Hè về đọc thơ Kiệt Tấn
Phan Thị Trọng Tuyến
"...một
ḷng yêu người nồng nhiệt, và một sự can
đảm lớn lao..."
"...là một
t́nh nhân trước khi là một người cầm bút "
"...như
ở trần mà như chơi vơi trong sương khói (!)…"
" thứ t́nh
yêu... (...) pha trộn giữa yêu thương, đam mê, ham
muốn và che chở "
"...;viết về những người
đàn bà với một tấm ḷng, một đam mê, và
đằng sau đó là chiêm ngưỡng, là trân quư"
"...ngùn
ngụt dục t́nh"...v....v..
Đó là một
phần những nhận xét của các nhà phê b́nh danh
tiếng khi nói về một Kiệt Tấn văn xuôi, có
người c̣n gọi anh là "hiện tượng
văn học" . V́ Kiệt Tấn đă dám sống
hết ḿnh "dám viết tường tận và đẩy
ng̣i bút (...) vào những vùng cấm kị"
.
Bởi v́ trong
một số không nhỏ các truyện ngắn, anh nói
về những cuộc (& làm) t́nh thời trai trẻ
với cách diễn tả linh động, tỉ mỉ,
giọng văn say đắm, nhắc nhở, kể
lại những cảm giác những rung cảm tâm hồn
và thể xác từ ...mưỡu đầu cho đến
thực, rồi kết, thông qua tột đỉnh khoái
lạc. Vẫn từng ấy say mê, ngần ấy
động tác nhưng các... tứ tuyệt cũng như
bát cổ của Kiệt Tấn với mỗi
người t́nh đều tuyệt vời mới mẻ,
khiến người đọc theo dơi đến cùng.
Các nhà phê b́nh
cũng nhắc đến các khía cạnh tài ba khác trong
văn xuôi Kiệt Tấn : giọng văn dí dỏm, cái
"điên" Kiệt Tấn, tấm ḷng yêu quê
hương Kiệt Tấn, yêu mẹ, yêu phụ nữ
... Đa số độc
giả, phê b́nh gia biết rằng Kiệt Tấn làm thơ
trước khi viết văn, và tuy "văn ông
đầy chất thơ",
nhưng h́nh như ít ai "xem" thơ Kiệt Tấn.
Kiệt Tấn cho biết
"thèm" làm thơ như thèm viết văn xuôi, như
thèm "yêu" và khai rằng Nguyễn Bính, Eluard, Prévert
"là sư phụ". Cho nên, tôi đi t́m đọc
thơ xem coi Kiệt Tấn cũng "có hết ḿnh"
với thơ không, đến mức nào. Và những bài
thơ này cho chúng ta biết thêm ǵ về người văn
xuôi ấy.
Hai tập thơ
Kiệt Tấn: Điệp khúc
t́nh yêu và trái phá
và Việt Nam Thương Khúc,
ra đời cách nhau hơn ba mươi năm ở hai
nơi khác nhau: 1966 tại Sài G̣n và 1999 tại Paris. (Và
khoảng giữa là nhiều tập truyện ngắn, dài
xuất bản ở Mỹ).
Tập thơ
thứ nhất, Điệp khúc
t́nh yêu và trái phá, gồm hai điệp khúc (andante cantabile
và allegro con fuoco!) với hơn bốn mươi lăm bài
thơ làm từ những năm 1961, 62 với phong cách
hiện đại siêu thực thời bấy giờ:
hầu hết đều không vần.
một
bận hư vô có chửa hoang
sinh
đôi một con thú hai chân và một con thú vô h́nh
Có bài thơ
tự sự, có câu thơ văn xuôi, có câu vắt ḍng,
rất Tây phương và... tân h́nh thức bây giờ. Đêm
tối và mùa mưa là hai bối cảnh thường
gặp.
Một đêm
vũ trường buồn hiu hay "đêm đêm nằm
tủi hổ một ḿnh anh", một ngày nắng
quạnh quẽ nơi băi bể, một "hoàng hôn
chở bóng tối về chật hồn anh" hay
"nỗi buồn dài hơn sải tay":
(...)
một
hoàng hôn đảo lẻ
một
đám mây cúi đầu
Nhắc nhở
gọi kêu thống thiết
(những) người t́nh : Diane, L(ouise ?)
Diane
và Diane bis!:
Diane
Diane
diane diane
Tên
em viết bằng năm chữ cái trên năm đầu
ngón tay anh
(...)
Diane
oi diane ơi !
Chúng
ḿnh xuyên qua đời nhau bằng mắt
Nh́n
có ngấn lệ đoanh tṛng...
(...)
anh
gọi thầm L. ơi ! L. ơi ! anh thua buồn bỏ
đi
(...)
ái
ân bằng bàn tay trong ngực
nhóm
lửa bằng anh trong em
Những bài
thơ chứa nhiều bực bội, hoang mang, thụ
động. Như lời buồn thánh của
một thi nhân ướt mi
khác lúc bấy giờ, Trịnh Công Sơn, trước khi
lẫy lừng khắp nơi đôi năm sau với
tiếng hát về số phận Việt Nam, một
"người (thường) ngồi đó, như
tượng đá "nghe mưa và nghe ngóng tâm trạng thê
thiết của ḿnh.”
(...)
v́ tối nay trời mưa
trời mưa rất lớn mưa
ướt
cả phố phường mưa ướt cả băi
cỏ mưa
ướt
cả sân mưa dột xuống nỗi lẻ loi của
anh
(...)
anh
gia nhập một đoàn hát vĩ đại
anh
đóng vai trong một tấn tuồng vĩ đại mà
đoạn kết
chưa viết xong.
Những bài
thơ không vần, khô khan, rất ít vui tươi, màu
sắc và động từ. Là những nghi vấn, bứt
rứt, tâm sự giận dữ, một tâm hồn quẩn
quanh cam chịu, nhưng ngôn từ siêu thực rất
thời thượng, đó là những năm bắt
đầu của (viết là
đâm nổ mặt trời !) triết hiện sinh và
thiền Sài G̣n (rất hậu Tây phương mà ngay bây
giờ 2006, người ta đọc được đó
đây ít nhiều bài thơ trẻ có cùng âm hưởng
ấy, ở Việt Nam).
(...)
cầm
vô vọng anh ném về vô vọng
(...)
anh
thua buồn trên sợi chỉ thời gian
trên
dây hiện tại anh là phường hát xiếc
(...)
phải
rồi hăy nói đi em hăy nói những ǵ em
vừa
nghĩ đến trong một thoáng hiện tại dù
sau
đấy hiện tại biến đi nhanh hơn ánh sáng
(...)
....anh
đánh cắp mặt trời trốn lên những vùng
băng giá
mặt
trời ru anh ngủ những mùa đông dài mississipi
mặt
trời trụy thai mặt trời chết
Quả thật,
những vần thơ không có ǵ phải ngại ngùng khi
đứng bên cạnh các cô Ly Hoàng Ly hay Phan Huyền Thư
vân vân...bây giờ!
...
Phía trước mặt là đêm
Không muốn đêm cũng thấy đêm
Không muốn đêm cũng có đêm
...
Tập thơ ra
mắt năm 1966, khoảng ba năm sau khi tổng
thống đệ nhất cộng hoà Ngô Đ́nh Diệm và em
Ngô Đ́nh Nhu bị đảo chánh. Ḷng xốn xang khi thấy
bức ảnh trên báo (nhớ rằng ḿnh đă hơn
một lần hát chào cờ theo bạn rất láo lếu tô hủ tíu, tô hủ tíu muôn
năm... và toàn dân VN nhớ ơn tô hủ tíu!) : hai
người tay bị trói ra sau lưng, nằm chết cong
queo trong một chiếc xe tăng. Người nhận và
thi hành lệnh lịnh bắn là đại úy Nhung, về
sau ông này cũng bị bắn chết. Những bài báo
giật gân thật giả về cuộc đời bà Nhu
trên báo, kéo dài khá lâu. Rồi lại đảo chánh,
chỉnh lí, Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Plastic
nổ giữa thành phố. Mô, hầm chông. Pháo kích, oanh kích.
Bom B52. Napalm. Tổng công kích. Tổng động viên.
Đó là những h́nh
ảnh mơ hồ c̣n lại của khoảng thời gian
thanh b́nh từ 1954 đến 1964-1965 trong trí nhớ trẻ
thơ tôi dạo ấy. Khi nghe ông bà ngoại, cha mẹ
kể chuyện "chạy giặc" (Pháp) quả t́nh
là nghe chuyện cổ tích! Khoảng thời gian chuyển
tiếp từ thanh b́nh qua chiến tranh (với Mĩ và
miền Bắc) quá ngắn ngủi đối với tôi,
cho nên lập tức từ sau
năm 1967 là hăi hùng sấm chớp bàng hoàng đột
ngột.
Thời đi
học, bọn chúng tôi trai/gái học riêng (đệ tử
trường mè dzỏng lô, nam nữ thọ thọ bất
thân !), mỗi thứ hai trang nghiêm xếp hàng với cả
trường chào quốc ḱ cờ vàng ba sọc đỏ,
hát thiệt này công dân ơi
đứng lên đáp lời... rồi ai bao năm v́ đất nước quên thân ḿnh...
...
là những ngày đẹp
đẽ tuổi học tṛ tiểu học, vài năm
đầu trung học, với những ngày hè nhẹ nhàng,
vườn tược, vùng thơ ấu êm ấm và
bạn bè với vô tư (thứ thiệt - chưa có
thầy cô nào giải nghĩa hay tuyên truyền về
"Ngô chí sĩ anh minh"!), thương ơi là
thương, sung sướng ơi là sung sướng.
Cả đám, cho đến năm đệ ngũ
đệ tứ chỉ biết đi học và đi
chơi! Rồi đến một hôm ...chấm dứt chương tŕnh của ...: không
c̣n thong thả đi học chẳng c̣n được long
nhong tự do năm sáu đứa đi xi nê, leo xe đ̣
đi chơi xa một chút. Đi học bây giờ bữa có
bữa không, đi học nhờ trường khác, hết
dám đi chơi loanh quanh đường phố Sài G̣n,
hết dám lên Thủ Đức hết dám về Lái Thiêu,
hết dám qua Long Hải... Đường đi nhiều
chướng ngại và những trái tim bỗng ngơ ngác
chết lặng.
