Huế
Viện Đại Học
Cha Luận
và chúng tôi...
Nguyễn Văn Trường
Huế,
trong hồi ức của tôi, qua suốt ba thập niên dài,
1945 - 1975, là Huế của những biến cố,
những biến động, của những huy hoàng và tang
thương. Cho đến 54, Huế là cơ ngơi
của Nguyễn triều, sống với niềm kiêu hănh
của một đế đô, có chật hẹp, có tù túng,
nhưng gạo vẫn trắng, nước vẫn
trong. Thành-phố của b́nh an
và lặng lẽ. Nam Kỳ, tuy xa lạ với Nguyễn
Triều suốt non một thế kỷ, vẫn nh́n
Huế là Thủ Đô. Nhà Vua là linh hồn của giang
sơn gấm vóc từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà
Mau. Rồi ông Bảo Đại đi, ông Diệm về,
Huế cũng vẫn là xứ sở của một
triều đại mới, và vẫn được nuông
chiều. Huế chỉ thực sự đi vào dâu bể
của lịch-sử từ những năm sau 63. Năm đó, khởi đầu
bằng một cuộc cách-mạng, Huế lần hồi
trở thành thành phố của hận thù, của tranh
chấp, của những cơn sốt chính trị. Cha, thầy,
sư sải, quốc cộng, sinh-viên, chợ Đông Ba,
lên đường, xuống đường. Rồi
Mậu Thân 68, cuộc thăm sát. Rồi mùa hè lửa
đỏ 72, Quảng Trị thất thủ, Huế
trở thành vùng địa đầu giới tuyến.
Phập pḥng lo âu. Rồi tháng 3, 75. Cuộc rút quân thê thăm.
Từ đó Huế như đi khỏi đời tôi. Hay
nói một cách khác, tôi sợ, mỗi khi nghĩ về
Huế.
Nhưng
đó là chuyện cũ. Từ đó đến nay, cũng
đă thêm gần một phần tư thế-kỷ trôi
qua. Tôi bây giờ đă già, ḷng đă lắng xuống,
để có những cái nh́n chín chắn hơn. Tôi bây
giờ đă biết nói tới, nói lui, đă biết nh́n
xuôi, nh́n ngược. Trong một tâm trạng hồi
niệm, tôi muốn viết về Huế của một
giai-đoạn ngắn ngũi, từ 57-63, mà chúng tôi
thường gọi là giai-đoạn phát-triễn
đại học. Tôi muốn nói về Huế của
những năm bừng lên trong một khí sắc mới,
nói đến sự h́nh thành của đại-học
Huế, nói đến Cha Luận, nói đến lũ
trẻ chúng tôi, không sợ trời, không sợ đất,
khuấy động cái yên tĩnh của thành phố
lặng lờ như gịng Hương giang đó. Tôi muốn nói một chút về
phần đời của tôi và cái hạnh phúc nhỏ
của riêng tôi, nhỏ mà thật bền, mà tôi đă t́m
được trong thời gian 6 năm ở Huế.
Phải
thành thật thú nhận, khi nhận sự vụ lệnh ra
dạy ở Viện Đại-học Huế, cả gia
đ́nh, mẹ tôi và các anh chị tôi, không ai vui. Riêng tôi, tuy
có cái thú phiêu lưu nơi đất lạ, nhưng nghe nói
về Huế, thật không có
ǵ hấp dẫn cuốn lôi. Huế là một nước
khác, ngoài nước Nam-kỳ. Huế xa xôi. Huế tù túng,
chắc không hợp với một thằng người
nam, thích ăn tục, nói lớn, không có ư niệm về
quyền uy, thứ bậc của triều đ́nh mà âm vang
vẫn c̣n đâu đó trong các giai-tầng xă hội
Huế. Đại-học thời tân lập, mới
hiện-diện trên giấy tờ. Ông
Viện-Trưởng lại là một ông cha, cha Cao Văn
Luận. Ngày đó tôi c̣n trẻ lắm, chưa biết
sống theo lề luật, chưa biết tôn-trọng
những giá trị tinh-thần, nhất là những giá
trị tinh-thần có tính áp đặt tôn giáo. Tôi không rơ
học với ai hồi nào, nhưng trong tôi đă có một
thành kiến rất mạnh về các nhà tu: học không
xong, cua gái, gái chê, nên mới đi tu. Ngày c̣n nhỏ, tôi
vẫn tin, sáng sớm ra đường gặp ông lục[i]
là cả ngày xui không thể tả. Tôi là một thứ
Lệnh Hồ Xung. -Lạy các cha, các thầy, tha cho con,
tha cho những vọng tưởng, vọng ngôn, vọng
ngữ tồi tệ, không xứng đáng này.
Vậy
là tôi ra Huế, và ở lại nơi này 6 năm, từ
1957, ngày viện đại-học mới thành-lập, cho
đến 1963, khi viện đă trở thành một
định chế văn hóa vững chắc. Tôi rời
Huế, vào Sài-g̣n, nhận nhiệm-vụ mới. Tôi đi,
mang theo một người Huế bên tôi, mẹ của
mấy đứa con tôi, và bây giờ là bà ngoại của đứa
cháu suốt ngày gọi tôi: ”Ông Ngoại! Ông Ngoại!”.
Huế không c̣n là Huế của những ngày tôi mới
đến, Huế đă là một phần đời
của tôi.
Với
Viện Đại-Học Huế, với những em
sinh-viên, học tṛ của tôi, tôi mang theo như những hành
trang trân quư, mang theo cho đến bây giờ.
Với
cha Luận, cái nh́n của tôi thuở ban sơ và bây giờ
cũng khác đi nhiều. Cha là người linh mục
độc nhất làm viện-trưởng một viện
đại-học công lập. Nếu giáo sư Nguyễn Quang Tŕnh là ông
Viện-Trưởng đầu tiên, có công hóa giải sự chống
đối việc thành lập Viện-Đại Học
Huế của một số khoa bảng Sài g̣n lúc bấy
giờ th́ cha Luận là ông Viện-Trưởng đă xây
dựng và h́nh thành những
cơ sở chính yếu của Viện Đại Học
Huế: khởi đầu là trường luật,
văn-khoa, khoa-học, sư phạm. Sau đó thêm
trường y. Tôi có lắm dị đồng với cha
viện-trưởng của tôi, nhất là trong mấy niên
học đầu. Dị đồng, và mâu thuẩn, ở
cái nh́n, cách hành sử. Cha là nhân-vật nhiều
người bàn căi nhất ở Huế trong giai
đoạn đó. Người không thích cha thường
nói:"Cha Thích[ii], chết
về trời; cha Luận chết,..kẹt..dưới
thế gian." Tôi nghĩ,
vốn dĩ là con người, th́ không ai là thánh, không ai hoàn
hảo. Thiện ác, chánh tà, thời cũng do bởi ở
tiêu chuẩn người đời đặt ra.
Thương ghét, cũng tùy chủ quan được,
mất của một người. Hôm nay, tôi viết
về cha, lời viết sẽ không mang tính phán đoán.
