- Truyện ngắn đầu tay anh
viết lúc nào, trong bối cảnh nào?
Truyện ngắn đầu tay của tôi? Thiệt tình mà
nói, tôi cũng không nhớ rõ. Bởi lẽ tôi đã viết lai rai từ thuở còn học trung học
và đại học. Hình như truyện ngắn đầu tay tôi viết về Diane, người em xóm học,
khi tôi từ Paris trở về Québec năm 1961, không còn nhớ rõ tựa, đăng trên nội san
Đất Lạnh số 1 của nhóm sinh viên Việt du học tại Québec chủ trương. Đất Lạnh ra
có mỗi một số thì toà soạn đóng cửa đình bản vì cụt vốn, các mầm non đại văn hào
đều bị bắt buộc nghỉ dài hạn không ăn lương.
- Trước khi nói về văn chương, xin lạc đề
một chút: hình như anh hơi kì thị chủng tộc? Anh đã chẳng mê toàn mấy cô đầm,
hết đầm Âu đến đầm (bắc) Mĩ. Hay là đầm dễ mê Kiệt Tấn hơn Mít?
Nói kì thị chủng tộc thì hơi quá đáng...
- Hay là vì dạo đó có lẽ thiếu con gái VN
đi du học? Hay là việc «giao du» trai gái VN có nhiều khó khăn, trở ngại (thí
dụ: không thể có «sex» nếu không cưới nhau?). Con gái VN khó «thương» hơn. Anh
nói sơ về khoảng thời gian du học ở Québec...
Thời buổi đó ở Québec chỉ có mỗi một cô
sinh viên người Việt, lại lớn tuổi hơn tôi và chỉ có những là xương. Đành chịu
thua. Sức người có hạn!
Mấy cô đầm mới ngó vô thấy lạ, bồ bịch rồi
thì cũng quen lần. Lên giường, lúc lâm trận mịt mờ thì cô gái nào cũng chỉ là
một cô gái thôi. Chỉ có chia động từ thì khác... Còn rên rỉ thì cũng y chang như
nhau... Còn chuyện viết lách. À!... Để tôi động não ráng nhớ lại coi. Nếu không
lầm thì Trước Mặt là truyện tình đầu tay của tôi được lên mặt báo, nhưng
báo nào thì tôi không còn nhớ rõ. Đó là sự nối tiếp của cuộc đời tình ái lăng
nhăng của tôi. Truyện kể tôi đến nhà đón một cô vũ nữ bồ bịch đi chơi. Trong lúc
ngồi chờ cô em trang điểm, tôi hồi tưởng lại những cuộc tình đã qua ba trật bốn
vuột của mình mà ngán ngẩm. Những Hoa, những Tuyết, rồi Diane, Louise, Danyèle,
những Nguyên, Hường, Nhung… đều lần lượt giã biệt. Buồn ơi! Ta xin chào mi.
Truyện kết thúc bằng những câu hỏi miên man không dứt: Cô em sẽ phụ tôi, tôi sẽ
bỏ nàng, tôi và nàng sẽ yêu nhau dai dẳng, nàng sẽ có con với tôi, tôi sẽ cưới
nàng, nàng sẽ bỏ tôi bất thần để đi lấy chồng? Hoàng hôn lần lữa năm hầu hết,
hờ hững ai xui thiếp phụ chàng... Tôi không còn dấu vết nào của truyện
Trước Mặt.
- Thời đó đưa vũ nữ bồ bịch đi chơi có «dễ
dàng» không? Vì giới nghiêm, thiết quân luật, vợ nhà… vân vân
Đưa vũ nữ bồ bịch đi chơi có «dễ dàng» hay
không là tuỳ ở tài nghệ và tâm tánh của mỗi người. Giới giang hồ có câu «chịu
chơi thì đừng có run». Nhắc giới nghiêm, tôi nhớ một lần đó, còi giới nghiêm vừa
hụ, tôi lật đật nhảy lên xe bốn bánh phóng ào ào từ quán nhậu ở Chợ Đũi về Hàng
Xanh, quẹo cua lỡ trớn lạc tay lái ủi sập bót cảnh sát ở gần nhà, may nhờ chỗ
công chức quen mặt nên sếp bót thông cảm ...
- Khi trở về VN, anh làm việc ở đâu? Làm
công chức cao cấp có chán không?
Tôi làm chuyên viên ở bộ Kinh Tế. Tánh
tình, tóc tai, áo quần dị hợm nên bị đì làm chuyên viên dài dài. Cho đến mười
năm sau, đùng một cái, được đề cử lên làm Giám đốc Định chuẩn. Nghề đó không ai
giành, không do bè cánh hay piston đẩy lên chi hết. Khi làm giám đốc một
cơ quan tự trị gồm toàn những người trẻ do mình tuyển dụng, tôi rất phấn khởi...
-
Truyện của KT đa số đều đưa vấn đề tình dục vào? Tại sao?
Câu trả lời thật ra khá đơn giản: Cuộc
tình nào của tôi cũng tay chưn rối beng, thịt da bát ngát, đồi núi chập chùng,
cỏ non mút mắt. Khi hồi tưởng và viết lại thì nó y chang như vậy thôi, cũng đất
trời choáng váng, thịt da bấn loạn, đâu có mất công gì phải đưa với đón tình dục
vào truyện hoặc hư cấu làm chi cho nó nhức cái đầu, mệt thằng nhỏ (Cười cười).
Xin cô Hai thông cảm.
Có lần, khi nói về tình dục, tôi đã minh
định: «Tôi viết về tình dục với mục đích cho độc giả thấy tình dục là một điều
tự nhiên và đẹp đẽ». Lần khác, khi viết về tôi, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận xét:
«Nhiều người cho là Kiệt Tấn viết bạo. Thêm điều này nữa: Bạo nhưng không bao
giờ nhớp nhúa. Thiếu cái trong sáng của Thạch Lam, tình yêu trong truyện Kiệt
Tấn lại gần hơn với sự thực, với cuộc đời» (Tuyển tập Kiệt Tấn, trang 476).
-
Anh có thể đưa ra một vài đoạn văn tiêu biểu của anh khi viết về
tình dục?
Khi đọc những truyện tình hôi hổi tình dục
của tôi trong Tuyển Tập, ở trang 17, Đoàn Nhã Văn đã phân tích và để ý được điểm
này: «Một trong những điểm đặc thù ở chữ nghĩa của KT, trong vùng cấm địa này,
là đặt nhiều cặp tính từ đằng sau một câu nói để nhấn mạnh điều diễn tả. Cặp chữ
này nối liền cặp chữ kia tạo nên những đợt sóng dập dồn trong dòng suy nghĩ
người đọc. Vì thế, người đọc thấy mình tham gia đủ đầy qua những vùng chữ nghĩa
mang hơi hướm đàn bà»:
Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào
nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đoá hoa thầm kín của nàng. Mềm
mại, ấm áp, trơn mượt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. (TNBN, Đêm Cỏ
Tuyết, tr. 56).
Chân tay hai đứa quấn quýt chằng chịt rối
beng, tưởng không thể tháo rời được nữa. Rên rỉ, năn nỉ, xô ra, quấn vào, cuồng
nhiệt, mê tơi, cực điểm, chết ngất… (TNBN, Người Em Xóm Học, tr.105)
- Cái gì anh cũng ngó, cũng mó, cũng sờ,
cũng nếm tuốt tuột. Ừ, dê dễ sợ: anh cầm cái bông bưởi, anh hửi cái bông hồng,
anh bồng cái bông cúc, anh hít cái bông mai, anh liếm luôn bông lys... Chẳng còn
chi là đoá hoa thành thị/ núi rừng/vương giả! Chẳng lẽ với đàn bà anh luôn «phàm
tục» như vậy sao? Chuyện tình của anh chóng vánh đi đến... đỉnh cao xác thịt,
phải chăng anh cố ý bỏ quên phần... trái tim? Trái tim thì rất khó sờ mó! Bởi
cách một lớp thịt mỡ!
(Đưa hai tay lên trời)
Ối! Tôi chỉ sờ nếm cái gì mà đàn bà có
thôi, chớ tôi đâu có sờ mó cái gì đàn bà không có đâu mà cô Hai cự nự? (Giở
Tuyển Tập ra) Ở trang 492, Thụy Khuê đã nhận xét: «Đứng trước vẻ đẹp của
người đàn bà, Kiệt Tấn trở thành thi sĩ. Văn ông không hề gợi dục, khi viết
dường như có chất thơ đâu đó lãng đãng bước vào. Nhục cảm của thi nhân bỗng
nhiên trong sạch lắm:
- Hương nắng còn đọng trên da lụa, tay
khua tưởng đánh thức mặt trời, dục lên sóng biển và điệu tây ban cầm sẽ phả ra
từ khung cửa sổ khuất kín của nàng. Dấu cỏ mất còn đó? Dấu bầm bên vú trái còn
đó. Lời thề yêu em suốt đời còn đó. Tôi nựng nịu gò tình. Hôn lên ẩm ướt. Yêu.
Yêu.»
(TNBN, Người Em Xóm Học, trang 113)
Đó! Cái cung cách yêu đương và thưởng thức
đàn bà của tôi là như vậy đó. Viết về tình dục kiểu đó cô Hai có bị dị ứng
không?
-
Dạ dị ứng thì không dị ứng, chỉ thấy hơi sấm chớp... giùm mấy
nàng. Toàn là những người nữ tội nghiệp hết sức. Thôi xin hỏi tiếp câu sau. Rất
nhiều ca dao trong truyện KT. Tại sao?
Tôi được cái may mắn là từ thuở lọt lòng,
tôi sống ở nhà quê và xóm bình dân. Lối xóm ai ru con cũng đều biết ầu ơ ví dầu
vài ba câu ca dao. Má tôi cũng biết ầu ơ… Ví dầu ví dẩu ví dâu, ví qua ví lại
ví trâu vô chuồng. Hoặc: Má ơi đừng đánh con đau, để con hát bội làm đào má coi.