Đây là thời ḱ
Phạm Duy với Kỉ
vật cho em, và những bài tâm ca. Phong trào Du ca bắt
đầu, với Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Hữu
Nghĩa, Phạm Quốc Bảo...
Kiệt Tấn
cũng nổi giận với chiến tranh. Và bên cạnh
(ngôn ngữ đầy ắp) chiến tranh là tư
tưởng rất thiền rất ngộ đạo
(Phật) :
và
điệu twist bắt đầu trỗi dậy với
ban thủy
quân
lục chiến đệm nhạc khi tiểu liên trung liên
đại liên các bin
(...)
Bàn
tiệc của chúng ta
việt
cộng xào mă tấu
plastic
nhân thịt hoa kỳ
(...)
đêm
rất đen
từng
khẩu đại liên từng ổ trọng pháo
nă
đạn như điên
chúng
ta được ǵ
với
thành phố này và quả lựu đạn nổ tung trong
nhà hát đó
chúng
ta được ǵ
(...)
chúng
ta được ǵ
với
thành phố này và con vật ǵ ś sụp trên lề
đường đó
....với
thành phố này và những gương mặt bự mỡ
trong pḥng lạnh đó
chúng
ta được ǵ
với
nền độc tài này và cuộc cách mạng đó
chúng
ta được ǵ
với
xác chết vận quần đùi đen này và thây ma mặc
treillis đó
chúng
ta được ǵ
với
thành phố này
chúng
ta được ǵ
với
thành phố này
chúng
ta được ǵ
với
tiếng thở than nặn thành tai cho anh làm quen với
tiếng gào xé ruột
với
hai viên đạn đồng lấp vào lỗ mắt
để anh chỉ nh́n thấy tử huyệt của con
người
...
hăy
lấy giây xích chiến xa này vận chuyển bộ máy
nghĩ suy trong đầu óc anh rỉ sét
với
quả lựu đạn này làm tim cho anh được
nổ
tung nát bét khi nào anh đánh rớt quả tim anh
...
cho
anh và em khỏi tạo thêm những đứa
con
mệt mỏi trong cuộc chiến tranh nhàm chán hôm nay
(...)
khi
cây cổ thụ chợt nhớ ḿnh rong biển
khi
con chim hải âu chợt hỏi bến bờ sắp
tới
khi
cơn sóng chợt hỏi trùng dương xao động
làm chi
khi
uống nước là cá
khi
ăn quả là chim
khi
nằm xuống là cây
khi
vào cây là côn trùng
(...)
từ
nguyên tử phân thân
chúng
ta đều là nạn nhân
từ
anh là anh
từ
tôi là tôi
chúng
ta đều là nạn nhân
Và những bài
thơ kế tiếp, vô cùng văn xuôi và tự sự,
rất Kiệt Tấn :
..."anh
thèm chép cho em thơ nguyễn bính hay thơ thanh tâm tuyền
để em đọc cho đỡ nhớ vào những
giờ thành phố giới nghiêm và cũng có thể
để mai kia mốt nọ em dỗ em quên đi
động vật trong ṿng tay em ôm ấp một ngày
một tháng một năm hay khi mùa mưa ...",
với
thành phố này và tổ chim mắc trên dây điện cao
thế đó
(...)
Về hai thi nhân
được Kiệt Tấn nhắc đến, khi
đó, một người qua đời đă hơn 5
năm và người thứ hai sẽ bị tù đầy
hàng chục năm khi Việt Nam thống nhất.
Nguyễn Bính làm
thơ tại Hà Nội :
...Quê
tôi đó, bạn ơi, là thế đó
Mà ngh́n năm rặt những tiếng kêu
thương
Sung sướng làm sao, bỗng một ngày có
đảng
Có bác Hồ làm sống lại quê hương!
Và Thanh Tâm
Tuyền đôi năm sau, viết ở Sài G̣n :
...Hơn lúc nào, ta mong ta rớt
xuống, rớt thẳng cẳng, rớt sung sướng
măn nguyện. Ta ngán tṛ đu quá trời. Bạn ta hiểu
chứ? Đêm nay ta muốn viết cho bạn về những
sự tầm thường. Sự
đến chán ngoét của mỗi ngày bâu bám như
bụi trên đồ vật không khi nào lau chùi hết...(...)
Bạn cứ tiếp tục thiền. Cơn say của ta
đang tan. Ta có thể viết cho bạn b́nh tĩnh hơn
một câu đại loại như sau: Đă có một
thời của hiện sinh do mấy anh du học Pháp,
Bỉ về khua chiêng gióng trống th́ nay đến
một thời của Thiền do mấy anh du học
Mỹ, Nhật về gióng trống khua chiêng. Nhưng
cũng chẳng sao...(...) Ta bóc dần ta từng lớp
vỏ (...) Ta bóc đến cùng kiệt, kiệt cùng. (...)
Đến đây ta tự nhận ta không c̣n làm tṛ hề (...)
Biết đâu là kiệt cùng?
Thơ văn thành thị miền
Nam lúc bấy giờ nói chung đă xa không khí âm hưởng
thời tiền chiến (chiến với Pháp), tuy Mê
Hồn Ca là thi phẩm đầu tiên do nhà
Khai Trí Sài G̣n in lại năm 1970, tuy Đường Vào T́nh
Sử đă ra đời
năm 1961 với nét vẽ của chính Đinh Hùng, rất hiện đại ấn tượng và dă thú, siêu thực Pháp, nghĩa
là một phong trào đă qua và bị bỏ quên, dù không ít
người trước đó vô cùng rung động
với những câu thơ hoang mang, ḱ hoặc
:
(...)
Mơ Hoàng thành dựng
lại bản thanh âm
Mười ngón tay nhung
Mở cửa đế cầm
Ôi kiến trúc một chiêm bao thần bí!
(...)
Trên
đường ta đi
Những đoá hoa nở mặt trời xích
đạo
Những làn hương mang giông tố b́nh sa
(...)
Ôi ngơ ngác một lũ người vong
bản
Mất tinh thần từ những thuở xa
xôi
Ta về đây lạ hết các ngươi
rồi
Lạ t́nh cảm, lạ đời chung, cách
sống
Đinh
Hùng
Bốn câu
cuối này vẫn làm tôi bâng khuâng, thấy chúng ít mơ
hồ ḱ quặc hơn những bài thơ khác của Đinh
Hùng. Lí do khiến kẻ phàm phu bỏ trần tục theo
khói thuốc phiện về cảnh tiên? hay tiếng thi nhân
thảng thốt lúc bạn đồng hành lộ mặt
stalinien?
Chúng ta đi vào lá hoa, t́nh sử
Hơi thở em hoà sương khói
Đường thi,
Anh đọc cho em những ḍng cổ tự
Ai cập và Cổ La Hi
Anh viết cho em bài thơ
nho nhỏ
(...)
Thôi rồi, Sài
G̣n đă qua mùa lăng mạn. Năm sau, Đinh Hùng mất. Mang
theo những tinh vân, khúc
nhạc hồn Do Thái, nhân ngư, nhiệt đới, lác
đác trong mê rụng tiếng đàn, hồn ai khóc rợn
bốn dây oan. Bây giờ là tiếng thơ Kiệt
Tấn lùng bùng trong lối cụt:
là
mê cung trong suốt
là
cơn lốc bất động
(...)
là
chúng ta phủ nhận chúng ta
mọi
lời nói chỉ có tác dụng làm tối nghĩa
và
nỗi bất lực từ đó
đến
heo chó gà vịt côn trùng cũng chết
trong trận giặc
của chúng ta
Ở giữa vài
bài thơ b́nh thường của con người b́nh
thường đang hoang mang ch́m trong tiếng chiến tranh
và bài thơ trí thức với chữ nghĩa thời thượng,
c̣n có những lời lẽ giản dị, gần gũi
với Kiệt Tấn bây giờ. Và đôi câu tuy hiếm
hoi đă hé mở một khôi hài Kiệt Tấn, cho dù
là/nhất là trong thảm kịch:
và
chiều chiều anh vác chày đá đến đập
cửa động em
kêu
đầy thung lũng
bớ
em bớ em
hăy
ra đây cùng anh t́nh tự
Hai bài trong số
này được Kiệt Tấn chọn in lại trong
Tuyển tập Kiệt Tấn do nhà Văn Mới xuất
bản ở Mĩ vào năm 2004. Chắc hẳn đây là
hai bài ông rất yêu hoặc ông nghĩ là tiêu biểu một
thời thơ Kiệt Tấn.
Bài thứ
nhất rất dài, một (bức) thư/thơ gởi
bạn, giọng luyến tiếc, thiết tha, mang tựa Ḍng sông và con thuyền hai
mươi tuổi. Bức thư cũng là một
truyện kể, nhắc nhở những mắt thấy
tai nghe thời thơ ấu của đôi bạn nhỏ:
c̣n
nhớ không Gia,
trong
những đêm đen nào
lũ
chó mực cất cổ tru thảm thiết bên những
căn nhà trụi nóc
(...)
với
chiếc cày lửa và mầm đạn đồng
gieo
mạ xuống vườn tược chúng ta
(...)
những
tầm vông vạt nhọn
(...)
c̣n
nhớ không Gia?
tụi
ḿnh quá nhỏ để hiểu được cách
mạng
bầu
cử Việt Minh Quốc Dân đảng...
chỉ
biết rằng cơm bắt đầu khô
nước
mắm hẹp ḥi và những khoanh thịt
bắt
đầu thưa thớt trong bữa ăn
nhưng
tụi ḿnh thích thú v́ không phải đi học
đó
là thời ḱ cha anh chúng ta th́ thầm
rất khuya bên ngọn đèn
dầu
(...)
c̣n
nhớ ǵ không Gia
những
người mất đầu v́ một quyển văn
phạm ngoại ngữ
những
người bị mổ bụng v́ mặt biên áo trong có in
ba mầu
(...)
c̣n
nhớ ǵ không Gia?
những
mảnh gỗ vụn được ghép thành ghe
...
những
con tàu Noé hớt hải trên khắp các ngả sông
...
nhớ ǵ không Gia?
những lời nguyền
thiêu trong lửa
những
phản phúc mặc áo bưng biền
những
Nguyễn B́nh
những Tạ Thu Thâu
những Hoàng Thọ
những
người bị thủ tiêu trong rừng vắng
những
người bị phục kích trên đường về
những
người bị đánh cướp công lao
những
người chết không bao giờ nhắm mắt
...