Hôm
nay, viết về Cha, tôi phân vân giữa hai từ: ngài
hoặc cha. Có sự kính trọng người quá cố,
nhưng không chỉ có bấy nhiêu. Tôi không viết một
bài điếu văn để đọc tưởng
niệm. Tôi chỉ muốn ghi ḷng mến thương, và
sự kính trọng chân thành từ trong sâu xa của tôi
đối với Cha. Buổi đầu, trong giao tiếp
hàng ngày, tôi xưng con và gọi ngài là Cha. Tôi không là
người Ki-Tô-Giáo, nhập gia th́ phải tùy tục, nên cũng
có lắm ngở ngàng, lâu dần mới quen được
với cách xưng hô đó. Bây giờ, tôi cũng chỉ
muốn gọi ngài là cha, cha Luận, nhưng là do ḷng kính
mến.
Tôi
cũng sẽ viết về Huế, viết về ngôi
trường, viết về những đồng
nghiệp, đồng sự, về những người
sinh viên Huế, đến từ cái duyên tương
ngộ với Cha.
Cha
Luận là người đầu tàu, người tiên phong,
lănh-đạo trong việc xây dựng một viện
đại-học công cho cả miền Trung Việt.
Ngài
là người cho tôi duyên lành tương ngộ với
cảnh đẹp, người đẹp của sông
Hương, núi Ngự. Huế với tôi, đă trở
thành là thơ, là mộng, là t́nh yêu, là t́nh người; t́nh
người đồng sự, t́nh sư đệ, t́nh
bạn. Huế mở đầu cho tôi một cuộc
dấn thân, một tiến tŕnh trách nhiệm, học
hỏi, trăn trở, lo âu, sợ hăi, và hi vọng.
Huế,
cảnh vật hiền lành, con người tao nhă, lễ
nghi. Huế như một tiểu thơ, e ấp trong pḥng
the, mà lại muốn mọi người phải biết
đến, phải trân trọng, không phải chỉ trong cái
nhất thời, mà cả suốt chiều sâu
lịch-sử. Huế muốn chuyển ḿnh theo cuộc
sống mới, mà vẫn muốn giữ nguyên nét cổ kính
cố hữu không t́m thấy ở một nơi nào khác.
Cho nên, viễn khách có bị cuốn lôi bởi nét tịch
mịch, nên thơ của Huế, th́ đồng thời
cũng có chút khó chịu về những vẽ vời nghi
thức. Người Huế không nói ăn, ngũ. Nói
vậy là thô. Người Huế nói xơi, thời,
ngơi, nghỉ. Cô gái Huế không mấy khi đầu
trần, nh́n thẳng. Cô nh́n xuyên dưới vành nón lá, làm cô
thêm vẽ thơ ngây, xinh đẹp. Lời không nói hết
ư t́nh của Huế, v́ lời không tải được
hết ư, hết t́nh. Không hiểu được Huế
nếu không hiểu ngôn ngữ của dấu hiệu,
cử chỉ, thái độ, những biểu hiện trên
gương mặt, trong ánh mắt, qua hơi thở
nhẹ, hay trong tiếng cười thoảng.
Cứ
nh́n những nét mâu thuẫn trong đời sống, trong
cung cách của những con người xứ Huế...
Từ sáng đến tối, cả một sư đoàn
các cô, các bà bán bún ḅ, bánh canh, bánh nậm, cơm hến...
đi khắp phố phường, đường hoàng
trong chiếc áo dài cố hữu, có những mănh vá, có
chỗ bạc màu, có bụi đường, có mồi hôi,
như thách thức với tiết trời nóng nực
của mùa gió Lào, như nhắn nhủ phải ǵn giữ
cái nếp, cái nền, cái phong, cái cách.
Tôi
nh́n thấy Huế như thế đó.
Tôi
đến Huế như một kẻ lạc loài, ngây ngô,
hoang dại. Không giống ai trong cách ăn mặc, trong
cử chỉ, thái độ, ngôn từ. Sự ân cần
của các vị đồng sự [iii]
có thể là một việc đương nhiên trong tập
tục xứ thần kinh: trọng kẻ sĩ. Điều này cho tôi một khích
lệ vô cùng lớn, nhưng cũng lắm ngại ngùng lo
âu. Tôi ngại không đáp ứng được những
yêu cầu, những mong đợi của sinh viên, của
phụ huynh, của các bạn tôi, nói chung của
người dân xứ Huế. Tôi đâu muốn làm kẻ
sĩ, hay đóng vai kẻ sĩ. Tôi c̣n quá trẻ. Tôi
chỉ là một giảng nghiệm viên[iv],
và mong muốn có một cuộc sống b́nh
thường. Chỉ mới
vài tháng trước, chớ đâu lâu lắc chi, tôi c̣n
đi học, đi thi, c̣n làm giám thị nội trú cho
một trường trung học, c̣n dạy mỗi tuần
tám tiếng cho một trường trung-học ở Pháp
để kiếm sống. Giờ đây, bỗng nhiên
trở thành quan trọng, được đứng
lớp dạy Toán Học Đại Cương, Toán Lư Hoá,
Năm Thứ Nhất Trường Đại Học
Sư Phạm; đôi lần được hứa hẹn
sẽ là một ông quyền Khoa Trưởng; tương
lai thật “xáng lạng”. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tôi
lại nh́n sự việc tối tăm hơn. Thư
viện quá thô sơ, lai rai vài quyển sách cho học tṛ.
Ngoài phố, lơ sơ mấy tiệm sách nghèo nàn, nghèo
như người học tṛ xứ Huế. Đồng
nghiệp cùng chia nhau công việc dạy toán, chỉ có
một: anh Nguyễn Văn Hai[v].
Cả hai đều là cá mè một lứa. Trên không có
thầy, dưới không phụ tá, v́ giảng nghiệm
viên là cấp bậc thấp nhất đếm từ trên
xuống trong đẳng cấp đại-học, và trong
hầu hết các khoa, là bậc cao nhất từ
dưới lên, trong trạng huống không mấy b́nh thường
của Đại Học Huế buổi đầu.
C̣n
bên ngoài, nói chung Huế hiền mà không hiền. Thành phố
nhỏ, đi xuống, đi lên, chỉ có hai con phố.
Bên dưới cái trầm yên, tĩnh mịch ấy, là
những cơn sóng. Dễ mà khó, cái khó gấp trăm
lần những cơn giông bảo gào thét của miền
Nam. Huế có Tổng Thống, có “Ông Cậu”, có Đức
Tổng Giám Mục, có Thượng Tọa Trí Quang,
Thiện Minh, Trí Thủ,... Huế c̣n là cái nôi của
chế độ[vi].
Nhưng Huế có những
dồn nén...Huế nghèo,
Huế cũng là nôi
của những tham vọng của những người
làm tôn giáo, làm chính trị. Nhưng cũng v́ đó mà Huế
đáng thương biết bao nhiêu, cũng cơ cực
biết bao nhiêu, thiệt tḥi biết bao nhiêu. Và việc
mở một trường đại-học cho những
con người cần cù, hiếu học vào lúc đó, âu
cũng là một đền bù. Chỉ tiếc rằng trong
lúc mọi nguời đang chăm lo mở mang cuộc
sống của người dân Huế, trong lúc mà viện
đại-học đang trên đà phát triển, th́
bỗng dưng Huế lại phiêu lưu vào những
đấu tranh chính trị, dành dựt phe phái, làm cho cuộc sống
đă khó khăn, trở nên khó khăn hơn gấp
bội. Âu đó cũng là mệnh trời.