Rồi lớn lên, khi đi học, nhờ học giỏi, tôi được lãnh thưởng mấy quyển sưu tầm
tạp lục ca dao, tôi đọc thấy sướng ran, bèn đọc đi đọc lại nên thuộc lòng hồi
nào không hay. Khi cầm bút lên viết thì nó cứ rỉ rả tuôn ra vậy thôi chứ chẳng
có bí quyết gì hết ráo. Hơn nữa, khi viết về miền Nam ruộng đồng mút mắt, sông
nước tư bề, khi viết về những người bình dân sống nơi miền đất này mà không có
hò hát, không có ca dao, tôi nghĩ là một thiếu sót lớn. Hò hát và ca dao tạo
được bầu không khí quê mùa cho truyện viết, cũng hợp tình hợp cảnh lắm chớ. Nên
lắm! Ngoài ra, khi còn đi học, đôi khi tôi còn dùng ca dao để chim gái, như dụ
dỗ cô Hoa trong Bến Đò Trao Thơ khiến cho cô xiêu lòng mà trao duyên cùng
tướng cướp: «Hãy thề với anh hết miễu qua chùa, Ai cho anh uống thuốc bùa anh
mê?» Rụng rún chưa em Hai?
-
Dạ rụng là cái chắc, nhất là mấy em nào tưởng ca dao là thơ
anh... làm thiệt. Tiêu tùng mấy hồi cả một đời huê!! Bây giờ xin nói chuyện liên
hệ... với nhóm sáng tạo (Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền…) như thế nào?
Nhóm Sáng Tạo à? Để coi… Nói gần nói xa
không qua nói thiệt. Tôi nghĩ sở dĩ nhiều người tưởng rằng tôi có liên hệ nhiều
với nhóm Sáng Tạo là vì Sáng Tạo đã đứng tên xuất bản Điệp Khúc Tình Yêu Và
Trái Phá, tập thơ đầu tay của tôi năm 1966. Thiệt ra, khi tôi về nước khoảng
cuối năm 1963 thì tờ Sáng Tạo đã đình bản. Tôi cùng nhiệm sở với Cung Tiến nên
nhân một dịp đi chơi chung, Cung Tiến có ghé ngang Thị Nghè giới thiệu tôi với
Mai Thảo và Anh Ngọc ca sĩ khi đó đang lai rai ba sợi.
-
Giao tình Kiệt Tấn với các vị ấy ra sao?
Rủi thay, Chưa gặp anh, em đã có bầu !
Mới gặp nhau lần đầu mà tôi và Mai Thảo đã chạm súng lẻ tẻ (Cười cười).
-
Anh còn nhớ lí do cuộc chạm súng đó không? Sau này bác Mai Thảo
mỗi lần sang Pháp có gặp lại anh không? Và rồi sao nữa hả anh Kiệt Tấn?
Cũng chẳng có trăng sao gì hết. No
stars where! Nói tiếp. Sau khi tờ Sáng Tạo đình bản thì Mai Thảo quay sang
làm tờ Nghệ Thuật, toà soạn toạ lạc tại đường Phạm Ngũ Lão, máy in cũ mèm chạy
xầm xập như trời đổ mưa. Viên Linh làm thư ký toà soạn, Anh Ngọc thủ quỹ. Ca sĩ
nhà ta thủ rất kỹ nên tôi chẳng bao giờ được trả nhuận bút. Tới toà soạn chơi
thỉnh thoảng gặp Thanh Nam, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Tạ Tỵ, Phan Lạc
Phúc, Cung Trầm Tưởng và nhiều tay khác nữa. Bài thơ đầu tiên của tôi đăng báo
Nghệ Thuật hình như là bài Biết Bao Giờ tặng Lộc và Diane. Trong những
bài kế tiếp, có nhiều anh ngợi khen bài thơ Dòng Sông Và Con Thuyền 20 Tuổi
của tôi. Trong nhóm, có lẽ tôi còn lỏi nhứt thời đó.
- Còn chuyện «bắn» nhau?
Mai Thảo khi đó tiếng tăm lẫy lừng trong
giới văn nghệ, "rằng nghe nổi tiếng cầm đồ". Mai Thảo ra cái vẻ đàn anh văn
nghệ, còn tôi thì chẳng có viết lách gì. Văn nghệ văn gừng không mắc mớ gì tới
tôi hết. Do đó mà có chạm súng lẻ tẻ. Sau này, thỉnh thoảng Mai Thảo sang Paris
chơi, có gặp tôi vài lần. Một bận, tôi rủ Mai Thảo và một số bạn bè: Ngọc Dũng,
Thái Tuấn, Nguyễn Cầm, Nguyễn Hưng Quốc... về nhà nhậu nhẹt. Lần này thì chạm
súng lớn hơn với Mai Thảo về chuyện ăn uống. Cứ cái giọng kênh kênh "Bắc kì là
nhất" thì làm sao mà chịu đời cho thấu? Còn Thái Tuấn, hồi ở Sài Gòn ngày trước
chỉ gặp nhau có một lần: bữa đó tôi xỉn quá xỉn nên bật ngửa cười hả hả trong
buổi nhạc thính phòng tổ chức tại nhà một ông Bộ trưởng chịu chơi. Sang Pháp,
thường lui tới với nhau vì hợp tính. Thái Tuấn tặng tranh miễn phí là tôi chíp
ngay. Thích lắm.
- Có còn cuộc "chạm súng" nào khác nữa
không?
Thì thỉnh thoảng đi ăn nhậu với nhau cho
vui vậy thôi. Tôi vốn không thích bàn cãi hay tranh luận văn nghệ. Tôi chủ
trương "Viết không có chủ trương", và viết từ bên trái sang phải, từ trên xuống
dưới là ăn chắc. Thời viết cho tờ Nghệ Thuật, thỉnh thoảng tôi xách một chai
Johnny Đi Bộ tới toà soạn, rồi kéo nhau đi nhậu. Thế là xong.
-Trước
đây anh đọc tác giả VN nào. Anh thích ai? Tại sao? Anh có đọc tác giả hiện nay
trong nước không?
Tôi đã có dịp trình bày ý kiến mình về văn
chương Việt trong bài Thơ Văn Quê Nhà Trong Trí Nhớ đăng trên Văn Học số
203&204 năm 2002. Nhắc lại, khởi đầu tôi đọc và học thuộc lòng Quốc Văn Giáo
Khoa Thư, kế tiếp là quyển tiểu thuyết đầu tiên Đồng Quê của Phi Vân,
theo sau là các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn cùng với các tiểu thuyết nẩy lửa
của Vũ Trọng Phụng, trinh thám của Thế Lữ, Phạm Cao Củng... Vài truyện ngắn và
tùy bút của Võ Phiến, Mai Thảo, truyện tình của Nguyễn Đình Toàn, biên khảo và
truyện phong tục Miền Nam của Sơn Nam. Thơ thì đầu tiên là Lỡ Bước Sang Ngang
của Nguyễn Bính, theo tiếp là các nhà thơ Tiền Chiến. Rồi thì chiến tranh Pháp
Việt bộc phát, kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ, đình chiến và chia cắt đất nước
năm 1954. Thời kỳ từ 1954 đến 1975, chiến tranh Mỹ-Quốc-Cộng phừng phực đổ lửa,
đất nước loạn cào cào, tôi đọc sách lung tung nhưng phần lớn thì ham chơi hơn là
ham đọc và viết. Thời kỳ này, tôi thích Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa,
Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tạ Ký, Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên,
Nhã Ca và còn những ai nữa, nhưng quanh đi quẩn lại thì vẫn là những người làm
thơ, phần lớn.
Cũng nên nhắc lại là tôi thuộc thế hệ 40
nên lãnh đủ cuộc chiến tranh đằng đẵng 30 năm Pháp-Mỹ-Quốc-Cộng từ 1945 đến
1975. Thiệt là chó chết! (Lắc đầu).
-
Anh thích Nguyễn Bính và trích dẫn ông thi sĩ này khá nhiều,
nhưng thơ anh không có tí ti âm hưởng của ông ấy.
Tôi khám phá Nguyễn Bính lúc 13, 14 tuổi
gì đó. Thuở tôi bắt đầu biết si tình đàn bà con gái... và âm thầm đau khổ y hịch
như sư phụ mình vậy. Tôi không hề có tham vọng làm một Nguyễn Bính thứ hai. Bởi
lẽ đó là cách tự sát tốt nhất.
-
Hiện nay anh còn giữ được liên lạc với ai? Những suy nghĩ của KT
về văn học trong và ngoài nước? Và về những bạn văn của anh.
Để đáp câu này, tôi lại dựa vào bài viết
Thơ Văn Quê Nhà Trong Trí Nhớ đã nhắc lại khi nãy. Nhưng lập lại những ý
kiến đó thì dài dòng lắm. Nếu tò mò muốn biết thì xin tìm đọc bài đó.
-
Anh nghĩ sao về tương lai (có vẻ đìu hiu) của văn học Việt Nam
ngoài nước?
Khi nói về văn học ngoài nước, tôi tự ý
giới hạn trong phần sáng tác bằng Việt ngữ. Theo tôi nghĩ, môi trường
sống dài hạn của các sáng tác bằng tiếng Việt phải là nơi mà mọi người đều đọc
được tiếng Việt, nói được tiếng Việt và viết được tiếng Việt. Vì có như vậy mới
có người thưởng ngoạn, phê bình và bàn cãi. Một điều rõ boong: Môi trường đó
phải là đất nước Việt Nam. Ngoài nước, các sáng tác hải ngoại bằng Việt Ngữ chỉ
sống ngắc ngoải như người bị bệnh nan y, sống vất vưởng như một lũ cô hồn. Bởi
lẽ ấy, tôi mong là một ngày nào đó, một ngày đẹp trời, các sáng tác hải ngoại sẽ
được hồi hương, chấm dứt kiếp sống lưu đày, và được in lại trong nước. Chuyện
này không mắc mớ gì tới cộng sản cộng siếc gì hết. Chế độ nào rồi cũng phải có
ngày chấm dứt. Còn sờ sờ đó cái màn cộng sản Nga sập tiệm, phần cộng sản Tàu thì
giờ đây còn tư bản hơn cả Mỹ. Chớ cộng sản mà cứ «kéo dài xa tít tận chân trời»
thì bỏ mẹ người ta hết sao? Nếu sau này chẳng may không có cơ hội nào được in
lại trong nước thì tất cả những sáng tác Việt Ngữ có giá trị tại hải ngoại sẽ
trở thành những mối tình ôm xuống tuyền đài chưa tan ráo trọi!