....
họ không có th́ giờ
để cắt cổ từng người
...
họ
không có th́ giờ đào những lỗ huyệt tập
thể
những
người bị bắt quỳ bên bờ sông
lưỡi
phảng phạt xuống trúng tai trúng cổ trúng vai trúng
lưng mặc kệ
phát
chày vồ xáng lên đầu tức th́ và chưn đạp
tiễn họ xuống sông những đầu
người c̣n trồi lên:
"Đ.m
tụi bây, giết tao sao không giết cho thiệt
chết?"
...
lũ
tôm chực sẵn bên bờ sông
lũ
tôm ăn thịt người
lũ
người ăn thịt tôm-ăn-thịt-người
lũ
người-ăn-thịt-người-ăn-thịt-tôm-ăn-thịt-người
(...)
c̣n
nhớ không Gia
(...)
mày
nhớ ǵ không
(...)
mày
c̣n nhớ ǵ nhớ ǵ
(...)
Gia
ơi mày làm sao nhớ ǵ với viên đạn đồng
ngủ quên trong tim ngực
(...)
mày
kể lại cho giun dế nghe
(...)
chuyện
con thuyền đứt neo
dật
dờ trên ḍng sông hai mươi tuổi
(...)
Đây là lời
nhắc nhở thiết tha (mà đôi lúc lạnh lùng
kiểm điểm) từ/về những cái chết
thời Pháp và thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
cũng nhiều oan khiên tức tửi, những cái chết
sơ sinh, bào thai chưa ra đời, cái chết tóc xanh, đầu
bạc, của con tin, gián điệp, kẻ phản
bội, đệ tứ, đệ tam, kẻ nam,
người nữ... Những người chết và
những cách chết, kiểu chết, bị đập
bằng chày vồ, bị mổ bụng, bị chặt
đầu, bị giết bằng súng đạn, bằng
bom, bằng ḿn, chông, bằng dao cùn làm cá, bằng
lưỡi phảng... trên sông, trong rừng vắng,
dưới gầm cầu, nơi bờ mương... Cho
đến cái chết (đột ngột) của
người bạn tên Gia, trên dưới hai mươi
năm sau. (Tên này sẽ là tên bạn của một nhân
vật trong tập thơ sau.)
Những bi thương nhớ lại
để chỉ kể cùng
với cỏ cây câm nín và bưng tối đ́u hiu của
đêm hè
Không biết
người Việt (và lớp trẻ sinh sau 1975)
tưởng tượng ra sao và có (nhớ? tưởng
tượng?) cảm nghĩ ǵ khi đọc bài này, riêng
đối với tôi, những h́nh ảnh chiến tranh quá
khứ hiện ra sấm chớp, nhắc nhở. Như
thấy lại tất cả những chuỗi ngày xưa
cũ, một thứ phim sống cô đọng và mộng
mị hăi hùng. Như mộng mị v́ biết rơ ràng
rằng chuyện đă qua từ lâu lắm và nó chẳng
c̣n có thể sờ chạm đến ḿnh, dù những
dư âm ghê sợ đớn đau vẫn c̣n sắc
cạnh. Ai có nhớ ǵ không? Tôi nhớ đến một
người bạn Pháp biết rơ lịch sử cận
đại Việt Nam, một hôm, như nhà văn Đài Loan Bá
Dương đă phán ra một nhận xét nửa đùa,
nửa nghiêm chỉnh: "dân Việt Nam chúng mày rất ác
với nhau!" Biết rồi... khổ lắm... Ác
với nhau v́ giận dữ hận thù nhau? Tàn nhẫn v́ quá
(hành hạ nhau) đớn đau?
Nhà thơ
Kiệt Tấn ngày ấy đă đau đớn, giận
dữ ra sao? Chắc chắn Kiệt Tấn đă cảm,
đă thấy được cái ác, cái tàn nhẫn đó!
Không phải ác hay tàn nhẫn th́ gọi là ǵ? Không ác sao
lại tận t́nh giết nhau (bằng đủ cách,
đủ cớ) như thế? Nhân loại, dân chúng trong
cùng một đất nước ngoài Việt Nam có
giết nhau tận t́nh và dài lâu như vậy không?
Bài thơ thứ
hai tái bản năm 1994 là bài Biết
bao giờ, mùa hè về, Kiệt Tấn trốn cô
đơn và đau khổ, ray rức bằng những
kỉ niệm thần tiên, những kỉ niệm ở bên kia địa ngục :
hăy
nằm im
và
đừng hỏi
tại
sao
đừng
hỏi tại sao
những
con ruồi say nắng
rụng
cánh
nằm
chết
trên
bàn tay ấm áp
của
mùa hè
Tôi thấy
lại giọng kể lể tự sự, tự nhiên
nơi Ḍng sông và con thuyền
hai mươi tuổi trong tập thơ thứ hai,
dưới góc nh́n khác, b́nh tĩnh hơn, toàn diện
hơn, có lẽ v́ Kiệt Tấn có khoảng cách xa hơn
với lịch sử.
Khoảng cách cho
thấy Kiệt Tấn chín mùi, đầy đủ,
tự do (về t́nh cảm, chữ nghĩa, và về
dục t́nh) ở các tập truyện ngắn và tṛn
trịa cổ điển, gần gũi với chính ḿnh
hơn ở tập thơ sau này. Thật vậy trong
tập đầu, Kiệt Tấn trang nghiêm, đau
khổ, phẫn uất như mọi thanh niên đau
khổ v́ chiến tranh lôi kéo ức hiếp vào thời
ấy. Chắc chắn là họ đau khổ, dù những
cách thức dấn (dâng)
ḿnh vào cuộc (chiến) sống khác nhau. Đi Đêm Màu Hồng
hay Ngă Ba Chú Iá, lả lướt Tango hay cưỡi
(đĩ) ngựa... đều khổ cả, chỉ
cần đọc thơ Kiệt Tấn. Chỉ cần
đọc lại sách, báo, văn chương thời
ấy.
Chỉ cần
đọc lại Nguyễn Thị Hoàng, Bóng người thiên thu, T́nh yêu, địa ngục…
Xin đưa thí
dụ một truyện ngắn
của bà mà phần mở đầu khiến độc
giả (tôi) hơi bực ḿnh v́ một nhân vật nữ (yểu
điệu, quư phái, cô nương công chúa Tàu
v...v...đến sốt cả ruột!) đang bâng khuâng
ngắm nghía kiểm điểm bàn tiệc trải khăn
trắng muốt sang trọng (!?), rượu (chờ), li
pha lê (đợi), đường sỏi & hoa cỏ
rực rỡ (mong), người đẹp đẽ
(đă sẵn sàng dâng hiến)
thế mà chàng không chịu đến, nàng phải...
kêu tài xế (xe hơi nhà,
dĩ nhiên) chở vào trại (cấm) binh đ̣i (hỏi)
sếp chàng thả chàng về; sếp ok chiều cô em
họ, bẻ găy lệnh cấm thế mà chàng (hào hùng,
tiếp tục hát bài) không chịu! Nàng trở về ḿnh
ên, bực tức, đau khổ, giải thích v́ sao nàng
đi t́m chàng. Trên đường về, nườm
nượp những đoàn xe đưa người ra
nghĩa trang quân đội. Như chứng tỏ rằng
nàng có lí khi dẹp tự ái qua một bên, đi t́m
đến người yêu. Th́ ra chiến tranh, chết chóc,
lảng vảng, ám ảnh mọi ư nghĩ, đầu óc,
chiếm ngự cả không gian, đời sống, thiên
đường người đẹp quư phái này. Đây là
một truyện ngắn cảm động về chiến
tranh. (Yểu điệu) thục nữ mà quân (nhân) tử
chẳng hảo cầu, tự ái bị tổn
thương quá sức nhưng chiến tranh và hậu
quả kinh hoàng trước mắt, cho nên, dù nàng
điệu đến chót đỉnh Hi Mă Lạp Sơn,
cho nên dù nàng đi t́m chàng bằng trực thăng hay xe
tăng chắc tôi cũng sẵn sàng cảm thông buông bỏ
bực bội.
Trong một truyện ngắn khác cùng tác
giả, tương tự, nhân vật nữ (lúc nào
cũng) quư phái, trí thức (xuống máy bay, tay xách chai
rượu, bỏ lại sau lưng "tiếng
tốt" và "những chứng chỉ"
(đại học - có lẽ vậy - chứ không phải
chứng chỉ miễn dịch!) đi t́m người
xưa, và cũng trên đường đi, gặp
"những xe nhà binh" chở "những tràng hoa
cườm và những quan tài đen đỏ".
Chiến tranh vây quanh. Chiến tranh bao trùm, lấn
lướt. Những chinh phụ chưa bao giờ
được cưới cũng đáng thương
như mọi người đàn bà trông chờ một
người nơi mặt trận.
Chỉ cần
xem Thơ say Vũ Hoàng
Chương hay nghe ông chỉ nh́n ḿnh nhân một chuyến đau ở Sài G̣n Sơ thu Tân Hợi:
Mai Thảo ung
dung Để tưởng nhớ
mùi hương, Sống
chỉ một lần, Hạnh phúc đến về đêm
Trùng Dương
với Bầy kên kên
Chỉ cần
xem Lệ Hằng tuyệt vời với truyện ngắn
Valentino
Và Nhă Ca với:
Tôi lớn lên bên này sông Hương
Con sông chẻ ra những
vùng thương nhớ
Cây trái Kim Long, sắt thép
cầu Bạch Hổ
Mặt nước xanh, trong suốt tuổi
thơ hồng
Chỉ cần
xem Duyên Anh với Áo tiểu
thư, Thằng Côn, Viên
Linh với Cuối trời hôn
mê, Nguyễn Đ́nh Toàn trong Áo
mơ phai hay Giờ ra
chơi
Tuư Hồng trong Mối thù rực rỡ .