Có
lẽ v́ Huế là vậy mà đông đảo những
người con của Huế t́m phương lập
nghiệp ở những nơi khác. Thoảng hoặc
họ có trở về, cũng chỉ để thăm
viếng, cúng kÿ mà thôi. Huế đi để mà nhớ,
chứ không phải sống để mà thương. Cha
Viện Trưởng, vài năm trước khi thành lập
Viện Đại Học Huế, đă có kế hoạch
trồng người. Cha gởi nhiều học tṛ
giỏi đi du học. Muốn là giáo chủ, khai đạo,
phải có tông đồ. Nhưng tông đồ của cha,
người đi th́ có, người về không mấy ai.
Cha tự an ủi: “Ở Sài g̣n, tức là thủ đô thời
bấy giờ, quí vị
ấy giúp Cha nhiều hơn.”
Và
cũng v́ thế, cha phải tuyển các hộ pháp,
thời quân, sứ giả của cha ở nhiều
nguồn khác nhau: tại chỗ, Sài g̣n, Pháp, Anh, Mỹ,
Đức, Bĩ,..và đa số th́ rất trẻ. Bên
những bậc cha anh--như Cụ Nhu, Cha Thích--bọn
trẻ học hỏi và trưởng thành. Tôi bỗng
dưng trở thành thời quân của Cha. Cũng tội
cho tôi. Nhưng tôi đă được đền bù.
Cuộc đời tôi nhờ đó mà đi lên.
Triều
đ́nh của Cha lúc bấy giờ có: Lê Khắc Pho[vii],
“Tổng Bí Thơ” và một “Ban Bí Thơ Trung Ương”
gồm toàn những hiền tài, quí ông, bà: Đỗ
Ngọc Châu, Trần Đinh, Mệ Viễn Dung, Đinh
Văn Kinh, Trần Thị Như Chương, Bùi Trí,
Nguyễn Văn Thùy, Tôn Thất Quỳnh Thọ, Paul Vogle,
Lương Hoàng Phiệt, Nguyễn Bính... Nói chung, nhân
sự tương đối khá mỏng và hầu hết
đều là bậc trưởng lăo. Thế nhưng,
sự hiểu biết, ḷng tích cực và chân thành trong công
tác đă giúp cho Viện Đại Học qua những khó
khăn lớn nhỏ của thuở ban đầu. Chí đến
ngài “Tổng Bí Thơ”, với một bên ngoài khắc
khổ và khắc khe, và lúc nào cũng đạo mạo
trong âu phục, chẳng mấy khi rời cái áo bành tô,
như sợ lạnh, nhưng thật sự, không “lạnh
chân”, “lạnh cẳng”, không
ngại khó như dáng vẽ của anh. Ḷng anh lúc nào cũng
nhiệt t́nh với đồng nghiệp, với sinh viên,
với sự mở mang của Viện.
Viện
Đại Học Huế thành lập do Sắc Lệnh ngày
1 tháng 3 1957 (SL 45/GD, do Bộ Trưởng Nguyễn
Dương Đôn kư), và khai giảng vào tháng 9, 1957.
Về
việc sáng lập Viện Đại Học Huế, giáo
sư Nguyễn Văn Hai có viết[viii]:
“...Số
là sau khi mới về Việt Nam nhậm chức, ông Ngô
Đ́nh Diệm ra Huế.
Lẽ tất nhiên ông ấy cần một sự
tiếp đón nồng hậu của dân Huế nói chung và
của học sinh Huế nói riêng.
Linh Mục Cao Văn Luận lúc bấy giờ là giáo
sư Triết học tại trường[ix]. Ngài
năn nỉ tôi tổ chức diễn hành tiếp đón.
Tôi bàn với một số giáo sư, trưởng lớp
và trưởng ban sinh hoạt của trường. Tất
cả đồng ư đặt điều kiện là Ông
Diệm phải hứa sau này có quyền hành thời
phải mở một Đại Học tại Huế
để con em miền Trung nghèo có cơ hội cầu
tiến. Lời yêu cầu
cũng vừa hợp ư ông Diệm. Sau khi được
đoan chắc như vậy, chúng tôi mới mặc
đồng phục quần trắng có thắt cà vạt
xanh lơ mang biểu ngữ đ̣i mở Đại
Học Huế đi hàng lối chỉnh tề diễn hành
chào đón. Sau đó, Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm giữ lời hứa cho mở
Đại Học Huế mặc dầu có sự phản
đối dữ dội của các vị khoa bảng
ở Sài g̣n. Đại học Huế được thành
lập, con em miền Trung có chỗ trau dồi chuyên môn, và
nhiều lớp sinh viên tốt nghiệp đă góp công xây
dựng nước Việt Nam.”
Trực
thuộc Viện có Viện Hán Học, Trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật và các Khoa: Văn Khoa, Khoa
Học, Sư Phạm, Luật Khoa, Y Khoa[x].
Nói
chung cấu trúc Viện khá qui mô.
Triều
đ́nh mơng. Lực lượng sứ giả truyền giáo
lúc bấy giờ cũng rất
mỏng so với qui mô các khoa viện, trường
trực thuộc. Một số lớp trường Khoa
Học, Văn Khoa và Sư Phạm được ghép
học chung, một số giáo sư được mời
từ Saig̣n ra dạy, v́ thiếu nhân viên giảng huấn.
Sau
đây là danh sách quí vị Khoa Trưởng và Giám
Đốc đầu tiên của Viện Đại
Học Huế:
Văn
Khoa: Ông Lê Văn Diệm
Khoa
Học: Bs. Vũ Đ́nh Chính, Ông Trần Văn Bé.
Sư
Phạm: Ông Lê Văn
Luật
Khoa: Bà Tăng Thị Thành Trai, Ông Phan Văn Thiết.
Y
Khoa: Ông Lê Tấn Vĩnh, Ông Lê Khắc Quyến.
Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật: Ông Tôn Thất Đào
Viện
Hán Học: LM Nguyễn Văn Thích.
Ban
Giảng Huấn của những năm đầu của
các khoa, trường, viện: Trần văn Bé, Nguyễn
Thị Băo Xuyến, LM Urbain, Lê Thanh Minh Châu, Tôn Thất
Đào, Lê Văn Diệm, Sư Huynh Ferdinand, Nguyễn
Văn Hai, Trần Kinh Ḥa, Tôn Thất Hanh, Hồ Thị Hường, Lê
Hữu Mục, Bùi Nam, Trần Quang Ngọc, LM Nguyễn
Phương, Cụ Nhu, Lê Đ́nh Pḥng, Lê Khắc Quyến,
Phan Xuân Sanh, Krainick, Trần Nhật Tân, Trần Văn
Tấn, LM Nguyễn Văn Thích, Bùi Ḥe Thực, Nguyễn
Toại, Tăng Thị Thành Trai, Nguyễn Hữu Trí,
Nguyễn Văn Trung, Nguyễn văn Trường, Lê Tuyên,
Lê Văn, Lê Bá Vận, Nguyễn văn Vĩnh, Lê Trọng
Vinh, Trương Đ́nh Ư, Lê
Yên,......
Ban
Thỉnh Giảng của
những năm đầu: Đặng Đ́nh Áng,
Nguyễn Chánh, Trương Văn Ch́nh, LM Trần Thái
Đỉnh, Âu Ngọc Hồ, Phạm Hoàng Hộ,
Trương Bữu Lâm, LM. Lê Văn Lư, Lê Tôn Nghiêm, Từ
Ngọc Tỉnh, Nguyễn Quang Tuân, Thái Công Tụng, Bùi Quang
Tung, Phạm Việt Tuyền,
LM Thanh Lảng, Lê Tài Triển...