-
Biết đâu được sẽ có những giọt nước mắt Mị Nương bất ngờ? Nói
chuyện gần gần cho dễ kiểm chứng, thưa anh. Ai cũng thở than cho tương lai của
văn thi sĩ hải ngoại, anh thấy đúng không? Anh xủ cho một quẻ coi.
Thì thôi, thể theo lời yêu cầu của cô Hai,
tui cũng làm gan đứng ra làm thầy rùa, rờ mu rùa mà xủ cho một quẻ, nếu không
trúng thì thế nào cũng trật, mất mát gì đâu mà sợ! Theo tôi, biến cố lịch sử
tháng Tư 75 đã làm phát sinh hiện tượng văn học hải ngoại. Và như mọi hiện tượng
trong trời đất, nền văn học hải ngoại đã sống như một hiện tượng, rồi giờ đây
mãn hơi đang thoi thóp như một hiện tượng, để rồi sẽ biến đi như một hiện tượng.
Một điều rõ rệt, trong lãnh vực sáng tác bằng Việt Ngữ tại hải ngoại, số lượng
người viết càng ngày càng ít đi, số lượng người đọc cũng càng ngày càng ít đi.
Tuy nhiên bù lại, nhờ có mạng lưới nên hiện nay người viết tại hải ngoại đã mở
rộng lượng người đọc của mình về địa bàn trong nước. Nhưng (lại nhưng!), ngày
nào tại hải ngoại hết còn ai sáng tác «ra hồn» nữa thì cũng đành ngủm củ tỏi mà
thôi! Bó giò! Xin kiếu gia chủ ta thăng!
- Khoan! Khoan thăng đã thưa anh Kiệt Tấn.
Anh có bi quan quá đáng không, bởi vì như anh đã nói, nhờ mạng lưới truyền
thông, sáng tác, sách vở đôi bên trong và ngoài nước hầu như không còn biên giới
nữa, và chuyện giao lưu, du lịch đôi bên cũng mở rộng: thì đến một ngày nào đó,
khi chế độ độc tài nhiều ngăn cấm răn đe này cáo chung, khi đó việc phổ biến, in
ấn, trao đổi... kể cả tương lai văn học trong ngoài lúc bấy giờ không còn là vấn
đề nữa. Nhưng (lại nhưng!) đó là chuyện... tương lai. Anh chưa trả lời mục các
bạn văn của anh.
Cô Hai đã trót la «Khoan! Khoan!» rồi thì
phải xuống vọng cổ để tui đây / Tây đui còn phựt đèn màu chớ! Thì thôi, khoan
khoan ngồi đó chớ ra. Như đã nói hồi đầu, tôi không thích bàn cãi hoặc tranh
luận chuyện văn chương. Tôi chỉ chú trọng phần sáng tác. Tôi thấy phe ta cứ cãi
gì mà cãi nhau như giặc, cãi như mổ bò. Có cầm bút lên mà sáng tác hay không thì
bảo? Cũng bởi lẽ không thích tranh cãi văn nghệ nên không có luôn trao đổi
văn-gừng, do đó làm sao mà có được bạn văn-dênh? Bạn nhậu thì có, cái đó thì
không. Bạn cầm bút, nếu có gặp nhau thì cũng rủ đi nhậu. Nhưng rủi thay, cũng có
người thích uống nước dừa, uống sữa đậu nành, hột é lười ươi hoặc sương sa hột
lựu. Mấy cha nội này thuộc phe «trà đá chanh đường». Thì mấy chả rán mà chịu cho
quen! Làm gì mà cứ nằng nặc chê rượu như mèo chê mỡ: «Em chả! Em chả!», nghe sốt
cả ruột.
-
Cách dựng truyện của anh như thế nào? Hình như anh luôn luôn chủ
trương «nói hết, nói thiệt chăm phần chăm»?
Hầu hết những truyện tôi viết đều là tự
truyện, nên «Có xao nói dậy người ơi! Xin người đừng gian dối đời nhau!».
Tuy nhiên, tôi không phải là một người đêm đêm kể chuyện đời xưa cho con nít
nghe hay một ký giả chiến trường viết bài tường trình cho một tai nạn tình ái
kèm theo ảnh chụp. Về cách dựng truyện, trước khi viết, tôi hồi tưởng lại cuộc
tình của mình, sau đó tôi sắp xếp các sự kiện, các chi tiết để cho chúng xuất
hiện theo một thứ tự nào đó mà tôi thấy là «hết xẩy». Tôi thường đảo lộn trật
tự, cắt đổi thời gian, hoán chuyển không gian. Khi viết, tôi cố gắng tôn trọng
sự thật tới mức có thể được. Thứ nữa, thêm một điều quan trọng: Độc giả chỉ
muốn đọc một truyện hay chứ không nhất thiết phải là truyện thật một trăm
phần trăm. Họ cóc cần, có thể nói thẳng ra như vậy. Thế nhưng nếu hư cấu quá
trớn, truyện viết thấy «xạo» rõ ràng thì độc giả cũng chịu đời không thấu.
Xem xong nàng khẽ thở
dài, người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?
-
Khi viết anh quan tâm điều gì nhất? Chủ đề? Hình thức? Anh hạ
bút viết thẳng một lèo hay «đứt rồi lại nối», cần một chỗ yên tĩnh, nghe nhạc,
uống rượu, hút thuốc lá?
Có những truyện tôi viết suông sẻ, có
truyện viết xong tôi xé hết, viết lại từ đầu. Tôi viết chậm, có thể nói là rất
chậm, sau đó là đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại, có khi thời gian sửa còn nhiều
hơn cả thời gian viết. Không hiếm những lần tôi sửa tới sửa lui sửa xuôi sửa
ngược một câu cho chán chê rồi cuối cùng trở lại giữ câu đầu tiên viết ra. Khùng
thiệt! Tùy cảm hứng, có khi tôi viết cho tôi, nhưng phần lớn là tôi viết cho
người đọc. Khi sửa chữa bản văn, tôi đặt mình vào địa vị người đọc, tôi sửa
tới sửa lui, đọc đi đọc lại nhiều bận rồi tự hỏi: Liệu đọc như vầy đã sướng
chưa? Cái cảm giác chung chung mà tôi đón nhận được ở những người đọc truyện
của tôi là «đã». Đọc thấy đã (sướng ran!). Như đã đời! Như nuốt vô
thấy đã. Nhậu biết đã. Gãi đúng chỗ ngứa, đã quá đã!
Nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu. Đã ơi là đã! Tui
nói thiệt đó cô Hai. Cô cứ thử đi thì biết.
Hầu hết những người phê bình sáng tác của
tôi đều đi tới cùng một nhận xét chung chung: Kiệt Tấn sống thật, viết thật.
Kiệt Tấn sống hết mình, viết hết mình. Và Thụy Khuê đã chung kết nhận định:
«Cung cách đặc biệt dấn vào văn chương như thế, mấy khi chúng ta gặp được.»
(Tuyển Tập, tr 499)
Bên cạnh cái cảm giác đã là cười.
Khi theo dõi truyện của tôi, bỗng phát bật lên cười một tiếng. Có nàng cho biết
đã bị đấng ông chồng yêu dấu chất vấn: «Bộ khùng tới nơi rồi hả? Sao khi không
phát cười khơi khơi một mình vậy?» Dẫu cho truyện tôi viết có kết cuộc không
khá, kết cuộc không có hậu, kết cuộc buồn hiu buồn hắt đi nữa thì vẫn cười hoặc
mỉm cười lai rai suốt khi đọc truyện.
Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ!
Những nhà phê bình đều cùng nhau đi tới
chung nhận xét: Kiệt Tấn dí dỏm, hóm hỉnh, tinh nghịch. Rất tiếc chưa có
ai viết một bài đặc biệt có dẫn chứng về điểm này cho vui nhà vui cửa. Theo chỗ
tôi nghĩ, trong đời sống, nụ cười giải toả được rất nhiều chuyện rắc rối,
loạn tâm, nhức đầu, táo bón. Tôi rất nghi ngờ, dị ứng và sợ run sự nghiêm chỉnh.
Một điều hiển nhiên: bộ mặt đạo đức giả bao giờ cũng phết lên mình một lớp sơn
nghiêm chỉnh. Ai không đồng ý điểm này xin hãy thay bộ đồ lớn, thắt cà vạt đen,
giơ cao tay lên và đứng dậy bước lên bục gỗ lớn tiếng phản đối… một cách nghiêm
chỉnh! Một cách nghiêm chỉnh, please! S'il vous plaît! Yakitori! Phần
tôi, tôi xin được phép bận xà lỏn rằn, ngồi tại chỗ, giơ cao tay lên và đứng
dậy… dết toa lô, dô toa
lết. Sorry ! Désolé ! Hara kiri !
-
Khi dựng và viết truyện, anh chú trọng phần nào nhứt? Phần đầu,
phần giữa hay phần cuối?
