm, chị em ḿnh
như người xa lạ, không một bức thư
thăm hỏi, không một gói quà chia xẻ những khó
khăn chật vật mà em nghe về chị Hai, có
nhiều lúc em tàn nhẫn tự bảo ḷng: chị đă chọn
th́ chị phải chịu trách nhiệm về sự
chọn lựa của ḿnh...
(''Thư
Gửi Chị'', trang 294).
Nhưng
bởi sợi dây huyết thống thiêng liêng, bởi ḷng
vị tha mănh liệt, bởi
niềm thông cảm dạt dào, cho nên khi nghe thằng cháu Hiếu B́nh
của ḿnh điện thoại báo tin chị Hai nằm
bệnh viện chờ chết, tác giả vội vă về Việt Nam thăm chị
lần chót để khỏi ân hận suốt đời.
Và đương sự vẫn thương yêu thằng
cháu như hồi 25 năm về trước.
Chị Hai
lạc đường là do lư tưởng tôn thờ
sự công b́nh nhân ái
đối với nhân loại, do sư yêu chuộng
nền tự do độc lập dành cho xứ sở
của chúng ta mà ra. Ở đây có một vận sự
đau ḷng mà chị Song Thi không nêu ra. Trên đất Pháp,
sinh viên của nền Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam
đă từng khổ sở điêu đứng bởi
bọn đại sứ và bọn ngoại giao của hai
nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Ḥa
gây ra. Đó là bọn ngu xuẩn với căn tính ti
tiện trên đội dưới đạp, làm nhơ
nhuốc danh nghĩa ngành Ngoại Giao của đất
nước Miền Nam Việt Nam. Chúng khinh rẻ sinh viên
Việt Nam nghèo, ưa làm khó dễ đối với
họ để nịnh bợ bọn con ông cháu cha. Trong
khi đó, bọn đại sứ và bọn ngoại giao
của phe Cộng Sản luôn o bế và giúp đỡ các
sinh viên nghèo, dụ dỗ họ vào đảng hoặc gieo
cho họ lư tưởng và mầm mống thiên tả, hay
gieo cái ảo tưởng thiên đuờng được
xây dựng tên Xă Hội Chủ Nghĩa của bọn chúng.
Do đó mà các sinh viên Việt Nam trên đất Pháp bị
lừa phỉnh. Kẻ nào hồ hỡi về phục
vụ Việt Nam sau khi bọn giặc phương Bắc
cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, mới bật
ngửa ra: ḿnh đút cổ vào tṛng dây tḥng lọng. Như
thế, cái nguyên nhân chính yếu, cái gốc rễ của
hậu quả đắng cay đó có phải là do bọn
ngoại giao, bọn đại sứ phe quốc gia gây ra
không? Hỏi tức là trả lời vậy.
* * *
Thưởng
thức văn chương của Song Thi, tôi liên
tưởng tới văn chuơng của nũ sĩ Pearl
S; Buck (đoạt giải Noobel văn chương năm
1939). Cả hai đều có bút pháp thiết tha, văn phong
điềm đạm. Cả hai lại c̣n chân thành và
thằng thắn, nh́n cuộc sống bằng trực giác,
bằng thiên lương. Cho nên lối diễn tả
của họ đều dồi dào trực tính, không
ngụy trang lời dối gian hay che đậy những
điều giả tạo. Thế có nghĩa là họ
thấy sao viết vậy, không dùng lối văn uốn éo
ruột rồng, ḷng ṿng rột rắn, lắn quắn ruột
dê để làm dáng trí thức, hay ca tụng cái phù
phiếm, cái se sua thối tha, hoặc vun quén cái thói đê
tiện ác tâm của kẻ ngụy quân tử. Chúng ta
thử đọc toàn bộ''Good Earth' gồm 3 quyển;
''Good Earth (''Đất Lành'', năm 1931), ''Sons'' (Những
Người Con Trai'', năm 1932), '' và ''A House Divided'' (''Ngôi Nhà Chia Cắt'', năm 1935).
Chúng ta thấy nữ sĩ Pearl S. Buck ca tụng cái
đảm đang hiền lành của lớp nông dân, sự
tận tụy của những bà vợ quê mùa, những
thanh niên ưu tư với vận mạng tổ quốc.
Song song đó, bà công kích kẻ đầu cơ trục
lợi, bọn thổ phỉ, bọn mất gốc
chỉ thích hưởng thụ truy hoan, những kẻ
cuồng tín theo Cộng Sản v. v....
Song Thi không
cốt ư theo dấu chân của Pearl S. Buck khi chị làm
thơ mang nặng trách nhiệm với quê hương
chủng tộc. Nhưng chị giống bà Pearl S. Buck là
không ưa thi ca ủy mị, thi ca tán tụng cái
đẹp phù phiếm, hời hợt, rổng tuếch.
Trong cuốn thứ ba của bộ ''Đất Lành'', bà
Pearl S. Buck đả kích thơ của anh chàng Wang Seng
(Vương Tiên ) khi anh ta sáng tác loại thơ ca tụng
cái đẹp chết chóc của cô gái tóc vàng trên một
hải đạo tưởng tượng nào đó
dưới ánh trăng.
Song Thi cùng
với Nhă Ca, Linh Linh Ngọc, Ngô Minh Hằng, Ư Nga, Tạ
Tỵ, Diệu Tần, Hà Thúc Sinh, Lê Khắc Anh Hào, Hồ
Công Tâm, Bắc Phong, Vũ Kiện, Phạm Quang Ngọc,
Nguyễn Mạnh An Dân, Vũ Nam... là những chiến
sĩ can trường trong cơi văn chương cũng
như Nguyệt Ánh và Việt Dũng, Trương Sĩ
Lương, Nguyễn Quyết Thắng... là các chiến
sĩ đầy nhiệt huyết trong thế giới âm
nhạc.