Nghĩ
cho cùng người sứ giả hữu hiệu nhất
để giới thiệu Viện Đại Học
Huế chỉ có thể là các sinh viên của Viện.
Rời khuôn viên đại-học, họ tung cánh bay đi.
Họ là quân nhân, là công nhân viên chức, là giáo chức,
luật sư, bác sĩ, hành nghề tự do. “Họ đă
góp phần xây dựng nước Việt nam.”[xi].
Hiện nay họ rải rác khắp năm châu, và hầu
hết đều minh chứng một cá tính, một
khả năng đáng kính phục.
Tôi
may mắn được sớm biết Tiến Sĩ
Dzương Đức Như[xii],
giáo sư Anh Văn, học giả, nghiên cứu Hán, Nôm, hát
chèo, hát nói, thật đa tài, Tiến Sĩ Ngô Đồng,
nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học
Quảng Đà, Tiến Sĩ Nguyễn Đức Kiên,
nguyên là Khoa Trưởng Trường Đại Học
Sư Phạm Huế, Bác sĩ Trần Đ́nh Tùng, nguyên
Trưởng Khoa Sản Bệnh viện Triều Châu,
Tiến sĩ Vơ Văn Thơ, hiện nay là giáo sư
của một Đại Học Canada.
Tôi
có duyên học đạo
với Ni Sư Trí Hăi trong
một thời gian khá dài. Và khi đến Houston
được duyên may
tương ngộ với Bác
Sĩ Nguyễn Văn Thuận[xiii].
Tôi không những
được thưởng thức văn của
Từ Nguyên, Trần Hoàng, mà c̣n đàm thoại, đổi
trao cái nh́n về thế
sự. Có khi tôi nhờ Từ Nguyên, đọc, góp ư, giúp cho
lời văn của tôi trôi chảy, mạch lạc
hơn. Từ Nguyên, Trần Hoàng có một thể văn
đa dạng có cái sắc bén
của ng̣i viết đấu tranh, có cái trung thực
của con người cầm bút.
Khi nói về t́nh, t́nh mẹ, t́nh cha con, t́nh chồng
vợ, t́nh anh lính chiến, t́nh quê hương, Từ Nguyên
có thể làm cho người đọc dễ sa
nước mắt. Tôi có cái duyên tương ngộ với
những con người nhiều khả năng, nhiều
sắc thái đặc thù, hơn hẳn các thế hệ
đàn anh trong nhiều b́nh diện.
Và
c̣n nhiều người khác nữa.
Tên
của họ: Bùi Thị Ấu Lăng, Bùi Xuân Diêu, Phan Bang,
Trịnh Viết Bách, Nguyễn Mộng Giác, Lê Thanh Hà, Tôn
Thất Hà, Phạm Ḥa, Đoàn Khoách, Hồng Khuê, Nguyễn
Phụng Hoàng, Nguyễn Văn Hường, Trương
Thị Lệ Khanh, Trương Thị Kim Sa, Nguyễn Kư,
Nguyễn Khắc Lăng, Nguyễn Phú Liễm, Lê Thị Liên,
Tôn Thất Liệu, Vương Thúy Nga, Nguyễn Nhuận,
Hồ Thanh Phác, Tôn Thất Quÿ, Tôn Quang Sung, Nguyễn Bá Tiết,
Tôn Nữ Tiểu Bích, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn
Ngọc Thọ, Lê Mậu Thống, Dương Đ́nh Tri,
Lê Thị Tường Loan, Vơ Văn Thơ, Trần Tuệ,
Dư Tế Xuân, Vĩnh Quyền, Vĩnh Thiều,
Nguyễn Gia Ứng... Gặp
lại họ, gương mặt, mái tóc họ đă có
nhuộm chút nét thời gian,
nhưng mỗi người đều có một nét
đẹp riêng, nói lên những khả năng, nghị
lực, cá tính, ẩn tàng đâu đó như cái đẹp
cố hữu của xứ thần kinh.
Và
c̣n biết bao nhiêu người tôi muốn nhắc tên.
Tên
tuổi họ có thể không nói nên nhiều. Nhưng
với tôi, như gắn liền khắc cốt. Cũng
dễ hiểu v́ cuộc sống thầy giáo của tôi khi
về nước bắt đầu với họ. Cho nên,
tôi không thể quên một Châu Khắc Túy, nhỏ
người, thư sinh, rất vui nhưng cũng rất
liếng láu, chuyên viên “câu giờ”, mà tránh được
mọi khắc khe của kỷ luật thời bấy
giờ. Được biết anh không c̣n nữa, anh là
nạn nhân của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân.
Ngay hai năm đầu, hai sinh viên của tôi, một
ở ban Toán cấp tốc, một ở ban Lư Hoá, viết
thơ, ghi rơ tên họ và địa chỉ quở rằng
tôi quá nóng tính, mà nóng tính th́ chẳng dạy “mô tê”[xiv]
ǵ được; chỉ làm cho người học rối
rắm, chẳng học được “mô tê” ǵ.
Tôi
t́m gặp ở các em cái đẹp đặc thù ấy.
Tôi
học ở các em sự khiêm cung, độc lập,
thẳng thắn, chân t́nh, cần cù chịu khó và trách
nhiệm.
Tôi
học ở các em nghề dạy học, học sống
trong t́nh sư đệ; nhờ các em tôi học t́nh
đồng liêu, t́nh quê, t́nh người. Nhưng chắc
chắn không chỉ là có bao nhiêu đó. Thật
khó mô tả cái đa dạng, đa màu, những cảm
nhận của một thời, thành lời, thành ư.
Sáu
niên học ở Viện Đại Học Huế
(1957-1963), bể dâu lắm chuyện. Nhưng đặt thù
cho giai đoạn “lập quốc” này, thiết nghĩ các
sự việc sau đây là nổi bật nhất:
Trong
một chừng mực nào đó, Viện Đại
Học độc lập đối với các đảng
phái chính trị, tôn giáo và tự trị đối với
chính quyền. Tự trị và độc lập là hai
từ lớn. Nếu không nói rơ nghĩa th́ hoặc chúng trống nghĩa hoặc có
nhiều nghĩa nên dễ ngộ nhận.
Theo
văn bản, th́ Viện Đại Học tùy thuộc
Bộ Giáo Dục. Cụ thể như sau đây:
“Về
học vụ, sự thành lập các khoa, trường, ngành
học, văn bằng, chứng chỉ phải do Bộ
Giáo Dục chấp thuận.
Về
nhân viên, việc tuyển dụng, lương bổng,
thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo và
Tổng Nha Công Vụ chấp thuận.
Về
Ngân sách: Quyền chuẩn chi[xv]
được ủy nhiệm cho Viện Trưởng.”[xvi]
Như
vậy, về hành chánh,Viện Đại Học trực
thuộc Bộ Giáo Dục, và có thể bị chi phối
bởi Bộ Giáo Dục và Tổng Nha Công Vụ.
Tuy
nhiên, trong thực tế, chúng tôi không cảm thấy
một sức ép nào từ những cơ quan nêu trên. Sự duyệt y các kết
quả thi cử, các văn bản thành lập pḥng ban, v.v. có khi là cần thiết. Tự
trị không có nghĩa là không luật pháp. Nhà nước
cung cấp ngân sách cho Viện, sự biện minh các chi tiêu,
sự kiểm soát đương nhiên là cần thiết.