Khi thực hiện Tuyển Tập Kiệt Tấn,
tôi bắt buộc phải đọc lại hầu hết các truyện mà tôi đã viết ra. Nhứt là với
những truyện đã được tuyển chọn, tôi phải dò tới dò lui để sửa chữa từng chữ
một, hoặc để bổ túc hay cắt bỏ một vài chỗ, một vài đoạn mà mình không ưng
ý. Trong lúc đọc lại các truyện viết của mình, tôi không khỏi ngạc nhiên khi
nhận thấy phần lớn cách dựng truyện với nhiều đề tài khác nhau của tôi, dù không
cố tình, cũng có điểm giống nhau chung chung. Đó là cách thức vào truyện và
phong cách ra khỏi truyện. Mở đầu, bằng một hình ảnh lóa chóa, tôi thường
ném độc giả thẳng vào cuộc tình hay câu chuyện sắp được kể, đâu khoảng giữa
chừng, khiến cho độc giả hoang mang không biết chuyện gì đã xảy ra trước đó, để
rồi tò mò theo dõi, chờ đợi được giải thích, sự lôi cuốn đã được tạo nên. Rồi
câu truyện được kể ra, không nhứt thiết theo thứ tự thời gian. Tôi sử dụng rất
nhiều hình ảnh, rất nhiều sự kiện, rất nhiều chất sống thực, rất nhiều trải
nghiệm, nói tóm rất cụ thể. Phần kết thúc, tôi thường đưa độc giả ra
khỏi truyện bằng một xúc động. Cái cảm giác mà tôi muốn để lại cho người
đọc là một nỗi bâng khuâng, man mác, có khi là một chút ngậm ngùi, tiếc nuối, có
khi là một hoang mang, nghi vấn. Truyện tôi viết hiếm khi có kết thúc vui, một
happy end. Ý thì vậy nhưng không biết là tôi có tạo được xúc động mong
muốn hay không, ngòi bút tôi có dẫn dắt độc giả vào những vùng cảm giác đó được
hay không. Một đôi lần, có người cho biết là sau khi đọc xong truyện tôi viết đã
ngùi ngùi sa nước mắt. Còn tôi thì khi viết, tôi đã nhiều lần khóc nghẹn ngào,
đành phải buông bút ôm mặt khóc ngất. Hoài niệm thương động. Ôi! Những hoài niệm
thương động! (cúi mặt, bùi ngùi)... Theo cảm quan của tôi, sau khi đọc
xong bất cứ một truyện nào đó, điều đáng kể là một chút cảm giác khó quên, một
chút ám ảnh khôn nguôi, một chút không khí lạ lùng, một chút ấn tượng nhớ hoài
còn sót lại ở người đọc. Truyện viết được như vậy mới có thể gọi là thành công,
là «đạt». Bởi lẽ đó nên khi cầm bút, tôi viết theo cảm quan của tôi, tôi
viết theo tính khí của tôi chớ tôi không viết theo một chủ trương nào hết, cho
dù chủ trương đó mới toanh hay cũ mèm.
-
Anh viết rất ít về tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của chính đàn bà?
Bà nào cũng «đồi núi chập chùng, cỏ hoa tưng bừng rậm rạp, động hang thăm thẳm»
nhưng nhịp đập trái tim và sóng gió tâm hồn họ ra sao ít ai biết? Chỉ thấy «họ»
rất «dễ thương», nhiều tình cảm, chất phác, mộc mạc, nhất là... dễ tin. Nhưng đó
cũng chỉ là « cảnh trí » bên ngoài. Anh có thấy vậy không? Thật sự anh nghĩ sao
về họ?
Đàn bà… Lại đàn bà!
(Gật gù, đầy vẻ cảm khái)
«Nghĩ sao về đàn bà?»,
cô Hai hỏi chi khó vậy? Có câu nào dễ hơn không? Chẳng hạn đàn ông gặp đàn bà
nơi thanh vắng thì làm cái gì? Hoặc: Thấy người đàn bà mặc áo hở ngực rộng có
đôi vú lớn thì KT ngó cái gì trước? Ôi thôi! Thiếu gì những câu hỏi dễ ợt, sao
cô Hai không chịu hỏi? Lại đi hỏi «nghĩ sao về đàn bà?», Là giết đời nhau đấy
biết không? Nhưng giờ đây cô Hai đã trót quăng câu hỏi nhớn lên không trung
rồi thì tui cũng phải cố gắng động não để giả nhời sao cho lọt lỗ tai cô Hai:
Trước nhứt, tôi đến với đàn bà khôâng bằng trí tuệ cho nên hỏi tôi nghĩ sao về
đàn bà thì tôi đành quăng khăn lên đài chịu thua. Tôi đến với đàn bà bằng đam
mê, bằng rung động, bằng linh tính và bằng năm giác quan trời cho: Thấy,
nghe, sờ, ngửi, nếm. Y chang như loài thú vậy. Có đi thực tế mới hiểu được
lòng dân. Bằng không thì chỉ nói khơi khơi về đàn bà, hư cấu khơi khơi về đàn bà
mà chưa hề đụng tới một sợi lông, một sợi tóc nào của nàng hết. Như thầy tu
chính cống mà lại đi thuyết pháp về đàn bà thì nhứt định phải hỏng bét là cái
chắc!
«Sờ nếm nghe thấy» đàn bà? Vẫn rất là cụ
thể! Vẫn rất là thể xác. Anh xác nhận đến với đàn bà không bằng trí tuệ, mà bằng
đam mê, bằng rung động, bằng linh tính và bằng năm giác quan trời cho: Thấy,
nghe, sờ, ngửi, nếm. Y chang như loài thú vậy.
Vì sao? Vì theo tôi, chỉ có cách đó mới
thực sự xâm nhập được đối tượng và thực sự thấm nhập được tâm trạng người nữ ...
-
Thấm nhập được bên trong bằng «sờ» bên ngoài: nghe ra cũng rất
là... tụng ca thân xác; rồi thì sao ạ? Người đàn bà nào cũng chỉ duy nhất «lồ
lộ, dày dày» một thể xác? Mà về thể xác ấy, độc giả cũng không nghe thấy anh hỏi
như ai kia «cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?» Những người nữ của anh hình như là
những con búp bê tội nghiệp, yếu đuối và... nạn nhân. Bộ anh không có ý nghĩ nào
về đàn bà «siêu» hơn một chút?
(Ngần ngừ).
Thiệt khó mà diễn tả được rốt ráo những gì tôi nghĩ về đàn bà. Mà nghĩ lại,
thiệt tình có bao giờ tôi nghiêm chỉnh bóp trán nghĩ ngợi về đàn bà đâu! Tôi chỉ
biết ham sống. Tôi chỉ biết si tình và đam mê đàn bà. Nhưng sự ràng buộc mật
thiết giữa tôi với đàn bà nó kỳ lạ lắm. Nó vượt ngoài lý luận, ngoài phân tích.
Tôi không diễn tả nổi!
-
Anh thú nhận là không nghiêm chỉnh suy nghĩ về họ, nhưng nếu
chẳng diễn tả nổi thì anh cứ thử nói đại coi. Tuy nói vậy chứ anh hãy thận
trọng, nhiều nhà nữ quyền đang «dòm chừng» anh đó. Coi như đây là câu hỏi thách
thức: về đàn bà, dường nhừ anh chỉ biết «yêu» cái thể xác, còn về cái «tinh
anh»? Có ai thấy anh viết về nỗi đau, ước mơ hay nhu cầu, hoài bão, khó khăn của
họ trong đời sống? Và nếu đàn bà mặt mũi xấu xí, ngực lép, mông teo hoặc quá dữ
dằn, quá trí thức, hoặc «đòi» được «yêu toàn diện» thì anh... tính sao?
(Cười cười):
Nói đại? Chết bỏ! Lại mấy bà nữ quyền! Mấy bà dòm chừng thì có dòm chừng thiệt
đó, nhưng «ngó thấy» thì chưa chắc đã ngó thấy được cái gì. Các bà «nữ quyền» có
cái quyền của người nữ, thì cứ tha hồ phất cờ khởi nghĩa đòi cái quyền của mình.
Tôi không có quyền gì hết ráo, bởi lẽ đó muốn giành quyền với tôi cũng khó lắm
thay! Lạ lắm: khi đàn ông chúng tôi mó tới các bà là các bà la toáng cả lên: nào
là đồ lợn lòi, chỉ biết ham muốn hành dục với đàn bà, thứ đồ mắc dịch! Nhưng thử
tưởng tượng, một ngày đẹp trời nào đó, nhờ ánh sáng Phúc Âm chiếu rọi, bọn lợn
lòi chúng tôi hết còn ham muốn mó tới các bà nữa thì chừng đó các bà chỉ còn
nước rút khăn mù soa ra mà lau lệ thương tiếc cho thời đại vàng son đã mất. Rồi
đây các cô gái già biết đổ đâu cho hết! Đổ xuống sông sấu chê, đổ xuống biển cá
mập lắc đầu! A, vẫn còn câu hỏi thách thức: Về đàn bà, dường như anh chỉ biết
«yêu» có cái thể xác? Với tôi, cái thể xác của người nữ là để ôm ấp, thưởng thức
và chung vui. Còn cái «tinh anh» là để chiêm ngưỡng, trân quý và duy trì liên
hệ. Nếu cứ đem cái tinh anh ra mà «blablaba» thì cũng chỉ là bói mò, tán hươu
tán vượn để kiếm điểm với các nàng (hầu kiếm chút cháo?)... Trong truyện tôi,
qua các cuộc đối thoại và hành xử của các nhân vật nam nữ, người ta cũng có thể
đoán biết được cái «tâm tình» và cái «tinh anh» của các nàng. Bởi lẽ nếu đem cái
linh hồn ra mà cắt xẻ cho «banh xà rông» thì còn chi là nghệ thuật? Còn hỏi tôi
tính sao với mấy bà «xấu xí, ngực lép, mông teo»? Nói gần nói xa chi cho mệt.