Nguyễn Xuân Hoàng trong Khu
rừng hực lửa
Đó là (nhiều)
những ngoại lệ xác định thông lệ!
Nghĩa là
phải đọc Nguyễn Bắc Sơn, Y Uyên và Tô
Thuỳ Yên, ở một nơi chốn khác xa với
thiếu phụ năo nùng khăn trắng, li pha lê, xe hơi có
tài xế nói trên:
... Áo quan phong quốc kỳ anh liệt
Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang
Quê xa không tiện đường đưa
tiễn
Nghĩa tận sơ sài
đám lạnh tanh
(...)
Và xem lại
thời khoá biểu rất dễ thương của
Đức Phổ :
... anh chờ lại Sài G̣n
với bạn bè, thơ văn, sách báo
với những ngày lang thang
cơm b́nh dân, ḿ, ḅ kho, đầu
đường xó chợ
rồi chui vào rạp Rex ngủ trưa
đợi chiều đi dạy giết th́
giờ
...;bây giờ xem báo
anh lật trang chót trước
...
em yêu ơi!
Anh sẽ về dù gió, mưa, băo đạn
Dù hết tiền xe, dù nhảy rào, dù bị
cạo trọc đầu
...
cho những cuộc hẹn ḥ c̣n tiếp
nối
để dựng lại đời trong
đổ vỡ chông chênh
và nguyện sẽ chẳng bao giờ xa Sài G̣n
như chẳng bao giờ anh xa em
Trong lúc đó:
Hoàng Phủ Ngọc Tường chuẩn bị đi
thẳng vào đường Trường Sơn (và
thỉnh thoảng cho) Trịnh Công Sơn nghe "từng lời nói"
của người về "từ bên kia núi" và thi
sĩ Ngô Kha hoạt động nội thành bị (mật
vụ, an ninh quốc gia?) giết, vất xác bên bờ
ruộng!
Nhớ Hoàng
Ngọc Hiển với Quê
hương lưu đày. Nhớ Nhă Ca khẽ bước tới người thương
Ngậm ngùi
đọc lại những cố gắng của Thanh Tâm
Tuyền, Dương Nghiễm Mậu,
khi họ nhắc đến kỉ niệm tản cư
1954, về thành, đến "anh em Đệ Tam, Đệ
Tứ" trong những tác phẩm mới nhất lúc
đó và Doăn Quốc Sỹ với C̣ Đùm như những linh
cảm, cố gắng thành tâm trước cơn nguy
sẽ tới. Nhưng chẳng có (mấy ai?) nhiều
người nghe thấy và hiểu được những
kinh nghiệm (chính trị?) của họ.
Cái khổ
của Kiệt Tấn bị che khuất trong giận
dữ và trong
tuổi trẻ thiếu... kinh nghiệm về đau
khổ (để được cảm thông?). Cho nên dù là
thơ được đọc 40 năm về sau! Đúng ra,
độc giả có thể có cảm thông mà khó biểu
đồng t́nh được, v́ những chọn lựa
dễ dăi của tác giả cho dù đọc/đặt
thơ lại trong bối cảnh lịch sử ngày đó,
năm 1966. Chính v́ những chọn lựa dễ dăi này,
về sau những người như Kiệt Tấn,
Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng... sẽ dễ bị
chỉ trích bởi đôi bên kẻ thua cũng như
người thắng. Nhưng ai là người đă
chọn đúng con đường? Ai dám tự cho ḿnh là
đă hành động đúng nhất? Lựa chọn nào
cũng chỉ dễ dàng một cách tương đối
khi các yếu tố bên ngoài (như hoàn cảnh, sự t́nh
cờ, may rủi...) đă góp phần quyết định
không nhỏ? Phê phán, xét nét chuyện đă qua dễ ợt
như trở bàn tay. Trong những người trực
tiếp tạo nên thời cuộc - một cuộc
biển dâu thê thảm (kinh thiên động địa!) -
như thời vừa qua, nếu có ai dám quả quyết
rằng đă biết trước kết cục
(đời ḿnh và đời bạn đồng hành sẽ
đi về đâu), chắc chắn họ sẽ trở
thành tỉ phú nếu mở tiệm coi bói vận mạng
tương lai!
Thật t́nh mà
nói, trong cuộc bể dâu ấy, t́nh h́nh tuy bắt
đầu sôi động từ 1965, nhưng (người
thành thị) cũng phải chờ đến hai năm sau
chiến tranh mới leo đến cao điểm kinh hoàng
là Tết Mậu Thân 1968. Với cường độ lên
xuống ít nhiều (hội đàm, hiệp định
Paris, ngưng bắn) để lần lượt leo
đến những cao điểm khác, và theo đó bập
bềnh đời sống và bấp bênh vận mệnh con
người.
Bọn con nít
chúng tôi, sinh trước hiệp định Genève đôi ba
năm th́ như nói ở trên, "tiu nghỉu, thất
vọng" v́ hết được "tung tăng"
nhưng thế hệ lớn hơn tôi thuộc lứa
tuổi biết "kháng chiến 9 năm là ǵ" trở
lên - ít ra là một số ở thành phố, trong đó có
Kiệt Tấn - là những thế hệ thanh niên có
học thức, đang phơi phới bước vào
đời sống và xă hội; sau một thời ḱ
tương đối thờ ơ, không chú ư đến
chính trị, họ dần dà mất đi hi vọng và
lạc quan, dần dà có những suy tư xao xuyến v́
họ nh́n thấy rơ ràng từng bước leo thang của
tử thần và cỗ xe thảm kịch trầm trọng
liên quan thiết thân đến họ, tuy chậm mà
chắc, đang lừng lững tiến đến
nuốt chửng họ. Mỗi người phản
ứng hay thích ứng một cách. Và không thể nào có
nhiều cách hơn.
Bạn trong
lớp có một đứa mất tích (sau này mới
biết nó là Việt Cộng nằm vùng, bị "Mĩ
Thiệu" bắt giam ở Thủ Đức)...
Tôi c̣n nhớ sau
Tết Mậu Thân, bị nghỉ học v́ trường
bị trưng dụng chứa đồng bào tị
nạn chiến tranh, bạn bè đến rủ tôi ghi tên
cùng đi cứu trợ đồng bào, dọn dẹp nhà
cửa bị cháy ở Chợ Lớn v...v...Đó là lũ nhóc
trung học chúng tôi. C̣n các phong trào sinh viên, có rất
nhiều sinh hoạt: ca đoàn, du ca, dân ca, thanh niên
phụng sự xă hội, Phật tử, công giáo vân vân...
Nhưng rơ ràng là trước
đó, hăy c̣n ít nhiều dư âm của gần 10 năm
thanh b́nh kể từ sau hiệp định Genève.
Thật vậy,
thuở đó, tôi c̣n nhớ, vào năm học lớp
đệ thất, 1962, rồi đệ lục,
đệ ngũ, đệ tứ: ngoài màn buổi sáng (toàn
trường) chào cờ (và một lớp) hát quốc ca
như đă nhắc ở trên, khiến chúng tôi mất hai
mươi phút, nửa giờ tối đa, toàn bộ
thời gian chương tŕnh học c̣n lại dành cho
những môn toán, lí hoá, vạn vật, sử địa,
công dân giáo dục (học những thứ vớ vẩn chẳng ích chi cho cuộc chiến
tương lai: giữ vệ sinh - vệ sinh thân thể và
nhà cửa, đường phố - tôn trọng luật
đi đường, học nữ công gia chánh, thể
dục, bổn phận công dân: tuân theo luật pháp,
quyền bầu cử, phân chia tam quyền, tư pháp,
lập pháp, hành pháp vân vân, những bài học rất sơ
lược nhưng khá rơ ràng và c̣n để lại chút ǵ
trong đầu tôi bây giờ), c̣n về chương tŕnh
Việt văn, thầy cô dạy chúng tôi và cũng như
dạy tất cả trai gái cùng tuổi tác và thế hệ
có đi học (trường Việt)
gồm có: văn chương b́nh dân, truyền khẩu, vua
Lê Thánh Tôn và Hội Tao đàn, chữ quốc ngữ
với giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Năm sau: Lư Bạch, Tô
Đông Pha..., thơ văn Lư Trần, Nguyễn Trăi với B́nh
Ngô Đại Cáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Kim Vân Kiều với
Nguyễn Du, Bích Câu Kỳ Ngộ, Lục Vân Tiên và
Nguyễn Đ́nh Chiểu. Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn
Vĩnh..và Tự Lực Văn Đoàn...
Chắc chắn
các đàn anh trước đó niên khoá 1956 trở đi cho
đến lớp đàn em tận tháng tư 1975, cũng đều học như
thế ở bậc trung học chương tŕnh Việt.
Chúng tôi không hề biết một cách rơ ràng, khúc chiết
lịch sử những nguyên nhân, hệ quả đă
đưa đến cuộc chiến. Trong chương
tŕnh học đường tôi nhớ cũng không hề có
giáo dục bắt buộc hay tuyên truyền tốt lành ǵ
cho (phe ...ta trong) cuộc chiến tranh đang diễn ra.
Th́ thử
hỏi, khi chạm mặt với cái chết, với súng
đạn, mô ḿn, bom pháo, và...
Việt cộng. Bối rối, lạc lơng, kinh hoàng,
tuyệt vọng đến là chừng nào! Và xin nhắc
lại: mỗi người phản ứng hay thích ứng
một cách. Bản năng sinh tồn khiến mỗi
người tự vệ một cách. Hoặc vô t́nh hay
cố t́nh không nh́n thấy chiến tranh. Thích ứng ít
nhiều với chiến tranh v́ cuộc sống, v́ tuổi
thanh niên. Bất b́nh, phẫn nộ, nhưng có thể
chối từ dấn thân vào bên này hoặc bên kia. Hoặc
dấn thân kịch liệt hoặc cực chẳng đă
bên này hoặc bên kia. Sau 1968 và 1973 là xen kẽ những
khoảng thời gian vui mừng tin tưởng ở hoà
b́nh hay chiến thắng sẽ đến.