Có điều là khi ḿnh thấy thong dong trong luật pháp,
ḿnh không cảm nhận bị buộc ràng, gọi như
thế là tự trị, một sự tự trị
thực tế, chủ quan và
tương đối.
Viện
đứng ngoài mọi đảng phái chính trị kể
cả đảng chính quyền, các tổ chức tôn giáo.
Gọi như thế là độc lập. Nhưng trên
hết, tư trị và độc lập của nền
giáo-dục đại-học nằm ở chỗ tự do
truyền bá, phát huy, và thu nhận của giáo chức và sinh
viên. Lẽ dĩ nhiên là trong một giới hạn khả
chấp. Điều này là một giá trị hiễn nhiên
của nền giáo dục Miền Nam, và là một
điểm son của chế-độ.
Sứ
mạng, nhiệm vụ, mục tiêu, đường
lối của Viện Đại Học được
minh định rơ trong những văn bản mà đôi bên,
chính quyền và viện đại học đều nghiêm
túc tôn trọng.
Từ
nào cũng có nhiều nghĩa, tùy cái nh́n chủ quan của
mỗi người. Cho nên, những văn bản có
thể giải thích khác nhau, và trong việc này đôi bên
đều tỏ thiện chí, và biết tương nhượng
trong những giới hạn của khả năng của
đôi bên.
Giáo
dục là đường dài. Cổ văn viết đó là
việc trăm năm trồng người. Nhà cầm
quyền thời bấy giờ, có hiểu điều này
và có dành cho chúng tôi một sự cảm thông ít có.
Dầu
vậy, vẫn có những va chạm, xung đột gây ra
nhiều thử thách. Sau đây là những thử thách mà tôi
c̣n nhớ.
Sức
ép chính trị.
Có
một lần chúng tôi được rỉ tai rằng là
sinh viên và chúng tôi phải gia nhập Phong Trào Cách Mạng
Quốc Gia, đi học và đi làm phải mặc
đồng phục màu xanh. Chúng tôi tŕnh bày những
thuận nghịch; lợi đâu không thấy, cái hại
th́ vô cùng. Các Viện Đại Học Quốc Gia không
thể là nôi của một phong trào chính trị, huống
chi phong trào này là tiền thân của Đảng Cần Lao
Nhân Vị. Trong bối cảnh riêng của Huế, tổ
chức đại học chưa được ổn
định. Phụ huynh và sinh viên đă tơ thấu hiểu
thực tế của đất nước, đă
chấp nhận cái ban sơ thiếu thốn mọi
điều của Viện Đại Học. Chính trị
hóa môi trường sinh-hoạt đại-học chỉ
làm cho mọi sự rối rắm thêm. Chúng tôi không thể
để việc dạy, việc nghiên cứu ngưng
đọng lại, hay trở thành phụ thuộc. Chúng tôi
không muốn và không thể mang một nhản hiệu chính
trị nào, để phụ huynh và sinh viên ngộ nhận
rằng chúng tôi là những con rối chính trị, hay cố
t́nh dùng Viện Đại Học làm bức thang cho sự
nghiệp chính trị. Chúng tôi cũng không thể để
học sinh ḿnh và chính ḿnh
bị ép buộc vào một đảng phái chỉ v́
muốn học, muốn mở rộng kiến thức,
muốn có một cái nghề, hay một sinh kế. Chính
quyền cũng không thể v́ nhu cầu của một
khắc mà chà đạp trên những văn bản mà chính
ḿnh long trọng lập ra chỉ vài năm trước
đây. Có người nói rằng trong chúng tôi có những con
mọt, những con người muốn lập công,
muốn tiến thân trên nấc thang chính trị. Thiết
nghĩ, nghĩ khác và làm khác là việc b́nh thường;
nhưng trong đội ngũ chúng tôi, rất khó có
những con người phủ nhận những nguyên
tắc sinh hoạt nghề nghiệp của ḿnh.
Cơn
lốc qua, chúng tôi trở lại cuộc sống b́nh
thường thuở trước, mỗi người
trở lại cái tự do chọn lựa chính trị hay
phi chính trị của riêng ḿnh.
Một
lần khác, vào dịp hè Bộ Giáo Dục tổ chức
một khóa Hội Thảo về Cần Lao Nhân Vị cho
giáo chức đại học ở Suối Lồ ồ. Chỉ thị là tất cả
chúng tôi đều phải có mặt; dĩ nhiên là ngoại
trừ có lư do thích đáng, nhưng bên trong qua lời lẽ
các viên chức của Bộ Giáo Dục th́ không có một lư
do nào chính đáng cả. Học triết thuyết về
đường lối chính sách của chính quyền
chỉ có thể là một điều tốt. Nhưng
một số chúng tôi, v́ cái ương ngạnh của
tuổi trẻ, đă nhẹ nhàng xin Cha Viện
Trưởng kư một sự vụ lệnh tổ chức trại hè ở
Đà Lạt cho sinh viên Sư Phạm, ngay trong những ngày
ấy. Ông Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Giáo Dục có thúc
dục bảo dẹp tất cả, để đi
học. Chúng tôi không vâng dạ
được, v́ có nhiệm vụ lệnh trong tay. Sau
đó ông có la to, dọa lớn, tay có dơ cao, nhưng
rồi lẳng lặng rút về.
Được
những điều này có thể là nhờ cái vị
thế đặc thù của Cha Viện Trưởng.
Cũng có thể là nhờ thái độ của quí vị
đàn anh trong Viện Đại Học Sài G̣n. Cũng có
thể là nhờ sự hiểu biết của chính
quyền lúc bấy giờ. Cũng có thể là cái hồn ma
tự trị đại học ghi trong qui chế mà người Pháp
để lại cho Viện Đại Học Sàig̣n c̣n
chập chờn đâu đó trong ḷng người. Cũng
có thể là Bộ Giáo Dục hay Chính Quyền chưa rănh
tay để đưa chúng tôi vào khuôn nếp. Sau
mươi hôm khủng hoảng, gió lặng, cuộc
sống trở lại b́nh thường, nhưng tôi cảm
thấy gần Cha Viện Trưởng của tôi hơn:
chúng tôi đă cùng nhau trong
một chiến tuyến.
Sức
ép quyền thế.
Viện
Đại Học cũng đứng ngoài các thế
lực phong kiến.
Lúc
nào thời nào cũng có thế lực phong kiến.
Thế
lực phong kiến trong bối cảnh Viện Đại
Học Huế, thời bấy giờ, phải hiểu là
quí vị cố vấn của Tổng Thống, quí vị
cận thần có nhiều ảnh hưởng, có quyền
thế, có khả năng khuynh đảo thế sự.
Người ta có đồn đăi về uy quyền
của quí vị này rất nhiều, tốt có, xấu có.
Trước
mỗi kỳ thi vào Trường Đại Học Sư
Phạm, Cha Viện Trưởng đều có họp chúng
tôi, nhắc đi nhắc lại là học bổng 1500
đồng của người sinh viên Huế có thể là
lợi tức sống cho một gia đ́nh đông con,
nhắc nhở chúng tôi phải thận trọng, cân
nhắc, liêm chính, công minh. Suốt thời gian cộng
sự với Cha, Cha cùng các đồng nghiệp của
tôi, chẳng một ai gởi gấm trong các kỳ thi. H́nh
như mọi đồng nghiệp tôi xem đó là
đương nhiên.