Mẫu người đó tôi không có cơ hội xáp vô nên chưa hề bị đòi yêu trí thức, hoặc
«yêu toàn diện». Vì vậy tôi chưa biết «giả nhời sao cho phải lẽ». Phải hỏi lại
thằng bé. Thằng nhớn tuy hết sức xuề xoà nhưng ngược lại thằng bé vô cùng khó
tính. Nhiều khi «trên» bảo mà «dưới» nó cứ nhứt định không nghe. Cứ gục mặt «em
chả! em chả!» Thiệt là kẹt! «Giờ thì cũng yêu mà yêu... yếu xìu!»
-
Hình như anh dùng những luận điểm luận cứ rất chung chung, y như
lúc phòng trào nữ quyền phát triển trong những năm 70 thế kỉ 20. Khi các nhà nữ
quyền... phất cờ ở phương Tây, các ông tây cũng phản pháo bằng từng ấy lời phê
(vu cáo). Nói như thế là giản tiện hoá vấn đề.
Nếu các bà nữ quyền cứ nằng nặc «Em chả!
em chả!» hoài thì sẽ có ngày: đi đâu mà chẳng lấy chồng? Người ta lấy hết,
chổng mông mà gào. Mở ngoặc, một giai thoại: bữa nọ một cô gái già từ lâu
sống một mình, lén gọi điện thoại đến bót cảnh sát nhờ ông Cò tới bắt hai cha
con thằng ăn trộm đang trốn dưới gầm giường của mình. Cô dặn thêm: «Ông nhớ chỉ
bắt thằng cha già thôi nghe, còn thằng nhỏ để lại cho tui». Đóng ngoặc.
Trở lại tiết mục «đàn bà». Hồi đầu, Nguyễn
Hưng Quốc đã nói lai rai về ba cái tình dục của KT rồi. Giờ xin để cho kép Đoàn
Nhã Văn lên tiếng dùm tôi. (Lật lật Tuyển Tập). Đây nè, trang 16: «Với
ông (Kiệt Tấn), đàn bà là cả một thế giới bí mật. Con gái cũng vậy. Càng nhỏ
tuổi càng bí mật. Nhưng khi lớn lên, các nàng lại tăng thêm bí mật một cách khác
(EOBDT, tr. 40). Càng bí mật, ông càng nhứt mực tôn thờ. Ông đến với họ như một
thứ tôn giáo của riêng ông, mà ở đó đã mở ra những đắm đuối, say mê, cởi mở,
hạnh phúc, hừng hực, dập dồn, xốn xang, xao xuyến, thèm thuồng, quyến luyến
v...v... Và ông bơi lội trong vùng không gian này thỏa thích. Thiếu họ, ông mất
quân bình, như một bình điện hết hơi, nằm cú rũ, phế thải.» Ổng nói tôi tôn thờ
và ghiền đàn bà như vậy đó, chịu chưa?
Trở lại chuyện này, tôi xin trích dẫn tiếp
theo: «Ông viết về họ là muốn cho họ sống lâu dài trong lòng độc giả bằng một sự
trân trọng của mình. Ông minh định một điều: «Tôi không thể yêu một
người đàn bà không có thân thể. Thứ đến, tôi không tách rời nhục cảm ra khỏi
tình yêu chớ tôi không nhìn đàn bà với con mắt thuần nhục cảm (EOBDT, tr, 70)».»
Sao? Vừa lòng chưa cô Hai?
-
Dạ thưa chưa. Ai dám đòi anh tách rời nhục cảm ra khỏi tình yêu
bao giờ đâu! Dĩ nhiên, yêu ai cũng vậy, yêu tôi, tôi cám ơn vì tôi sẽ... cất hết
vô túi!! Yêu kiểu đó thì ai (ông nào) lại không ham! Yêu nhiều ở đây là nhiều
người (cùng một lúc - như hai bà... đầm đụng độ thời anh ở Canada !! Thiệt anh
đúng là... đào hoa nước Việt. Nói nôm na thì là... anh chắc cầm tinh con... dê!
Ạ! ạ… Thì ra cô Hai vẫn chưa chịu tin mấy
qua là người lớn tuổi. Nhưng không tin lời đàn ông nói thì chẳng lẽ lại không
tin lời đàn bà luôn sao? (Lật lật Tuyển Tập). Thì đây nè, trang 491-492
đào Thụy Khuê viết: «Tôi không chắc thứ tình Kiệt Tấn đối với đàn bà chỉ là tình
yêu, mà còn đa mang, pha trộn giữa yêu thương, đam mê, ham muốn và che chở.
Qua cái vỏ ngoài có vẻ sống sượng, trần truồng của ngôn ngữ, bên trong ấp ủ một
tình yêu dịu dàng, êm ái. Tiếng Pháp có chữ tendresse, tôi không tìm được
chữ tương tự trong tiếng Việt, để chỉ cái tình yêu của Kiệt Tấn đối với đàn bà:
Âu yếm đã đành, mà thắm thiết cũng chưa gói tròn hết nghĩa. Kiệt hay Kiệt Tấn
ngó đàn bà trong trạng thái nguyên thủy (không quần áo), với con mắt một hoạ
sĩ trước vệ nữ khoả thân: Ông trân trân nhìn cái đẹp. Sự thèm muốn trước cái
đẹp thể xác là điều tất đến như đói thì ăn, khát thì uống, không có gì xấu xa,
không có gì cần phải che đậy, thật thà và hiện hữu như những nhu cầu chính yếu
của con người.» Qua lời phân tích của Thụy Khuê và Đoàn Nhã Văn, tôi cũng không
dè tôi yêu, tôi mê, tôi ghiền đàn bà tới mức kỳ cục như vậy nữa. Giờ đây, sau
phần trình bày, tôi để cho cô Hai tự nghiền ngẫm mà suy ra «cái nghĩ» của tôi về
đàn bà. Thôi, tạm ngưng trình diễn cái tiết mục đàn bà ở đây. Đã câu giờ
nhiều quá rồi. Cô Hai hỏi dùm cho câu khác.
Dạ, thì đành phải hỏi câu khác tuy vẫn còn
ấm ức. Và vì ấm ức nên xin hỏi thêm: Đặc biệt đối với người đàn bà của Kiệt Tấn:
Ánh, người yêu nữ sinh. Anh hãy nói đôi chút về người ấy.
Suỵt! Suỵt!... Cô Hai hỏi chi mà kẹt tôi
quá vậy? Bộ tính làm khó dễ đàn anh văn nghệ đó hả? (Xuống nhỏ giọng). Mà
tui có lỡ thành thật khai báo gì về nàng rồi thì cô Hai cũng đừng có méc lại với
bả nghe. Cô Hai hứa với tui đi.
-
Thì xin hứa. Mai mốt báo tới, anh giấu chị ấy. Dễ ợt!
(Sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu).
Ánh, bà xã tôi, là mối tình duy nhứt mà kết cuộc có hậu. Còn những mối tình kia,
những Hoa những Tuyết những Diane những Louise, những Danyèle những Nguyên những
Hường… đều đi trớt quớt hết. Mà giả như những mối tình lăng nhăng này kết thúc
bằng «hai mái đầu xanh chung một túp lều lý tưởng» thì có thể giờ này tôi đã trở
thành ông chủ bến đò bụng phệ, hoặc đã mở tiệm cà phê, mở quán bán hủ tiếu, bán
bia ôm, bán nước dừa, mở tiệm cắt may hoặc trở thành mục sư, mở nhà chứa lén hay
là cái chi chi nữa đó, tôi cũng không rõ.
- Không rõ vì rất có cơ may anh sẽ là tất
cả các thành tựu nói trên: chủ đò kiêm chủ quán bia ôm & cà phê kiêm chủ tiệm hủ
tíu & tiệm may, chủ chứa vân vân? Vì sao đây là cuộc tình có hậu? Chị Ánh có
những «đường nét», cá tính nào đã khiến anh «dừng bước giang hồ» trái tim đa mê?
Ngoài những mối tình đầu với những
bà-già-quê-hương, thiệt ra Ánh mới thực sự là mối tình đầu của tôi chớ không
phải là Hoa. Tôi chíp Ánh từ thuở tôi còn học lớp đệ tứ, 15 tuổi. Còn tuổi
của nàng tôi nhớ chỉ mười ba… Sau khi đậu xong tú tài 2, lúc 18 tuổi, tôi
mới tỏ tình với Ánh và được nàng mở rộng vòng tay đón nhận… kẻ bạc tình. Tôi bạc
tình Hoa. Lúc ấy Ánh có mái tóc đẹp và đôi mắt to đen, nhưng gầy lắm. Tôi thường
hát tán tỉnh «Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy...». Có lẽ thời đó tôi
còn thích gậm xương. Chớ nếu như thời đó mà tôi mê mấy cô vú bự như bây giờ thì
chắc chắn là mộng sẽ không thành.
- A, ra là vậy... Mối tình đầu cũng là
tình cuối (?!... Dấu chấm hỏi này lơ lửng vì nghe đâu dạo này anh hay bay về VN,
những Hoa, những Tuyết, Hường... bây giờ nhiều, trẻ đẹp, và lắm cô cũng rất cần
được thương yêu, che chở!!) Biết đâu anh sẽ có dịp... tái bản những cuộc tình
trong một hoàn cảnh hậu hiện đại, hậu chiến, hậu hoà bình... Tha hồ mà sờ mó
«chiêm nghiệm sự thật»... Chết, lạc đề rồi! Xin trở lại cuộc tình có hậu. Kể ra
thì anh đã thầm yêu trộm nhớ Ánh suốt ba năm liền. Nhưng sau khi kết tình với
Ánh rồi thì thấy coi bộ anh... tỉnh bơ như chưa bao giờ... cưới vợ? Ra đường anh
hãy còn ngon, về nhà anh đã lội non mấy lần!