Kiệt Tấn
không thoát ra được ṿng hệ luỵ ấy:
được hoăn dịch hay động viên tại
chỗ, Kiệt Tấn phải sống và tiếp tục
cuộc hành tŕnh: tốt nghiệp ngành kinh tế, làm chuyên
viên rồi công chức khá cao cấp về kinh tế.
Trong cuộc
sống, với nỗi bất lực của sinh vật bé
con trước bộ máy chiến tranh khổng lồ,
như bao nhiêu người nghệ sĩ khác, cái t́nh cảm
bao la và ḷng mẫn cảm to lớn trong con người
Kiệt Tấn khiến ông nhanh chóng t́m quên trong rượu
chè, bạn bè, chơi bời.
Những bài
thơ hăy c̣n nét vụng về và t́nh cảm thời
thượng. Có thể sẽ khó gây được cảm
t́nh và thông cảm nơi những người dấn thân
hơn và dĩ nhiên, càng khó hơn nơi kẻ chiến
thắng!
Nhưng những
tư tưởng, tâm sự phôi thai hoặc chỉ
được nhắc sơ sài trong những bài thơ này
sẽ lộ rơ, được anh phân tích, tỉ mỉ nhắc
nhở mấy mươi năm về sau trong những
tập truyện ngắn dài sau này.
Vài năm sau Điệp khúc t́nh yêu và trái phá, Kiệt Tấn sang Pháp, theo
một chương tŕnh tu nghiệp, và kẹt lại sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975, tác giả đành phải bỏ
lại sau lưng tất cả những h́nh ảnh
khốc liệt ấy. Khi đó, kí ức của chàng thanh
niên ba mươi mấy tuổi chắc chắn c̣n
đầy ắp những ngày tháng tuyệt vọng,
bực bội và thành phố
Sài G̣n với những bài hát Trịnh Công Sơn và tràn
ngập thêm những lo âu, hoang mang mới: gia đ́nh xa cách,
cuộc mưu sinh nơi đất lạ. Tất cả
đă nung nấu nuôi dưỡng mầm mống cho
những tập truyện ngắn dài ra đời ở
Pháp và Mỹ trong thập niên 80, và tập thơ thứ hai.
***
Kiệt Tấn
bắt đầu sáng tác trường thi Việt Nam Thương Khúc - gồm 3100 câu -
năm 1984, trong ṿng ba tháng, ông viết được
khoảng hơn hai ngàn bảy trăm câu rồi bỏ
dở v́ chán ngán, cho đến 1986 mới có hứng
tiếp tục và chấm dứt 300 câu thơ cuối
chỉ trong một đêm! Trong bài giới thiệu, nhà văn
Nguyễn Văn Sâm không tiếc lời khen ngợi Việt Nam Thương Khúc.
Tập thơ
vần điệu vô cùng này – và với vần điệu cổ
điển thuần tuư Việt Nam nhất! - nối
tiếp một truyền thống tưởng chừng
như đă mất dấu hồi đầu thế
kỉ 20. Tưởng chừng như nhà thơ, sau cơn
giận dữ, sau cuộc bể dâu, sau những ngày ngao du
sơn thuỷ, bỗng quyết định trở về
mái nhà xưa, nh́n lại chốn cũ xác xơ bằng
đôi mắt đă khô lệ, bằng tâm hồn chảy
máu, sôi sục thương hờn nhưng b́nh tĩnh,
kiểm điểm lại những mất c̣n, tan vỡ và
từ tốn thay chiếc áo "bành tô" giang hồ
bằng chiếc áo dài the thâm/bà ba vải ta thô mềm,
ngồi xuống trước bàn hương án của
cụ ngoại, viết
lại những vui buồn đau thương thù hận
tang tóc diễn tiến nơi quê hương trong gần
một thế kỉ, một cách nói lên "nhịp
đập hồn nhiên của con tim trong mỗi
người Việt chúng ta" và cái "rung cảm phù
sa" trong mạch máu của chính ḿnh. Nối lại
một thân t́nh nào đó, tưởng đă bị thời
gian và lịch sử bôi xoá. Dù chủ ư tác giả chỉ là
"cống hiến mấy vần thơ".
Thật vậy
sau Đoạn Trường Tân Thanh, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm
Khúc, Lục Vân Tiên, chưa có một trường thi nào
với độ dài đáng kể và với đề tài chiến
tranh như thế.
Những
người cuối cùng
sử dụng lối lục bát cổ điển và
nhất là song thất lục bát trong các công tŕnh thật dài
hơi đă qua
đời cách đây hơn 50, 60 năm, trong đó phải
kể đến Phan Bội Châu Phan Chu Trinh, với
những lời lẽ thiết tha hùng hồn trong Hải ngoại huyết thư
nhắn nhủ đồng bào quốc dân, vực
dậy cả một thế hệ thanh niên.
Lời huyết lệ gửi về trong
nước
(...)
Nhác trông phong cảnh năm châu
Gió mây phẳng lặng dạ sầu ngẩn
ngơ
(...)
Đem nhời này khuyên nhủ cùng nhau
Nước ta mất bởi v́ đâu?
Tôi xin kể hết mấy điều tệ
nhân:
Một là vua sự dân chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết ǵ dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân với quốc, mặc thần
với ai
(...)
V́ đâu dân nước khốn cùng
Hỏi ai sướng miệng cam ḷng hay
chưa?
...
Phan
Châu Trinh trong Tịnh quốc hồn ca:
Ngồi mà nghĩ con
Hồng cháu Lạc
Trước vẻ vang rân rác là bao
Nam lấy Chiêm, Bắc cự Tàu
Cao Miên, Làốt thâu vào một tay
Nguyễn
Thượng Hiền trong Hợp quần doanh sinh
thuyết:
Nước Nam ta nào có kém ai
Bốn ngh́n dặm đất giăng dài
Việt Nam Thương Khúc bắt
đầu từ năm 1920 lúc nước ta hăy c̣n bị
Pháp đô hộ cho đến cuộc chia cắt Bắc
Nam, rồi chiến tranh Nam-Bắc-Mĩ qua đến
chiến thắng của miền Bắc với cuộc
thống nhất gây ra đợt di cư thứ hai, trong
những hoàn cảnh đau thương và kết thúc vào
1985/1986, lúc những cuộc vượt biển trở nên
hiếm hoi v́ thế giới không c̣n muốn cứu vớt
thuyền nhân nước Việt.
Trong bối
cảnh lịch sử đó, Kiệt Tấn kể lại
một cuộc đời nông dân miền Nam rất tiêu
biểu và vô cùng thăng trầm theo vận nước
từ đầu thế kỉ 20: hai vợ chồng tá
điền trẻ vùng quê Bạc Liêu (độc giả có
thể thay Bạc Liêu bằng Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Đéc
vân vân) bỏ quê cha mồ mả tổ tiên, bỏ ruộng
thuê, bỏ công việc cày cấy khổ nhọc, ra thành
phố sinh sống với hi vọng đời con ḿnh
sẽ khá hơn.
Ra ngoài thành
thị, người nông dân trẻ được giúp
đỡ tá túc, sau đó học nghề trở thành
thợ mộc. Cuộc sống nhờ ư chí tự lập và "nhất
nghệ tinh" ấy, vừa trở nên khả quan hơn
th́ xảy ra chiến tranh khắp nơi (đệ nhị
thế chiến / chống Pháp). Thế chiến chấm
dứt, đem cơ hội giành độc lập cho
Việt Nam và bắt đầu nội chiến.
Độc lập
không đúng nghĩa v́ kèm theo cuộc phân chia Nam Bắc và
chiến tranh tiếp tục dữ dội tàn nhẫn ít lâu
sau đó, kéo dài thêm đủ một thế hệ thanh niên
hai mươi năm. Thế nhưng thanh b́nh tới,
cũng tàn nhẫn, gây chia ĺa tang tóc không kém. Tất cả
phần tử trong gia đ́nh người nông dân ấy,
dĩ nhiên cũng sống được những
khoảnh khắc hạnh phúc khi mới biết yêu hay
buồn bă thất t́nh qua bi kịch riêng tư, nhưng
phần lớn cuộc đời bị cuốn vào cơn
giông lịch sử, gia đ́nh tan rồi họp, họp
rồi tan, có kẻ bị hăm hiếp, chết trong cuộc
kháng chiến, có người tàn tật qua cuộc nội
chiến, và khi đất nước thống nhất, con
cháu họ bị cướp nhà, bị tù tội, phải
vượt biên, tha phương để lại khiến
gia đ́nh một lần nữa khóc cảnh chết chóc,
chia ĺa.
Nhiều
người "chánh gốc Nam Ḱ quốc"
thường thường bậc trung có thể nhận ra
bóng h́nh mẹ cha, ông bà ḿnh hay bà con thân cận trong gia
đ́nh "bác Tám thợ mộc" này.
Sau đây là
những câu thơ trích, ghi lại những biến cố
chính xảy ra trong mấy mươi năm dâu biển
:
Vừa sinh con
đầu ḷng, người đàn ông trẻ quyết
định bỏ ruộng (thuê) trốn ra chợ, mong con
ḿnh có một tương lai đẹp đẽ và sung
sướng hơn
Lớn
lên cố gắng con ơi
Đừng
như ba má mơn đời cấy công
(...)
Chí
đă quyết bôn đào điền chủ
Lời
giải phân khuyến dụ thê nhi
Nửa
đêm xuồng nhỏ ra đi
Ĺa
nơi cắt rún phân li xé ḷng
(...)
Cho đến khi
"đă lâu nương náu luỵ phiền
giờ đây đủ cánh
thân liền tự bay"
..."thôi th́ lạy thánh
Lỗ Bang
Vái rồi xin Tổ lên
đàng lập thân"
Một cuộc
đời rất tiêu biểu cho một số đông dân
thành phố miền Nam gốc vườn. Nơi
đất lành chim đậu ấy :
Áo
Hậu Giang rạt rào lúa sữa
Bụng
phù sa đầy bữa cơm no
(...)