Tuy
nhiên, có một lần, một nhân vật quan trọng hàng
đầu đă nhắn
gởi một em vào Ban Lư Hoá Trường Đại
Học Sư Phạm. Sự gởi gắm từ bên trên,
và Ban Giám Đốc Đại Học Sư Phạm
được yêu cầu đặc biệt giúp đỡ. Chúng tôi đă chối từ sự
gởi gắm này với cung cách lễ độ rất là
Huế.
Trong
thực tế em này lănh 0/20 với Nguyễn Hữu Trí (Lư),
1,5/20 với Trần Nhật Tân (Toán), 8,5/20 với Tôn
Thất Hanh (Hoá Học). Nói cách khác là em rớt ở
mọi bộ môn. Chúng tôi không có ǵ hănh diện ở thành
quả này, chúng tôi không có ư ác, cũng không có ư thiện,
cũng không có cái thương ghét riêng tư trong vấn đề này. Tuy nhiên,
phải nói là phước trời.
Nói
là phước v́ sau 1975, khi t́m đường vượt
biên ở một tỉnh
lẻ trong Nam, tôi được biết em đó giờ là
một ông bác sĩ có tiếng là giỏi, đi chui[xvii]
không lọt, và nhờ là
giỏi nên đă được tỉnh ủy cho
rước về, không phải tù. Con người không ra
chi về toán lư, th́ lại rất giỏi về y khoa.
Cũng nói phước là chúng tôi tai qua nạn khỏi mà
không hề hấn ǵ. Phước cũng là được thấy được
bạn bè tôi đẹp và gương mẫu trong thử
thách. Phước cũng v́ nhờ đó chúng tôi gần nhau
hơn, có thêm một bước gần Cha Viện
Trưởng hơn, an tâm hơn. Người có quyền
thế đă thấy được thân phận và giữ
được phẩm cách của ḿnh.
Sau
mỗi kỳ thi, thường là có một buổi cơm
thịnh soạn khao quân. Tôi có cảm tưởng là sau
kỳ thi đó, Cha Viện Trưởng, dầu biết rơ
chuyện này, và có thể v́ đó mà thọ thương,
vẫn cho ăn ngon hơn, trân trọng hơn,
đương nhiên là có rượu hà nàm, rượu vang,
và những món quỉ quái khác của anh Vũ Đ́nh Chính. Khao
quân lớn hơn, nhưng nhẹ nhàng không thách thức, làm
như không có chuyện ǵ xảy ra.
Tôi
có cảm tưởng Cha là cây dù lớn. Cha có quyền,
có thế. Nhưng không lấy quyền thế ấy mà bao
che cho những điều xằng bậy. Ông đă dùng
quyền thế ấy để tạo một không khí
thích hợp với cái nh́n chung của đông đảo anh
em chúng tôi về giáo dục và riêng về giáo dục
đại học. Ông đă biết sử dụng vị
thế hết sức đặc biệt của ḿnh
để đối thoại với các thế lực
chính trị, tôn giáo, đoàn thể. Chính quyền
đương thời cũng hiểu sức khỏe mong
manh của một tổ chức đại học mới
đâm chồi, và biết trân trọng với những thành
quả đầu tiên. Những lời đồn
đăi được nghe về Ông Cậu[xviii]
làm cho tôi có thật sự lo âu, e ngại. Nhưng, sáu
năm ở Viện Đại Học Huế, chẳng
nghe Ông có gởi gắm một ai, hoặc tạo một
sức ép chính trị hay làm bất cứ việc ǵ đem
lại sự bất ổn cho giới đại học.
Những lần ít oi mà chúng tôi được gặp Ông,
chúng tôi được tiếp đăi với một sự
trân trọng, ân ần, ưu ái ít có. Cho nên, riêng về
Viện Đại Học Huế, có thể nói gia đ́nh
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có đóng góp một phần quan trọng, trong
đó phải ghi nhận cái không khí độc lập
với các tôn giáo, đối với các đoàn thể chính
trị (cả Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và Cần Lao
Nhân Vị), một không khí cởi mở, thích hợp cho
việc dạy và học.
Chỉ
tiếc rằng cuộc thế không cứ măi là như
vậy. Khi thời suy, vận nước mạt, nhiều
điều không may xẩy đến. Cha Luận cũng v́
muốn bảo vệ cái công tŕnh mà ngài đă gầy
dựng, muốn bảo vệ cái nguyên tắc tự
trị đại học cao quư mà đành phải dứt
t́nh với nhà Ngô. Cha mất dần cái quyền, cái thế,
Cha chỉ c̣n cái t́nh của chúng tôi, và của anh chị em
sinh viên.
Tháng
8, 1963, Cha Luận bị
huyền chức. Chánh quyền đă bổ nhậm Cha, th́
đương nhiên có quyền thay thế Cha. Đó là b́nh
thường. Nhưng trong bối cảnh bất ổn
ngày đó, giáo chức, sinh viên, và nhân viên lại hoang mang,
xao động tột độ. Ai cũng nghĩ phải
vĩnh biệt một thời vàng son của không khí tự
do. Từ đây, khởi đầu giai đoạn ô
nhiễm chính trị. Ông
Viện Trưởng mới, giáo sư Trần Hữu
Thế, là một cựu bộ trưởng, và là đương
kim đại sứ ở Phi Luật Tân. Người
của ngành ngoại giao, ắt phải mềm mỏng;
nhưng giữa mềm
mỏng và mềm như bún thiu, khoảng cách có khi rất
ít. Chưa thấy người vào việc, chưa thấy diễn tiến
sự việc, mà đă nghĩ thế này thế khác, là tiên
kiến; ắt phải sai lầm. Có thể là thế.
Nhưng khi đă mất niềm tin, không thấy c̣n tin
ở một quyền lực nào có phương tiện
điều hợp và quản lư thỏa đáng công
việc, th́ chỉ c̣n cách là từ nhiệm, trở về
với chức năng dạy học của ḿnh. Thế
rồi, chúng tôi bị bắt giữ, kẻ năm ngày
người vài tháng. Pḥng ốc của Công An có chật
hẹp, thiếu mọi tiện nghi, nhưng cách
đối đải đứng đắn; dầu vậy, ḷng vẫn giao
động, tâm không an; tuổi c̣n trẻ, nhưng muốn
bắt chước người xưa lánh xa thế
sự. Việc của Cố Đô sau đó trở thành
của cả nước; thế giới bắt
đầu nh́n vào.
Tháng
11, 1963, Đảo Chánh. Chấm dứt triều đại
Nhà Ngô, và cũng là chấm dứt một giai-đoạn
ổn định hiếm thấy.
Sinh
viên, học sinh, thân hào nhân sĩ, cả thành phố Huế
rước Cha Viện Trưởng trở về cơ
ngơi cũ, trong vinh quang cùng tột. Nhưng chỉ 9
tháng sau, Cha lại rời
nhiệm sở, rời Huế, không phải do chính
quyền, mà chính do đông đảo thành phần năng
động nhất của Huế đuổi Cha
đi. Cha đi bỏ
lại đàng sau tất cả của đời cha. Cha
đi, v́ đă hoàn tất một nhiệm vụ, hay cha
đi v́ bản chất phản bội cố hữu
của con người?