Thì tôi vẫn tiếp tục... bạc tình (Dụi
dụi mũi). Cùng lúc bắt bồ với Ánh, tôi lại cặp với Tuyết bán quán. Tình với
Ánh thuộc loại tình phẳng lì, platonique, ngược lại tình của tôi với
Tuyết thuộc loại tình áp rún đổ mồ hôi hột, tình lăn lộn trên bãi cỏ, tình ôm
nhau ra rít trong nhà đêm đêm. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, có thể đó cũng là một
điều may mắn cho Ánh. Sau này, thỉnh thoảng tôi có nói với Ánh: «Em nên cám ơn
cô Tuyết, vì Tuyết đã dang thân ra đỡ đạn dùm em, Tuyết đã chịu trận sự ham muốn
tình dục của anh ở thời mới lớn. Nếu không có Tuyết, anh sẽ trút hết dục tình
lên em thì chắc là em đã bỏ chạy có cờ». Và Ánh đã gật đầu tán đồng.
-
Xin lỗi lại hỏi anh lần nữa chuyện đời tư: hình như chị không
đọc truyện của anh hoặc chị không ghen với những gì có thể đem lại hứng cho anh
tiếp tục viết?
Ánh vốn thuộc nòi chung thủy, còn tôi thì
vốn có máu không được chung tình gì cho lắm. Dĩ nhiên là làm khổ nàng ngất ngư.
Chết đứng chết ngồi nhiều phen. Tình yêu của Ánh rất sâu đậm, đằm thắm, chịu
đựng và bền bỉ, thương chàng phải lụy cùng chàng. Còn nhớ lúc tôi vào
bệnh viện tâm thần lần thứ hai ngót ba tháng, trưa nào Ánh cũng tất bật phóng xe
vèo vèo vào bệnh viện để được lên giường nằm song song bên cạnh mà thoi thóp với
tôi cho đủ cặp uyên ương. Các cô y tá thỉnh thoảng ghé mắt vào buồng không khỏi
ngạc nhiên, không biết ai là người thăm nuôi, ai là con bịnh thiệt.
Hồi ở VN, khi ra đường Ánh thường vái trời
cho đừng bắt gặp đấng lang quân chung tình của mình đang cặp kè với một yêu nữ,
bởi lẽ thịt da ai cũng là người, lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau? Bận
nọ, một bà chị dâu điệp viên của tôi báo cáo với Ánh là tôi có bồ và rủ nàng đi
bắt ghen. Ánh sợ xanh mặt, khoát tay lắc đầu lia lịa. Thà chết sướng hơn!
-
Thảo hèn nào, bây giờ thì bạn đọc sẽ không còn thắc mắc sao chị
Ánh để yên cho anh viết những truyện tình nhăng nhện của anh. Viết thiệt kỹ,
viết tận tường, đầy đủ hết, không thiếu một món nào, như thể làm báo cáo cho
chị...
Có lẽ nên hỏi bà xã tôi thì hơn. Nhưng
theo chỗ tôi nghĩ, những chuyện tình của tôi, tôi đã kể cho Ánh nghe hết rồi,
nàng đã biết hết từ khuya. Có khác chăng là giờ đây tôi viết ra trên giấy trắng
mực đen như một tờ tự thú. Mà tôi thì có tật không quen nói dóc, viết dóc. Vả
lại cũng chớ nên lo lắng cho nàng lắm. Vì «Bụt nhà thì không thiêng», bởi
lẽ đó nên ít khi nàng ghé mắt vào sách của tôi mà khán binh thư.
-
Có lẽ chị lí luận: chuyện đã qua, ma nữ đã lặn hết, chỉ còn lại
chàng Kiệt! Trở lại câu hỏi về bạn bè. Anh cho biết những người bạn tâm đắc là
ai? Đề tài những cuộc nhậu: Cuộc đời? Văn chương?
Như đã nói, tôi vốn không có bạn văn nghệ
văn gừng. Cũng không thích bàn chuyện văn chương. Hồi ở VN trước 75, tôi cũng
chẳng viết lách được bao nhiêu, phần lớn là lách nhiều hơn là viết. Đi nhậu nhẹt
và trai gái vui hơn. Cái gì khiến tôi suy nghĩ về cuộc đời? Thì cái đó chính
là cuộc đời chớ chẳng có cái gì khác hơn! Với tôi, người ta sinh ra ở đời
là để sống, mọi thứ khác chỉ là bày đặt. Còn văn chương hay nghệ thuật? Tôi
chẳng dành cho nó một vị trí đặc biệt nào cao hơn hoặc thấp hơn trong đời sống.
Nó chỉ là một sinh hoạt cũng như mọi sinh hoạt khác của con người, vậy thôi. Với
tôi, đời sống bao trùm văn chương nghệ thuật chớ không phải văn chương nghệ
thuật bao trùm đời sống. Bởi vậy khi nghe ai đó đánh trống dọng chuông ì xèo
quanh văn chương nghệ thuật và đặt nó lên bàn thờ mà quỳ mọp, tôi rất lấy làm
khó chịu. Vừa phải thôi chớ! Nhờ anh tí! Việc gì mà phải nghiêm trang và long
trọng đến thế?
-Vậy
theo anh, cái gì quan trọng trong đời sống?
Từ lâu, tôi đã đi tới ý nghĩ sau đây:
«Trong đời sống cái gì cũng quan trọng. Nhưng nghĩ cho cùng, cũng chẳng có cái
gì quan trọng». Tôi xin nói rõ, ý nghĩ của tôi có hai mệnh đề chớ không phải
chỉ vỏn vẹn có một mệnh đề là «trong đời sống chẳng có cái gì quan trọng». Có bí
hiểm lắm không?
-
Trong thời chiến tranh Quốc-Cộng, anh viết «Điệp Khúc Tình Yêu
Và Trái Phá» với tâm trạng như thế nào?
Trong thời chiến tranh Mỹ-Quốc-Cộng
(1954-1975), ngay tại Sài Gòn, đảo chánh chỉnh lý liên miên, xuống đường và hít
lựu đạn cay như ăn cơm bữa, chính khách xôi thịt thì trơ mặt mo ra mà giành ăn.
Tôi viết Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái Phá trong tâm trạng phẫn nộ. Phẫn
nộ! Phải, phẫn nộ.
-
Bây giờ nhìn lại «Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái Phá», anh nghĩ gì?
Hình ảnh Kiệt Tấn ngày đó khác với bây giờ như thế nào, ở chỗ nào?
ĐKTYTP xuất hiện vào thời điểm chiến tranh
khốc liệt, trong môi trường lửa đạn dai dẳng ở VN. Thời đó đã qua, tôi không
muốn khơi lại nữa. Về hình ảnh tác giả khác nhau như thế nào à? Dễ ợt! Điểm nổi
bật nhứt: Kiệt Tấn bây giờ già hơn khi xưa rất nhiều, đó là cái chắc! Còn nghĩ
gì? Tôi cố gắng không nghĩ tới, hay đúng hơn là không muốn để ý tới chiến tranh.
Như vậy tốt hơn. Tốt cho sức khoẻ, đỡ nhức đầu mà cũng chẳng làm được gì hết
ráo.
Còn chiến tranh à? Thì từ thuở còn lông lá
sù sụ ở trong hang động có đốt lửa ấm cho tới thế kỷ 21 ngày hôm nay rụng gần
hết lông và ở trong nhà có gắn máy lạnh này, con người có ngớt đánh nhau bao giờ
đâu? Chỉ có vũ khí thì càng lúc càng tinh vi, chớ còn lòng người thì trước sau
vẫn vậy, vẫn tham lam, vẫn gây hấn, vẫn xuẩn ngốc. Trên mặt đất này chưa thấy có
loài nào tìm cách giết và tiêu diệt đồng loại kỹ như con người. Vậy mà là
«đỉnh cao trí tuệ» đấy! Đừng có giỡn mặt tử thần! Mẹ rượt! Bởi lẽ đó, lúc
cuộc chiến VN sắp kết thúc, trong vài năm cuối cùng còn lại, tôi đã lấy một
quyết định sáng suốt: bỏ làm thơ Tình Yêu Và Trái Phá, quay sang làm thơ
bia ôm và trái cóc. Vui hơn là cái chắc!
-
Bia ôm đã có từ dạo ấy rồi ư ? Không phải nó xuất hiện sau tháng
tư 1975?
Hình như vào 1970, 1971 gì đó. Sau «giải
phóng», khoảng 75 đến 85 làm gì có bia để mà tu và làm gì có em để mà ôm? Hoặc
giả có bia thì phải uống lén, có em thì ôm lén, có «xúc cát» thì cũng phải «xúc
cát» lén. Cả thịt heo, nếu có cũng phải ăn lén! Tới lúc «đổi mới» (lấy cũ) năm
1989 thì mấy em mới lai rai được phép hành nghề trở lại. Và bây giờ thì không
chỉ phải có bia ôm mà thôi. Bây giờ cái gì cũng đều «ôm» hết ráo!
-
Bây giờ nhìn lại, anh nhớ tiếc điều gì của thời đó? Cái đau khổ
rất «Romantique» (Anh trai thời loạn)? Tuổi thanh niên?
Nhìn lại, tôi chẳng thấy tiếc nuối một
điều gì hết, ngay cả tuổi trẻ của mình. Thời buổi gì mà bầm vập như vậy, nhưng
đó là lẽ trời, biết làm sao mà cãi bây giờ? Chẳng lẽ hát tuồng «con kiến
mà kiện củ khoai»? Còn nhớ những gì? Cái đó còn tùy. Nhưng nói ra sợ vợ nhà cho
ăn đòn. Đối với tôi chẳng có anh hùng và chẳng bao giờ tôi chiêm ngưỡng anh hùng
hết ráo. Toàn là phỉnh gạt và ba xạo. Cái ba xạo chết người.
Hỏi tôi về đau khổ? Cái đau khổ nào cũng
đều đau (đau lắm!) và cũng đều khổ (khổ lắm!) Anh, trai thời loạn (hề!);
Héros romantique! Người hùng lãng mạn! Mấy em gái hậu phương nghe tới tên
người ắt phải rụng rún. Đã làm anh hùng mà còn đèo thêm lãng mạn nữa thì chỉ có
nước chầu Diêm Vương sớm!