Câu
vọng cổ đêm tàn ray rức
Điệu
xàng xê thao thức chờ mong
Trăng
chinh phụ nhớ thương chồng
Vàng
con nguyệt cũ sương hồng giấc xưa
(...)
Lời
cục mịch tiếng cười chân thật
Láng
giềng gần cô bác gạ quen
(...)
nhưng khung
cảnh thanh b́nh này không đáng kể bởi v́ "Đời Pháp thuộc trăm
phần áp bức":
(...)
Rợ
Tây, lính kín cặp rằng
Súng
đe roi đánh vết hằn dân đen
(...)
Hé
răng Bà Rá lao tù
Côn
Nôn Phú Quốc ôm thù rục xương
Nhưng khắp
nơi đều có chống đối khiến thực
dân bố ráp đêm ngày, nhất là sau khi Việt Nam Quốc
Dân Đảng khởi nghĩa và Nguyễn Thái Học bị
Pháp xử tử.
Xảy
thế giới trùng trùng dậy lửa
Khắp
địa cầu ch́m giữa máu tanh
Mỹ
Nga Đức Nhựt Ư Anh
Phân
làm hai khối chiến tranh rợp trời
(...)
Cáp duồn hô cổ Việt chém
phăng
Trà
Vinh thây rụng Sóc Trăng rơi đầu
Khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông
Dương, các đảng phái mới cũ thừa cơ
vùng dậy: Việt Minh, Quốc Dân Đại Việt v..v..
cuộc kháng chiến chống Pháp mở đầu:
Nào
những lúc ngăn ḍng nước địch
Rơm
tẩm xăng xạ kích tàu Tây
Dừa
leo khư súng một tay
Bắn
lui thuyền chiến xua loài nhiễu nhương
Người con
lớn tên Quang lên đường... vô bưng kháng chiến
và gặp gỡ người yêu. Sau đó đôi nhân t́nh
Quang – Lan lạc nhau.
Men
t́nh ái luyến chàng trai trẻ
Bận
đầu tiên ḷng khẽ hỏi ḷng
Phải
chăng t́nh núi duyên sông
Th́ thanh b́nh lại tin
hồng gửi nhau
Về sau, t́nh
cờ Quang gặp Dung, một cô bạn từng đi chung
kháng chiến với Quang và Lan. Dung c̣n giữ kỉ vật
của Lan: lọn tóc gửi Quang và... một đứa con
gái lai Pháp. Th́ ra Lan sau khi chia tay Quang, lưu lạc, lấy
chồng Pháp, bị kháng chiến (Dung!) trừng phạt
tội phản bội này. Dung sau này mới thú thật là
thi hành lệnh đảng, giết bạn và nuôi con
bạn! Một số phận thê thảm khác dành cho cô gái
đẹp đẽ em Quang: Duyên, bị một tên lính kín
vu oan bắt nhốt và đem dâng cho Tây. Bị hăm hiếp,
Duyên bỏ gia đ́nh trốn đi và ít lâu sau đó trở
lại ôm lựu đạn xông đến giết kẻ
đă hại ḿnh đồng thời tự sát luôn. Đây là
(một phần) tâm sự Quang khi mất dấu
người yêu:
(...)
Khi
trở lại biết là gặp lại
Hay
c̣n chăng quan tái sâm thương
Gan
sắt đá dạ can cường
Mà
sao ḷng luống đoạn trường đ̣i cơn
(...)
Khi
trận chiến chưa tàn
Gào
cơm trẻ khóc thiết tha (?!)
Em
trễ hẹn ta trông mút mắt
Một
ngày không thấy mặt ngẩn ngơ
Hỏi
Cầu Lộ đường t́nh ta tiễn
Hỏi
Ngă Ba én liệng phố cao
Hỏi
Thiềng Đức hỏi Cầu Tàu
Hỏi
đêm Cái Cá đêm nào dấu em
Vào thời
loạn, chia tay nhau một lần đôi khi cũng là
vĩnh biệt.
Hỏi
phượng vĩ trưa rèm bông đỏ
Hỏi
cau khuya bóng nhỏ đường trăng
(...)
Quên
chăng mắt ngọt môi mời
Quên
rồi dạ lư đêm ngời tóc thơm
Quên
rồi chắc mùi thơm vườn cũ
Quên
ruộng dưa quyến rũ dưa leo
Quên
chăng cầu nhỏ ao bèo
Quên
trăng chênh khuyết áo nhèo giọt thu
Hai người
em kế Quang cũng bị cuốn vào cơn lốc
thời cuộc.
Kiệt Tấn
vẽ lại thật rơ ràng không khí lăng mạn thời gian
đầu kháng chiến với những bài hát quen thuộc
với nhiều người nói chung, những tác phẩm
c̣n lưu truyền cho đến 60 năm sau của Văn Cao, Đặng Thế
Phong, Phạm Duy, Lưu Hữu Phước... thơ Quang
Dũng, Hoàng Cầm... thời bấy giờ khiến
nức ḷng thanh niên cho dù gặp những khó khăn nguy
hiểm.
Và khi đó t́nh
h́nh thay đổi rất nhanh chóng: Ngoài Bắc, quân Pháp -
Việt đánh nhau ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Đau
thương thành phố: Nhật bắt trồng đay
thay v́ lúa, gây ra trận đói kinh hoàng năm 1945:
Triệu
dân chết da xanh bụng rỗng
Địa
sông Hồng băi rộng tha ma
Trong Nam, Hoà
Hảo, Cao Đài, đội quân Năm Lửa, Ba Cụt,
Bảy Viễn, yêng hùng nhiều cơi, loạn lạc
khắp nơi. Một trong những lí do khiến
người kháng chiến bỏ về thành phố là cái
chết Nguyễn B́nh. Người chỉ huy Quanng tuyên
bố tan hàng, cho quân kháng chiến tự lựa chọn
đường đi. Quang bỏ kháng chiến về thành.
Sau khi bại
trận ở Điện Biên Phủ, Pháp phải rút quân,
rồi chia cắt nước Việt Bắc Nam nơi
vĩ tuyến 17. Dân chúng, cán bộ, quân kháng chiến...
tập kết ra Bắc, tản cư vào Nam. Bắc
trở thành nước cộng sản dân chủ cộng
hoà. Nam, "thành tŕ" tư bản cộng hoà!
Đệ nhất cộng
hoà tổng thống Ngô đ́nh Diệm tảo trừ
phiến loạn B́nh Xuyên, Rừng Sác. Nước
được thanh b́nh khoảng 9, 10 năm. Đó là khoảng
thời gian của Chuyến
đ̣ vĩ tuyến, Khúc nhạc đồng quê, Duyên
thề, Mùa thu quyến rũ, Dư âm, Suối mơ, Sơn
nữ ca, Buồn tàn thu... được phổ
biến rộng răi, những bài hát cho đến ngày nay,
chúng tôi vẫn c̣n hát và c̣n nghe ở hải ngoại! Như
những mảnh đời, những kỉ niệm khó quên
của nhiều người.
Trở lại
các nhân vật Thương khúc, số mệnh họ
gắn liền với miền Nam:
Linh em trai Quang, có
người yêu Liên quê Sa Đéc. Một hôm Linh tiễn nàng
về quê ăn Tết và không bao giờ gặp lại, th́
ra nàng phải... sang ngang.
Bỗng
ân ái mặn mà đứt phựt
Bỗng
non t́nh sa vực sẩy hang
(...)
Hận
ai kia bóp chết t́nh nhau
Hận ai bến mới duyên vào
Hận
ai ôm ấp mận đào giờ đây
(...)
Nửa phù dung nửa sớm nửa
trưa
Nửa
tim nhói nửa hơi thừa
Nửa
đời ta đó em bừa xéo đi
Thất t́nh,
đau khổ, Linh t́nh nguyện vào trường Vơ bị Đà
Lạt. Và tại thành phố
Xứ
hoa ngàn tía rộn ràng
Kim
hương đua cúc mai lan chen hồng
này chàng gặp
duyên mới: Tuyết, một cô gái gốc Hà Nội, mẹ
mất v́ buồn con trai cả tử trận, rồi cha
bị đấu tố chết lúc cộng sản tiếp
thu Hà Nội. Tuyết vào Nam với d́, lạc dấu
người em trai tên Trung. Thế là cuộc t́nh nẩy
nở, lần này Linh cưới được
người ḿnh yêu. Để rồi kẻ phải ra
trận, người về hậu phương sinh
sống. Lúc bấy giờ Mặt trận giải phóng
miền Nam ra đời "Trận bày trận thiệt
Mặt làm b́nh phong"
Xua
binh giáp tấn công Trảng Sụp
Ấp
Bắc kia phô sức điều binh
Chung
quy chỉ tội dân t́nh
Ngày
Quốc đêm Cộng thân h́nh xẻ đôi
Ấp Bắc,
Trảng Sụp: địa danh những trận đánh
lớn đầu tiên ở các tỉnh lớn lân cận.
Nơi thủ đô Sài G̣n bây giờ t́nh h́nh chính trị sôi động,
gia đ́nh ông Diệm làm mất ḷng dân v́ chính sách đàn áp
Phật giáo (cấm treo cờ, cấm biểu t́nh...).
Sau khi đảo
chánh, các tướng lănh liên miên tranh quyền, lật
đổ nhau... cho đến khi hai tướng Nguyễn
Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm chính
quyền:
Thời
cơ chớp tức th́ quân cộng
Vết
dầu loang mở rộng chiến khu
Đồng
Xoài B́nh Giă âm u
Mùa
mưa chiến dịch mịt mù máu xương
Thế là quân
Mĩ đổ bộ vào. Có quân sư Mĩ tin
tưởng rằng chỉ vài tháng là b́nh định
được nhưng chiến trận càng lúc càng
quyết liệt, người Mĩ phải kêu gọi
đồng minh "thế giới tự do" giúp
sức. Tân Tây Lan, Nam Hàn, Úc, Thái... đổ người
đổ quân vào. Như thêm dầu vào lửa.