Chúa
Nhật Lá, dân chúng thành Nazareth đón rước Chúa Jésus
trong vinh quang tột đỉnh, vài hôm sau, họ đóng đinh Chúa Jésus trên
Thập Tự Giá. Sự đổi thay, thương ghét
trong ḷng người, của quần chúng là thường
t́nh. Lịch sử như lập lại. Có người
lấy đó mà trách rằng Cha có học Kinh Thánh, nhưng
không học được bài học của Chúa Jesus. Cha
không nên trở lại chức vụ Viện Trưởng.
Thiết
nghĩ Cha cũng chỉ là
cha, Cha không là Chúa Jesus, dầu rằng nhiệm vụ
của cả hai đều là gieo ánh sáng. Nhưng ánh sáng của Đức Chúa
Trời khác cái ánh sáng hạn hẹp của tri thức và
của cuộc đời, của những đứa con của
Chúa. Việc trên Trời và việc dưới thế có
khác. Người ăn thịt cầy không nên chê trách các nhà
tu hành là không biết “nếm mùi đời cho đủ
thứ mà chơi”, bậc chân tu không kết tội
người ăn thịt cầy là phạm giới.
Người ngoại cuộc, nên có một cái nh́n hiểu
biết hơn.
Nhiều
người trách cha Luận sao đă tàn nhẫn dứt t́nh
với nhà Ngô trong những ngày mạt thế của Ngô
triều, trách cha đă quên chữ trung, chữ nghĩa
của kẻ sĩ.
Cũng
nhiều người cũng đă trách cha sao không biết
cái thế, cái thời, cái tiến, cái lui, ham chi chút
đỉnh chung mà trở về tại Huế sau Cách
Mạng 11-63. Sao Cha không làm một Bá Di, Thúc Tề,
để tiếng cho người sau.
Trách
th́ cứ trách, chê th́ cứ chê. V́ người chê, kẻ
trách ai cũng có lư. Nhưng nói đi th́ cũng phải
nghĩ lại. Nghĩ cho cùng, ơn mưa móc nhà Ngô, Cha
đă hưởng được ǵ. Cũng những
bửa cơm đạm bạc, cũng chiếc áo choàng
nhà tu. Lụa là, nem công chả phụng ǵ cho cam. Cái
quyền, cái thế Cha có được, Cha cũng đă
chỉ đem ra gầy dựng cho Viện-Đai-Học
Huế. Nói “trung”, nói “nghĩa, sao không nói “đạo
trời không thân riêng ai”. Đó cũng là câu của
người xưa vậy.
Lại
nói, khi Cha trở về sau tháng 11-63, không ai không thấy
quyết định nông cạn của Cha. Nhưng cũng
nên nghĩ lại mà thương Cha. Cha là cha triều mà không có họ đạo, có khác
chi kẻ vô gia cư. Cả cuộc đời, Cha lo công
việc giáo dục, lấy học tṛ làm con, lấy ngôi
trường làm nhà ở. Nhà ở của Cha, cuộc
đời của Cha là Viện-Đại-Học Huế.
Hành động của Cha cũng
nên được nh́n như là một lần trở
về với gia đ́nh, với mái nhà của Cha,
để t́m ở đó một chút thân thương
cuối cùng trong cuộc sống. Cha đă không t́m
được điều đó, điều mong
ước độc nhất trong cuộc đời Cha. Và
người ta đă đuổi Cha đi, đuổi Cha ra
khỏi mái ấm gia đ́nh của Cha. Sao lại nở
trách Cha, mà không hiểu cho Cha!
Trong
việc thế tục, Viện Đại Học Huế
chỉ là một điểm nhỏ t́ ti trong không gian, và
thời khoảng sáu bảy năm chỉ là khoảnh
khắc trong chiều dài vô tận của thời gian. Cá nhân
c̣n nhỏ hơn nữa và lại giới hạn gần
như ở mọi chiều, không gian, thời gian, t́nh
cảm, kiến thức, tầm nh́n,... Không có ǵ để
phê phán, biện minh, hay vinh danh.
Dầu vậy, thiết nghĩ “cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy” có lắm chuyện
trọng đại mật thiết với Đại
Học hoặc có một ảnh hưởng nhất
định trên một số đông chúng tôi nên phải ghi:
Vào
lúc giữa Đức Tổng Giám Mục và Cha Luận có
chuyện cơm không lành, canh không ngọt, th́ một hôm
chúng tôi được hấp tấp vời đến nhà
Đức Cha. Ông từ lầu trên bước xuống,
nói chuyện với chúng tôi, hay cho
một huấn từ dạy dỗ, bằng một
tiếng Pháp rất chuẩn và trong sáng. Đức Cha chê
trách Viện Đại Học Huế nhiều
điều, trong đó có chủ trương sử
dụng tiếng Việt làm chuyển ngữ, và riêng Cha
Luận, Đức Cha dành cho tỉnh từ không mấy
dễ chịu: “prétentieux”.
Tôi
không nghĩ như vậy. Giáo
dục đại-học sẽ không trọn vẹn
chức năng nếu chuyễn- ngữ không là
quốc-ngữ.
Dùng
Quốc Ngữ làm chuyển ngữ cho các bộ môn đă
được thực hiện tốt đẹp từ
lớp 1 đến lớp 12, từ Văn, Triết,
Sử, Địa cho đến Toán, Lư, Hoá, Sinh Vật. Ban
đầu, cũng có cái loạn thuật ngữ, có cái
loạn “trăm hoa đua nở”. Nhưng dần
dần trật tự
được ổn định, các sách giáo khoa đă
thống nhất danh từ. Nội dung bài dạy
được diễn tả trong sáng. Việc sử
dụng quốc ngữ làm chuyển ngử là một phép
lạ kỳ diệu cho việc đại chúng hóa giáo
dục học đường. Nhưng quí vị đàn anh
chúng tôi ở Viện Đại Học Sài g̣n có dè dặt,
e ngại sử dụng tiếng Việt. Dè dặt là
phải; chỉ nói riêng về khoa học, th́ quyển Danh
Từ Khoa Học của Cụ Hoàng Xuân Hản cần
phải được tu chỉnh và bổ sung nhiều.
Tiếng nói của người sử dụng rất
cần thiết, cho nên cần tu chỉnh. Khoa học càng
ngày càng tiến nhanh, phải thêm từ mới. Sự
cập nhật hóa là đương nhiên cần thiết.
Và trong khi chờ đợi có một cơ quan thẩm
quyền minh định nghĩa các từ cho thống
nhất, ai cũng ngại cái loạn từ ngữ.
Nhưng nếu không bắt đầu, th́ ai sẽ bắt
đầu, và khi nào mới bắt đầu.
Ngoài
ra, hồn ma người Pháp vẫn c̣n lăng văng đâu đó
trong đại học. Tiếng Pháp chính xác, rơ ràng, xúc tích. Giới
đại học lúc bấy giờ rất quen thuộc.
Đông đảo những người biết thơ
văn triết học, văn minh Đông Tây qua tiếng
Pháp. Họ biết Lamartine, Chateaubriand, Apollinaire,..hơn Ôn
Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan
hay Đoàn Thị Điểm.
Thay thế tiếng Pháp với họ là một
mất mát. Không một ai muốn mất những sở
đắc của ḿnh. Sử dụng tiếng Việt trong
đại học là mới mà cái mới nào cũng có tính
phiêu lưu và những đau đầu nhất định
của nó. Cho nên, nếu ư có muốn th́ ḷng không muốn.