-
Anh theo dõi và biết rất rõ về tình hình chính trị thế giới và
cả VN, anh vẫn nói tình dục là «hơi thở của đời sống» nhưng còn chính trị? Chính
trị có là hơi thở của đời sống?
Nói rằng tui «biết rất rõ về tình hình
chính trị thế giới và cả VN» thì tội nghiệp tui lắm cô Hai. Vô tình cô đã xô tui
vào «vũng lầy của chúng ta», tui sẽ phản đối trước Liên Hiệp Quốc tới cùng.
«Tình dục là hơi thở của đời sống».
Ờ! Gì chớ cái đó thì quả nhiên tôi có nói. Một điều rất rõ rệt, sờ sờ trước mắt:
Tình dục ban cho ta hơi thở đầu tiên và tình dục cũng cho phép ta ban hơi thở kế
tiếp, và vân vân, vân vân, cứ thế mà làm. Sự tiến hoá đã xui khiến đất trời bày
ra âm dương, đực cái, nam nữ, đàn ông đàn bà, lấy tình dục làm phương thức sinh
sản. Nếu bây giờ đột nhiên tình dục biến mất trên mặt đất này thì sẽ có rất
nhiều loài tắt thở, trong đó có phe ta: Loài người.
Còn chính trị? Theo tôi nghĩ, chính trị
phát xuất từ nhu cầu sống xúm xít của con người. Xúm xít rồi thì chia phe, chia
nhóm, chia bè, chia đảng: Chính trị phát sinh. Có tình dục thì đời sống có cơ
tiếp tục. Có chính trị thì đời sống có cơ tiêu diệt. Bằng cớ: Thế chiến thứ
nhứt, thế chiến thứ hai. Chưa hết. Năm 1962, Nga Mỹ kình chống, Kennedy và
Khrouchtchev chơi trò chính trị thượng tầng và dùng vũ khí nguyên tử để thấu cáy
nhau, thiếu chút nữa đã đẩy loài người vào con đường hủy diệt tập thể, đưa tới
cơ hoạ tuyệt chủng, và muôn loài khác cũng bị vạ lây. Vì vậy, nói rằng «Chính
trị là hơi thở của đời sống» tôi nghi ngờ lắm, và quyết cự nự cho tới cùng.
Chính trị từ xưa tới nay, theo tôi, là một tai hoạ chẳng đặng đừng đặc
thù của loài người.
-
Chính trị có lẽ còn là cách thức tổ chức đời sống sao cho hài
hoà sung sướng, khỏi tranh chấp, chiến tranh v...v... nhưng không lẽ chúng ta
lại đi định nghĩa chính trị ở đây. Câu hỏi là sống đời thi sĩ cách nào trong một
hoàn cảnh chính trị đảo điên, ngoài tác phẩm (Tình Yêu và Trái Phá) một công dân
thi sĩ (đã) có thể làm gì khác?
Tôi không biết thế nào là một công dân thi
sĩ. Theo tôi, công dân và thi sĩ là hai ý niệm tách biệt nhau. Đã là công dân
thì phải thi hành bổn phận công dân. Tới tuổi quân dịch thì đi lính đánh giặc.
Dĩ nhiên cũng có thể trốn quân dịch hoặc đào ngũ, nhưng phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn sự chọn lựa của mình.
Còn thi sĩ? Muốn đáng được gọi là
thi sĩ thì phải làm thơ cho ra hồn. Thi sĩ chẳng có đặc ân hay đặc quyền gì
trong chiến tranh hết ráo. A lê hấp! Cũng nón sắt, ba lô, giày đinh và ắc ê như
mọi người. Lạng quạng là hít đất, là phạt dã chiến. Tuy nhiên, cũng có thể vừa
đánh giặc vừa làm thơ, có sao đâu. Nhưng coi chừng, nếu rủi ro trúng nhằm số con
rận hay lơ mơ không biết ẩn núp là sẽ bị bể gáo như chơi. Nếu may mắn còn sống
sót thì lấy bút lấy giấy ra mà mần thơ tiếp tục. Như Quang Dũng thời kháng chiến
Pháp-Việt chẳng hạn: Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến, Quạnh vắng chiều
sông lạnh bến Tề (…) Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(…) Hoặc gần đây hơn, Tô Thùy Yên trong cuộc chiến Mỹ-Việt: Di tản khó -
sâu dòi lúc nhúc, Trong vết thương người bạn nín rên. Người chết mấy ngày chưa
lấy xác, Thây sình mặt nát lạch mương tanh… Hoặc một Lâm Hảo Dũng giận điên
người: Mai ôm đầu mộ dăm thằng chết, Hát lại bài ca hận chiến trường. Lúc
điên muốn bắn dăm ba phát, Cho đã tay cò lãng việc quân. Muốn làm thơ chiến
tranh thì phải có kinh nghiệm chiến trường, như vậy thơ mới đạt. Lỡ có gục ngã
ngoài trận mạc thì đành thôi chứ biết làm sao bây giờ? Chết bỏ! Trời kêu ai nấy
dạ. Chết bỏ! Túy ngoạ sa
trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?
- Nghĩa là một con người là con người sống
trong xã hội, vừa làm công dân vừa làm thi sĩ, hay bác sĩ kiêm nhạc sĩ, chẳng có
gì tách rời hay loại trừ! Cũng như... đàn bà con gái không phải chỉ có cái thể
xác... Về điểm này, xin phép trở lại vấn đề tình dục với Kiệt Tấn. Vì nói gì thì
nói, thấy KT vẫn cứ còn lẩn quẩn bên bóng dáng, bên nhục thể, bên «núi non,
thung lũng» của người đàn bà và nhất là chỉ để ý nghe ngóng, diễn tả cái đê mê
của mình. Nhưng còn trong thâm tâm anh, anh nghĩ gì? Có bao giờ anh hỏi: còn ẻm,
ẻm đam mê và sung sướng thoả mãn ra sao? Thoả mãn, đam mê ấy có «xứng đôi vừa
lứa» với cái «đê mê chết giấc» của mình không?
Em Ba đã trót hỏi khó qua quá thì qua sẽ
trả lời dễ ợt. Nói đến thoả mãn thể xác thì đành phải nói thẳng? Dĩ nhiên tôi
không nói theo kiểu «Xúc cát trước bàn thờ». Làm vậy kỳ chết!
-
Dạ, cám ơn, anh lịch sự với mấy em ...
Em Ba thắc mắc tại sao tôi không đả động
đến cái thoả mãn của người nữ trong truyện của tôi? Đọc kỹ lại đi, tại tôi chỉ
nói loáng thoáng, nói tế nhị, bởi lẽ tôi tôn trọng người nữ...
-
Ô, I don' t agree with you, cái này là dường như hơi... nguỵ
biện!! Anh mải lo nghe ngóng cái tôi của mình...
Thiệt mà cô Hai, khi vầy cuộc, người nữ
biểu lộ cảm giác của mình hơn người nam rất nhiều: môi lệch lạc, miệng rên rỉ,
đầu vật vã, tay cào cấu, mắt mở hờ, tuy có mở thiệt đó mà... đã hết thấy đường!
Không lẽ tôi đem hết mấy món này vào trong truyện và cho các nàng la toáng lên:
"Sướng quá! Đã quá! Khoái quá! Chết em rồi? Ối làng nước ôi!" Thì còn chi là
nghệ thuật? Khi đó em bé hậu phương chắc chỉ còn nước độn thổ và không quên xỉ
vả tôi là đồ thô bỉ trước khi lặn xuống dưới mặt đất.
-
Ha ha, xin ngắt lời anh Kiệt Tấn, anh có nhớ cái màn diễn tả
xuất thần trong quán ăn của Meg Ryan trong phim Quand Harry rencontre Sally
chưa? Dạ, thôi, không sao, xin anh nói tiếp, hấp dẫn quá... bí quyết của nhà văn
Kiệt Tấn đây rồi...
Cô Hai hỏi tôi chớ cái khoái cảm của các
nàng có xứng với cái đê mê của tôi hay không? Xứng làm sao được mà xứng! Nếu đem
ra mà so sánh thì cái tột đỉnh (đôi khi rất nhiều đỉnh) của mấy em nó chập chùng
như Hi Mã Lạp Sơn, còn cái đê mê của tôi (và của bọn đàn ông nói chung) thì ôi
thôi, nó giống như núi Bà Đen hay là cái núi Sam núi Sập lè tè bên xứ ta vậy đó!
Khi viết, tôi đâu có nhằm mục đích tả chân tả cẳng những giây phút tơi bời hoa
lá đó làm gì. Nếu thiệt sự tôi muốn viết dâm thư? Ạ, cái đó thì khác! Bảo đảm
báo Playboy sẽ không dám đăng. Vả lại, chỉ những người nữ đã có trải
nghiệm cái tột khoái, cái orgasme, mới hiểu được tôi muốn nói gì. Còn
những người nữ không may mắn, cứ bị bất mãn kinh niên về tình dục thì khi đọc
truyện của tôi, sẽ cảm thấy khó chịu, ấm ức và tức anh ách. Bởi lẽ họ tưởng tôi
là "con yêu râu xanh" chuyên môn tấn công và dày vò người tình của mình. Đối với
họ, trong truyện, người đàn bà là nạn nhân, chỉ có thể cảm thấy đớn đau chứ
không thể nào khoái lạc được - y chang như họ vậy, bất mãn kinh niên (Đàn bà mà
biết khoái lạc à? Đồ nói dóc!) Bèn bất bình, bèn tức khí! Và vớ lấy ngọn cờ nữ
quyền mà phất loạn xị...
-
Xin ngắt lời anh, và lập lại: lí luận này của anh (féministes =
mal baisées: mấy bà (làm) nữ quyền (là vì) không được thoả mãn tình dục) nghe
xưa quá rồi! Có những ...