Mĩ phải
dội bom miền Bắc. Tất cả vẫn lại là
chế thêm xăng vào lửa. Thế giới yêu hoà b́nh kêu
gọi ngưng chiến. Bắt đầu có những khoảnh
khắc ngưng chiến... có tính cách chiến lược,
chiến thuật. Năm 1968, Mặt Trận tuyên bố
"hưu chiến cho đồng bào ăn Tết"
nhưng đúng đêm giao thừa và mồng 1, quân lính MT và
quân Hà Nội mở cuộc tổng tấn công khắp
mọi thành phố lớn và Sài G̣n. Họ chiếm
được vài nơi quan trọng hoặc có tính cách tiêu
biểu, cố thủ vài ngày rồi bị đánh bật
ra. Ở Huế,
họ chiếm được lâu nhất (26 ngày) nên
xảy ra nhiều vụ thanh trừng đẫm máu:
hơn hai ngàn người gồm thường dân, công
chức cao cấp, trí thức, sĩ quan... bị "cách
mạng và nhân dân" xử tử tàn nhẫn, chôn chung trong
nhiều hố hầm đào vội.
Xuân
lửa máu mịt mù đất nước
Tết
Mậu Thân ai được ai thua
Dân
Nam ngọn cỏ gió đùa
Chết
bao nhiêu chết cho vừa chiến tranh
Nhưng cuộc
sống bao giờ cũng lấn lướt đau
thương chết chóc, chỉ ít lâu sau:
Nền
kia lại đắp lại đào
Nhà
kia lại cất xây cầu nối sông
(...)
Sài G̣n lại Sài G̣n như
trước
Hè
Tự Do rộn bước giai nhân
(...)
Khánh
Hội cũng chen phần góp tiếng
Nọ
Tư Sanh nhiều miếng ăn ngon
Lươn
um đùi ếch chiên ḍn
Ḷng
xào khoái khẩu lưỡi ṃn cá chưng
(...)
Hè
Lê Lợi treo đầy vải vóc
Sách
bán sôn bày dọc lề đi
Viễn
Đông nước mía nhâm nhi
Thanh
Xuân hủ tiếu ganh ḿ Gia Long
Chợ
Vườn Chuối hẻm đông bánh cuốn
(...)
Chiến trận
cũng không ngừng leo thang cho đến lúc... Mĩ
thấm mệt, v́ dân Mĩ đ̣i con về nhà, v́ phong trào
đ̣i hoà b́nh lúc càng lớn mạnh ở tại Mĩ và
tại thế giới... Cuộc thương thuyết
bắt đầu: hội đàm Paris kí kết đầu
năm 1973. Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Linh, một hôm
nhận được tin nhà và tin buồn một
người bạn chết trận, ra quán rượu t́m
quên:
Này
ly đời rụng A Sao
Này
ly cạn giọt máu đào Gia ơi
Này
ly rơi hỏa châu đèo Mụ
Này
ly soi phi vụ Tây Nguyên
Này
ly đêm hét quân truyền
Này
ly cạn chén t́nh Liên rót đầy
Diễn tiến
t́nh h́nh các mặt trận theo thời gian
Bảy
Hai ba tuyến Cộng đe
Tây
Nguyên Thiên Trị Cục Rờ B́nh Long
Sư
đoàn Năm Suối Thôn Xa Cát
Biệt
Động Quân Bàu Mét cầm chân
Giải
áp lực Sư Đoàn Hai Mốt
Lữ
Đoàn Dù Bàu Hót thốc vô
Ngàn
đạn pháo đêm từng đêm nă
An
Lộc dân thịt tả xuơng tơi
Thiết
Đoàn Trinh Sát tiểu trừ Suối Tre
Điền
Quản Lợi Lai Khê đóng chốt
Hè
Xuân ba đợt tưng bừng
B́nh
Long tử thủ Nhựt Hưng gan ĺ
Chiến
xa Mê Thuột tấn công
Thiệu
ra lệnh rút trú pḥng Pleiku
Không
đầy tháng miền Trung mất trọn
Mới
xua quân nuốt gọn Tây Nguyên
Thời
cơ Trà Dũng chớp liền
Tấn
công năm mặt đội truyền xấn Nam
Tướng
Minh Đảo chận ngang Xuân Lộc
Quân
tướng Khôi dàn dọc Tây Ninh
Vẫy
vùng một trận hồn kinh
Cuối
đường tuyệt vọng xả ḿnh đột xông
Thời
lai đổ điếu thành công dị
Vấn
khứ anh hùng ẩm hận đa!
Hỡi
ơi một cơi sơn hà
Lọt
tay cộng sản hận ḷa sử xanh
Chí Minh giải phóng
đường ṃn
Dép râu nón cối Sài G̣n
từ đây
Sao vàng cờ đỏ
phục xanh
Dép râu nón cối Hà Thành
từ đây
Thanh b́nh thống
nhất năm 1975, kẻ chiến thắng lo thu góp
chiến lợi phẩm và trả thù người thua
trận. Để có danh chính ngôn thuận cho chuyện độc
quyền lănh đạo đất nước, chuyện
cướp của, lấy nhà, hành hạ và bạc đăi
con em nguỵ quân nguỵ quyền, họ kể lể công
trạng suốt ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm
nọ, bắt dân miền Nam học tập lịch
sử... Chưa kể đến những chuyện quan
trọng hơn: dẹp bỏ Mặt Trận giải phóng,
loại trừ những thành phần tỏ ư độc
lập hoặc chống đối để đảng
tiếp tục lănh đạo vận mệnh đất
nước và con người Việt Nam:
Vừa
chiếm đất cộng bày quản lư
Mọi
thành phần đăng kư tỉnh quê
Nhân
dân tài sản kiểm kê
Lăm
le tính cách toan bề tịch thu
Bao
năm rút chiến khu nhồi sọ
Rằng
dân Nam đói khó gạo khan
Tỉnh
ra bộ đội hoang mang
Miền
Nam sung túc ngỡ ngàng cán quân
Bọn
đầu sỏ tưng bừng giành giựt
Dinh
thự cao rơ mực nguy nga
nhạc
vàng gái đẹp Hông-đa
(...)
Dưới
trên quỷ kế mưu tà cướp dân
Gỡ
máy móc chở phăng về Bắc
Bọn
cán già lộ mặt xuẩn ngu
Vùng
kinh-tế-mới lập khu
Đày
dân chỗ chết hả thù dạ tham
Kết
tội ngụy bắt giam tẩy năo
Trại
giết người cải tạo danh xưng
(...)
Thọ
Phát B́nh nghỉ mát bộ tam
Thủ
tiêu Mặt Trận Miền Nam
Hết
xôi rồi việc mặt nhàm ră tan
Óc
lạc hậu tập đoàn ma giáo
Ách
ngu dân lănh đạo già nua
Vành
ngoài sản xuất thi đua
Vành
trong vơ vét không chừa món chi
Đốt
sách vở hủy di sản cũ
Hốt
văn nhân tống rũ đề lao
(...)
Chương tŕnh
đốt sách, giam sĩ quan, trí thức tăng nhân của
người chiến thắng sau 30 tháng tư 1975
được tác giả ghi lại qua so sánh với hành
động Tần Thuỷ Hoàng thời cổ xưa:
Rập
khuôn bạo chúa thuở nào
Thủy
Hoàng thiêu tự sĩ hào chôn tươi
Cán
bộ Bắc nhổm người háo hức
Vọng
miền Nam hậm hực tranh nhau
(...)
Câu
đầu lưỡi huyên thiên Bác Đảng
Những
nhân dân cách mạng ơn cao
Đánh
cho Mỹ cút Ngụy nhào
Tự-Do-Độc-Lập
chi nào quư hơn
(...)
Biến
đất Việt nhà tù vĩ đại
Khắp
nơi nơi dựng trại tập trung
Học
tập cải tạo tàn hung
Quân
nhân công chức trị trừng tội xưa
(...)
Tham
nhũng gấp muôn ngàn hơn trước
Cán
tống tiền kẻ vượt biên cương
(...)
Xưa
nay sử Việt chưa từng
Nạn
dân bỏ nước ùn ùn ra đi
(...)
Ngày
đêm bắt tường tŕnh tự thú
Tội
bà con bác chú kê khai
Vạch
ba đời chẳng sót ai
(...)
Tinh
thần khủng bố đọa đày xác thân
(...)
Cộng
quản lư tiêu điều kinh tế
Dân
miền Nam sưu thuế oằn vai
Tiểu
thương vội trả môn bài
Ép
vô tổ hợp mệt nhoài đói meo
(...)
Dân
tập kếp sững sờ sáng mắt
Bắc
Cộng tham quá quắt xuẩn ngu
Cán
Nam bất măn thâm thù
Cự
đương xô xát đi tù th́ đi
Mặt
nạ rớt hay ǵ cơng rắn
Sài
G̣n nay trĩu nặng danh Hồ
Bao
năm Hà Nội xác xơ
Kéo
lùi lạc hậu bây giờ toàn dân
Cuộc chiến
với Kampuchia và Trung Hoa lục địa, hai anh em cùng màu
cờ đỏ xhcn, bằng hữu tay chân răng môi
khắng khít từ trước đến nay: bỗng
một ngày răng cắn môi cắn lưỡi, tay
chặt tay chặt chân: thêm hàng trăm ngàn người
chết. Với Tàu hơn một tỉ dân th́ hàng trăm
ngh́n người chết chả thấm thía vào đâu... Bây
giờ họ sinh sôi và xây dựng hàng trăm lần hơn
ta!
Cộng
Hoa Cộng Việt trận dàn biên cương
Việt
Nam lại thê lương lửa khói
(...)