Tôi không có ý chụp mũ là các bà nữ quyền
đều bị bất mãn tình dục, nôm na tiếng Tây là mal baisées. Tôi chỉ muốn
nói các nàng bất mãn tình dục kinh niên khó thể có cảm tình với bọn đực rựa (vô
tích sự!). Xin nói tiếp ý khi nãy. Các bà vừa phất cờ nữ quyền vừa la toáng lên
"Ối làng nước ơi! Cái thằng Kiệt Tấn nó hiếp dâm con bồ của nó!" hoặc hợp ca
thống thiết bài Nữ quyền hành khúc: "Thằng Kiệt Tấn macho nó giành
độc quyền, nó chửi, nó cấm nữ phái viết về tình dục!" Thiệt là ỳ xèo! Oan ơi ông
địa! Về tấm lòng của tôi đối với đàn bà, tôi lại lôi kép Đoàn Nhã Văn ra làm
chứng (Lật Tuyển Tập). Đây nè, trang 15, ông kép viết: "Mỗi người một vẻ,
mỗi kẻ một đam mê, và mỗi nàng một cháy bỏng khác nhau. Tất cả những nhân vật đó
góp phần làm nên văn phong vui tươi, sinh động của KT trong vùng tình cảm đầy
ướt át này. Tuy vậy, chỉ cần để ý một chút, ta sẽ thấy ngay ông viết về những
người đàn bà với một tấm lòng, một đam mê và đằng sau đó là
chiêm ngưỡng, là trân quý".
- A, ông Nhã Văn sẽ trả lời bà Nguyễn Trần
Khuyên giùm anh ra sao: bà là người đã làm "pétition" xin chữ kí sau khi đọc bài
viết bất hủ "Sục c. truớc bàn thờ", bà Khuyên kết án anh khinh thường phụ nữ. Mà
hai đứa chúng tôi nghĩ khác: bài nói trên chỉ là phản ứng anh muốn trả lời những
bài viết về sex tả chân quá sức văn chương đẹp đẽ nhưng vô cảm và vô cùng giả
tạo hoặc coi vậy mà hổng phải vậy (chẳng khác nào phim érotique thiếu budget và
tài tử yêu... sex thứ thiệt!) cũng như anh điểm mặt những tên đàn ông "voyeur"
(khoái dòm trộm) khiêu khích đàn bà viết về tình dục cho họ được rửa mắt và thoả
mãn lòng tò mò bệnh hoạn? Có đúng như vậy không? Theo như anh giải bày, là oan
ơi ông địa, vậy anh trả lời thế nào cho "hiểu lầm" này?
Khi viết về tình dục, tôi đặt nghệ thuật
lên hàng đầu. Thiệt tình mà nói, viết gì cũng dễ, nhưng viết cho hay mới thiệt
là khó. Viết về tình dục mà viết cho hay, quả thiệt là thiên nan vạn nan! Nói
"hay" là có chủ quan trong đó rồi, dĩ nhiên. Vì vậy người viết phải tự lựa chọn
một bút pháp riêng cho mình. Phải cẩn thận và tôn trọng người đọc. Không được
cẩu thả, ném bừa bất kỳ rác rến tạp nhạp nào vào mặt độc giả. Ngay cả viết dâm
thư thứ thiệt, cũng phải viết cho có nghệ thuật. Trừ phi viết với mục đích nhục
mạ, buộc tội và làm cho người ta nhợn tình dục thì đó là chuyện khác. Người ta
cứ tưởng bở: Gì chớ viết tình dục thì dễ ợt! Cứ việc cầm bút lên mà kể lể ê hề
ba cái chuyện nằm sấp nằm ngửa, chổng mông, gậm củ cải... của mình ra. Thế là
văn chương! Thế là nghệ thuật! Dễ ợt! Nói vậy thì mấy em sến biết đọc biết viết
chỉ việc cầm bút lên mà kể lại tuốt tuột các cuộc hành dâm của mình là có thể ở
truồng dồng dổng mà đi vào văn học sử như chơi! Xin nhắc lại: viết về tình dục
mà viết cho hay thiệt là vô cùng khó khăn. Bởi lẽ quanh đi quẩn lại, diễn viên
chỉ có hai người nam và nữ. Chỉ có ngần ấy bộ phận, chỉ có ngần ấy động tác, chỉ
có ngần ấy cảm giác và rất ít đối thoại, ngoại trừ rên rỉ và thở ào ào. Loay
hoay chỉ có vậy thôi. Trừ phi viết dâm tưởng và viết hoại dâm thì tha hồ! Nhưng
chính vì vậy mà viết tình dục một cách nghệ thuật đòi hỏi một sự điêu luyện và
một bản lĩnh rất cao ở người viết. Chỉ cần sai chạy một chữ là hỏng
bét...
-
Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc... tình nghe Hương...
Trở lại cái vụ mal baisées. Tôi
nghĩ có lẽ phải chờ một dịp may chó dắt, được rớt đúng vào vòng tay một tướng
cướp điệu nghệ, khi trải nghiệm được cái « tột khoái », người nữ bất mãn tình
dục sẽ bớt táo bón và bớt hằn học với bọn đàn ông (lợn lòi) chúng tôi. Nhắc lại
lần nữa: viết về tình dục một cách nghệ thuật không phải dễ. Cũng bởi lẽ đó mà
sau khi đọc những trích đoạn tình dục của các ngòi bút nữ trên Hợp Lưu (số
81/2005) tôi cảm thấy «nhợn» nên có phản ứng nóng. Dĩ nhiên, không có gì
chứng minh rằng tôi đúng hay một ai đúng hết. Ở đây chỉ có vấn đề cảm nhận và
thưởng ngoạn, và điều này vốn rất khác biệt nhau ở từng người một. Nhưng viết về
tình dục như chèo xuồng tát nước, như đốn cây bửa củi, như phóng uế chùi đít.
Viết để ơi ới nước nhiều nước ít, hay nó chảy re re. Viết để so sánh cu nhỏ cu
lớn, cu ngắn cu dài (có cho cả kích thước chính xác). Viết để chấm điểm coi
thằng nào chơi sướng thằng nào chơi dở, một ngày ta hạ được mấy thằng (ăn bứt
cái bọn đàn ông le lói rất xa!). Nhiều cảnh hành dâm và bạo dâm để lộ tính cách
hư cấu quá trớn (có ác ý?). Thú thiệt cái lối viết đó, cái chuyện làm đó, hồi
mới lớn và tập tễnh đi chơi bời ba bốn chục năm về trước ở Gò Vấp, Ngã Ba Chú
Ía, Cầu Hàng, tôi đã thấy mấy chị em ta làm rồi và có ghi chép sổ sách hẳn hòi.
Đâu đợi gì phải học cao hiểu rộng, có bằng phó tiến sĩ hay Ph D. mới làm nổi cái
loại thống kê dương vật đó. Tôi có cảm tưởng các ngòi bút nữ viết tình dục của
phe ta chưa hề đọc (nhiều) văn chương gợi dục (érotique) và ngay cả dâm thư
(porno). Viết sần sùi kiểu đó, các nàng chỉ cần bỏ năm ba đồng và bước ra sạp
báo vỉa hè là có ngay. Và hơn nữa, bài viết còn ly kỳ hấp dẫn hơn thập bội, đôi
khi còn có cả phụ đề hình màu cho dễ hiểu. Than ôi! Văn chương (?) tình dục của
phe nữ ta mà như thế đó ư? Theo chủ quan của tôi, nghệ thuật nó chẳng nghệ
thuật, mới nó chẳng mới, nhưng om sòm thì nó lại rất là om sòm. Vì thế, tôi bị
dị ứng sau khi đọc các trích đoạn trên Hợp Lưu. Dị ứng vì thấy cách viết về tình
dục kiểu như vậy vô tình đã bôi nhọ và hạ bệ hình ảnh người đàn bà, nói riêng
người đàn bà Việt Nam, trong đó có bà Khuyên (hy vọng rằng như vậy). Bởi lẽ ấy
bèn xâm mình viết bài «Xúc cát trước bàn thờ» để đả kích loại viết đó cũng như
để binh vực người đàn bà nói chung. Trước khi cầm bút lên, tôi biết chắc chắn
bài viết của mình sẽ bị hiểu lầm và cá nhân mình sẽ bị các bà nữ quyền bề hội
đồng.
Quả nhiên! Vừa mới xáp vô bài «Xúc Cát»,
bà Khuyên đọc ba chớp ba nháng, hiểu chưa chắc đã hiểu được một chút gì, mà lại
còn đổ quạu, te te thảo liền cái kiến nghị, cái pétition, đưa lên mạng
lưới xin chữ ký khắp nơi để chụp mũ tôi «khinh thường phụ nữ»! Chẳng biết bà đã
xin được chữ ký của Monica Lewinsky và Hilary Clinton chưa? Luôn tiện, xúi bà
đưa luôn Bill Clinton vào liên danh tranh cử của Kiệt Tấn cho đỡ khỏi phải mất
công thảo một kiến nghị thứ hai. Bà Khuyên kiến nghị để kiện tôi trước toà án nữ
quyền? Nghe đâu đây tiếng hò hét như ong vỡ: «Thiến dái nó! Thiến dái nó!»
Than ôi, trời đã hại Sa Vệ! Chắc phen này Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ, xuống sáu
câu vọng cổ thiệt mùi rồi gạt nước mắt hiên ngang vác chiếu ra hầu Toà án Quốc
Tế La Haye. Sạt nghiệp văn chương là cái chắc! Thôi nàng ở lại nuôi con một
mình! Và hãy lấy chồng (người) khác mà làm ăn lương thiện!
-
Cám ơn anh Kiệt Tấn!
05.2006
Nguồn : Tạp chí Văn 117-118 số đặc biệt về
Kiệt Tấn, tháng 9 & 10.2006