Ngạc nhiên
nhất là những đoạn thơ kinh sau đây,
Kiệt Tấn ngâm tụng nhuần nhuyễn và với ḷng
thành:
Nam
mô Sư Bổn Mâu Ni
Nam
mô Phật bảo t́ thi xá phù
Nguyện
tinh tiến tiêu trừ ác nghiệp
Niệm
Di Đà dẫn tiếp chúng sanh
Nam
mô Vô Lượng âm thanh
Nam
mô đẳng Phật thượng hành hạ phương
Thụ
tŕ giới che thân ba áo
Dứt
muội mê điên đảo sát na
Nam
mô ư bát la hoa
Nam
mô tịnh độ Di Đà Thế Tôn
Phát
nguyện cửa thiền môn sám hối
Chánh
quả xua ác tội dứt duyên
Nam
mô tôn giả Mục Liên
Nam
mô hải đức bạc chiên hương đàn
Vầng
minh nguyệt đánh tan sương móc
Đại
từ bi vung gốc thiện căn
Nam
mô nhất kiến danh vang
Nam
mô biệt Phật vô phân đàn trầm
Bồ
Đề niệm Thế Âm Bồ Tát
Chính
kiến sinh cực lạc mười phương
Nam
mô hải tuệ thông vương
Nam
mô phổ tán Kim Cương tạng từ
Văn
Thù Sư Lợi ư kinh Phật truyền
Ḍng
Bồ Tát định thiền bát nhă
Nghiệp
chướng sanh thọ giả phàm phu
Nam
mô Bồ Tát Văn Thù
Khắc
hàng lục tặc giải trừ nghiệp căn
(...)
Thương Khúc
chấm dứt như sau:
Đảo
điên sông núi ba miền
Việt
Nam Thương Khúc sử truyền thiên thu
3100 câu thơ cho hơn bốn
mươi năm đời người qua ba thế
hệ "bầm dập" trôi nổi qua mấy
cuộc chiến tranh tàn khốc. Trong lịch sử
hậu chiến tranh (Việt Nam / Việt Nam) trước
đây (Trịnh Nguyễn) kể chứng cớ xă hội
có Nguyễn Du với Kiều, Văn tế Thập
loại chúng sinh. Có Nguyễn Đ́nh Chiểu (Việt Nam/Pháp)
với Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc, có B́nh Nguyên Lộc với tập thơ Ba Mén. (Và
Phạm Thiên Thư với Đoạn trường Vô thanh,
Động Hoa Vàng: nhưng hai tập thơ quá đẹp
đẽ này không có tính cách "thời sự và lịch
sử").
Có lẽ phải
nói Kiệt Tấn là người Việt duy nhất
thực hiện một công tŕnh dài hơi theo thơ lối
cổ điển cuối thế kỉ 20 ở hải ngoại.
Trong nước,
Nguyễn Bính để lại tập thơ trên 2000 câu làm
theo thể song thất lục bát tựa là Truyện Thơ
xong năm 1957. Ngoài ra Nguyễn Bính c̣n những bài thơ
ngắn, đại khái như bài sau đây làm ở Nam
Định, mùa xuân 1965, ra trước tập Điệp khúc t́nh
yêu và trái phá:
Khi giặc Mĩ thua đau cút thẳng
Cả hai miền chiến thắng reo vui
Anh về đời lại thêm tươi
Nhà ta vui lại gấp mười ngày nay
...
Như vậy,
ông Đặng Phong sẽ lại có dịp so sánh (một
kiểu) tâm t́nh (và con người-thi sĩ-) hai miền qua
một chứng từ văn hoá độc đáo về/
trong khoảng thời gian (đánh nhau) chia cắt. Có lẽ
khá tiêu biểu cho cho hai xă hội.
Đọc xong hai
tập thơ Kiệt Tấn, như hai đánh dấu cho
hai thời ḱ trong cuộc đời (thanh niên trong
nước và trung niên hải ngoại) rồi đọc
lại những truyện ngắn, truyện dài ông viết
cùng thời gian sáng tác sung măn nhất, tôi thấy Kiệt
Tấn rất phong phú dù trước
sau như một!
Điệp khúc t́nh yêu và trái phá
thời thượng bao nhiêu th́ Thương
khúc cổ điển bấy nhiêu, và chứa phần
lớn (90 % ?!) Kiệt Tấn trong đó.
Một phần
nhỏ cổ điển, rất cổ điển
ước lệ, thậm chí ước lệ cả
chữ nghĩa và tứ thơ (sâm thương, chinh phu, ê
chề, bặt tin chim cá, liễu yếu, đào thơ, xiêm
y, pḥng the, quan ải, tử sĩ... vân vân, nhưng có
lẽ sẽ rất mới cho những người
trẻ (có cái vốn phong phú quá b́nh dân và nôm na bây giờ).
Phần lớn chữ dùng rất giản dị, b́nh dân,
rất Nam ḱ, nhưng nhịp điệu lôi cuốn,
dồn dập, khiến người đọc không chán.
Kiệt Tấn
đă giữ lời hứa khi ông giải thích lí do dùng
thể song thất lục bát để "mô tả
những t́nh tự khốc liệt" lúc "khổ
đau cùng cực" hay "hân hoan quá đỗi" v́
"rần rật phong ba, rộn ràng vó ngựa, lửa
tuôn khói bốc" cũng như "đôi lúc ngậm ngùi
muốn khóc".
Bằng chứng
là những trích đoạn mô tả chiến sự sôi bỏng hay t́nh h́nh chính trị
oan trái cùng cực (khi cộng sản chiếm được
miền Nam) trên kia, hay trong những phút giây đau
đớn trầm uất, tuyệt vọng:
Này
ly rót những giờ tan tác
Này
ly nâng t́nh nhạt son phai
Này
ly máu đổ mệt nhoài
Này
ly hâm nóng lạnh hoài t́nh em
Này
ly uống say mèm đón Tết
Này
ly say toan chết t́nh đầu
(...)
Đâu
bùi ngọt gối cùng tay ấp
Đâu
nguyện thề sửa trấp nâng khăn
Đâu
dây ràng buộc xích thằng
Đâu
lời đồng tịch đồng sàng lửa thiêu
...
Đâu... thua ǵ Cung
Oán :
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ
bèo đầu bến mê
Đâu thua ǵ Thúc Sinh
tuy "con tằm đến
thác cũng c̣n vương tơ" mà cắn răng
khuyên người t́nh hăy ra đi trước khi vợ ḿnh
tới:
Liệu mà cao chạy xa bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi
Bây giờ kẻ ngược người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời
nước non?
Khi Tuyết
trốn trong chùa Vĩnh Tràng và xin quy y, theo lời thầy,
Tuyết tụng kinh niệm Phật, kinh sám hối
diệt khổ và giải oan, biến cải nghiệp ḿnh,
trong suốt 4 trang thơ hơn 100 câu. Tưởng như
chính tác giả đọc kinh giải oan, biến
nghiệp, sám hối vân vân cho dân ḿnh, cho tất cả
những gia đ́nh đă tả tơi mất mát
thương tật trong suốt hơn 3000 câu thơ. Thêm
phần trích ở trên và phần sau đây:
Nam
mô tịnh độ Di Đà Thế Tôn
Phát
nguyện cửa thiền môn sám hối
Chánh
quả xua ác tội dứt duyên
Nam
mô tôn giả Mục Liên
Nam
mô hải đức bạc chiên hương đàn
Vầng
minh nguyệt đánh tan sương móc
Đại
từ bi vun gốc thiện căn
Nam
mô nhất kiến danh vang
Nam
mô biệt Phật vô phân đàn trầm
Bồ
Đề niệm Thế Âm Bồ Tát
Chín
kiến sinh cực lạc mười phương
Nam
mô hải tuệ thông vương
Nam
mô phổ tán Kim Cương tạng từ
(...)
Ḍng
Bồ Tát định thiền bát nhă
Nghiệp
chướng sanh thọ giả phàm phu
Nam
mô Bồ Tát Văn Thù
Khắc hàng lục tặc
giải trừ nghiệp căn
Nghe chừng
như Kiệt Tấn đối đáp phụ hoạ (và
một cách tích cực hơn) với tác giả Cung Oán ngâm
khúc:
...Thảo nào khi mới chôn nhao
Đă mang tiếng khóc bưng đầu mà ra
Khóc v́ nỗi thiết tha sự thế
Ai bày tṛ băi bể nương dâu
Trắng răng đến thủa bạc
đầu ...
Dĩ nhiên, trong
suốt 2 tập thơ, Kiệt Tấn trang nghiêm quá,
khiến chúng ta hơi bỡ ngỡ, nhất là những ai
thích cái kiểu cà giỡn - nhây/Nam ḱ - (đêm thu
sương mù, em ru anh ngủ, anh ủ rủ, anh nhớ
hai trái... mù u, đọc ai cũng được,
đọc tui tui cám ơn, có xao nói dzậy người
ơi, vân vân ) nhưng phải nghiêm như vậy ông
mới "làm" một hơi mấy ngàn câu trơn tru
trầm bổng nhịp nhàng theo vận nước thê
lương và phận người bọt bèo đớn
đau thuở ấy. Có lẽ Kiệt Tấn KHÔNG SAO
GIỄU ĐƯỢC.
Dĩ nhiên, bây
giờ Kiệt Tấn có thể cười
được về chiến tranh, v́ nó đă qua, nhưng
có lẽ ông đă nói xong điều muốn nói. Như
Begnini tài ba với La Vie est belle, và phải ở cách xa
hơn nửa thế kỉ cuộc chiến tranh diệt
chủng Do Thái của bọn Đức Quốc Xă, mới có
thể làm được một phim về thời đau
thương ấy mà chọc cười được
thiên hạ và nhận được giải thưởng
điện ảnh Cannes!
Th́ ra, theo thói
thường người hay cười hay đùa,
thường... thường là những người hay
"khóc lẻ loi một ḿnh"! "Khóc cười theo
vận nước nổi trôi".
Tập thơ này
là món quà vô giá Kiệt Tấn "cống hiến cho
bạn đọc" và cũng là món quà dâng lên đất
nước. Tổ quốc mà nếu cứ phải nghe lịch
sử đời ḿnh lúc nào cũng đi lên độc
một điệu trống kèn hùng dũng kinh thiên
động địa th́ dù không (thể) ăn năn (!)
được chắc cũng ngấy đến óc. Có
mấy ai tặng được cho quê hương ḿnh
một món quà như vậy? Vừa tặng quà cho
người, người sống và người chết,
người đồng thời, người tương
lai, vừa là món thuốc linh nghiệm để giải
trừ thương tích ngày xưa.
Ước mong
rằng tác giả không c̣n nghe "vang rền đại
pháo", và "xích sắt chiến xa" không bao giờ
c̣n "nghiến nát mộng mị của tôi"...
Cuối tháng
6-2006
Phan Thị
Trọng Tuyến