Tại sao phải rời bỏ những thói quen dễ
chịu mà lại được xă hội “thượng
lưu” xem trọng? Người giàu và có ảnh
hưởng th́ nghĩ con em ḿnh phải du học ở
Pháp; đọc, viết, nói, nghĩ như người Pháp
để không gặp khó khăn khi vào một trường
ở Pháp. Lúc bấy giờ, người Mỹ chỉ
hiện diện qua một số cố vấn, tiếng
Anh chưa được trọng. Người phụ
huynh cũng có lư khi e ngại rằng con em họ không
đọc được sách báo ngoại quốc, trong khi
các quốc gia ngày càng tùy thuộc lẫn nhau, thế
giới như thu hẹp lại. Thật ra, họ chưa
thấy sử dụng tiếng Việt làm chuyển
ngữ không mâu thuẩn
với việc học sinh ngữ, sử dụng sinh
ngữ trong việc xuất
bản các nghiên cứu của ḿnh.
Riêng
tôi, tôi có khó khăn nói tiếng Pháp với người
Việt: có một cái ǵ không tự nhiên, làm cho tôi
ngượng trong lúc phát âm. Tiếng Việt th́ tôi rất trôi chảy, nhưng vốn
liếng rất nhiêu khê. Có lần tôi phê trong bài của một sinh viên
là “dài gịng danh tự” để nói là “dài gịng văn
tự”, may mà tôi chưa viết “vài ṿng danh tự” hay
những cái điên khùng tương tự. Miền Trung có
thịt ba chỉ, mà trong Sài g̣n
gọi là thịt ba rọi. Trong những tháng
đầu tôi phải nói ba chỉ, nữa nạt nữa
mở, và tôi phải tạm hài ḷng với lối diễn
tả kỳ cú ấy. Nữa nạt nữa mở không có
nghĩa là nữa giọng Huế, nữa giọng Nam, mà là
nữa Pháp nữa Việt. Vấn đề không là
dịch, mà là nghĩ suy và diễn tả bằng Việt
Ngữ. Dần dần tôi có được tự tin, và tin
rằng quốc ngữ diễn tả được
mọi vấn đề. Phải vượt qua những
mặc cảm, phải sử dụng tiếng Việt
mới làm giàu được tiếng Việt. Có lần
tôi buộc phải viết bài
cho Tập San Đại Học Sư Phạm Huế,
muốn góp mặt, phải đánh liều nhắm mắt
đưa chân. May thay có anh Lê Tuyên c̣n “hoang dại” t́nh
nguyện sữa chữa lời văn và chính tả.
Thế là tôi đă đứng trên văn đàn đại
học. Tôi được bạn bè khuyến khích.
Điều này đă cho tôi nhiều phấn khởi
nhất định.
Những
người biết khả năng tiếng Việt
của tôi thuở ấy, phải ngạc nhiên khi
đọc những bài tôi viết gần đây. Anh Hai, anh
Châu, anh Văn, và nhiều bạn trẻ khác có lần khen
văn của tôi. Thưa quí anh chị, đó là nhờ Viện
Đại Học Huế. Ở đó, tôi khởi sự
học làm giàu tiếng mẹ đẻ của tôi.
Một
việc khác nữa là Viện Đại Học Huế có
được một nhà in khá tối tân, tương
đối với thời bấy giờ, do Ông Đại
Sứ Ngô Đ́nh Luyện tặng. Và Nhà Xuất Bản
Đại Học theo đó chào đời. Tôi không nhớ
được những tác phẩm in ra. Tôi không nhớ rơ
tôn chỉ và cũng không theo giỏi những hoạt
động của Nhà Xuất Bản. Tôi chỉ nhớ là
Nhà Xuất Bản ưu tiên và hổ trợ cho những
công tŕnh nghiên cứu mà đọc giả rất chi là
chọn lọc. Thí dụ những tác phẩm phiên âm
chữ nôm, dịch và phiên âm chữ Hán, hoặc một
số sách giáo khoa. Thỉnh thoảng tôi có được
tặng, nhưng phải nói thật rằng không mấy khi
đọc, v́ vốn liếng văn học c̣n non, và
nhất là chưa có thói quen. Truyện Tàu hay truyện
của Kim Dung lôi cuốn hấp dẫn hơn nhiều.
Viện
Đại Học Huế có gởi một số giáo
chức sang Paris để sang lại những microfilm mà
Thư Viện thành phố Paris cho hay là sắp hư và không
có ngân sách để sao chép lưu trử. Sau Nhà Xuất
Bản có xuất bản những tài liệu này. Hai anh Lê
Tuyên và Lê Hữu Mục rơ những điều này hơn
tôi.
Đối
với người trong Nam, Huế là nước ngoài v́
phong tục tập quán, v́ giọng nói, v́ những ngôn
ngữ địa phương. Giọng Huế nặng,
nhưng không nặng như Nghệ An, Hà Tịnh[xix].
Tuy nhiên, muốn lănh hội được hết cái âm
hưởng t́nh ư trong lời nói của người
Huế, cũng phải lắm công phu. Có khi, điều này
buộc tâm phải trầm lặng như gịng sông
Hương những ngày nắng tốt, hoặc nhẹ
nhàng tịch mịch như các sân chùa lúc trưa hè.
Người trong Nam ra Huế phải gột bỏ cái tính
ào ào, bồng bột như mưa giông miền Nam mới nghe thấy
được một phần cái thật, gói trong lời
của người Huế. Người không thích th́ nói
rằng người Huế thâm. Với tôi, nghe
người Huế nói chuyện, như nghe hát Nam ai, Nam
b́nh, hoặc nghe một bản nhạc cổ điển,
cần có thời gian thấm thấu. Nói riêng, phải
mất một thời gian khoảng một năm, và
nhờ một sinh viên của tôi lặp lại từng
chữ một, tôi mới nghe được câu: “Thưa
thầy, con không biết đến nơi.” Bạn đọc đừng
vội chê trách rằng không hiểu được những
lời lẻ đơn sơ như thế th́ dạy
dỗ được ai.
Lời chê có cơ sở. Nhưng ông Trời như
đă sắp đặt trước cả cho chúng tôi
rồi. Sinh viên chúng tôi có đủ khả năng biết
phân phải trái, và biết bổ túc cho những thiếu
sót của ông thầy.
Quí
vị cũng nên nghĩ cho rằng chúng tôi bắt
đầu từ cái bắt đầu, thư viện
lưa thưa, pḥng thí nghiệm th́ phải trang bị
từ A đến Z. Bôi bảng th́ cả một cực
h́nh, chưa bao giờ chúng tôi có những cái bảng
ương ngạnh đến mức độ ấy.
Người làm bảng th́ chọn nước sơn
tốt nhất, bóng láng nhất, thế nên có hiện tượng
phản chiếu, bên trái thấy rơ th́ bên phải không
thấy, đó là ḷng tốt mà hại người. C̣n
phấn, lắm khi viết
không ăn bảng, nó
trượt dài trên bảng.
Cho
nên, nên thương chúng tôi nhiều hơn là trách.
Nói
âm rồi phải nói dương. Huế đă dành cho
Viện Đại Học những công ốc đẹp
nhất, tiện nghi nhất, và những địa
điểm trang trọng nhất: Ṭa Đại Biểu
Chính Phủ, Ṭa Nhà Ngân Hàng Đông Dương, Thương
Xá Morin, Toà Khâm. Nói riêng, nơi cư ngụ của giáo
chức có những tiện nghi nhất định.
Để
kết luận, thiết nghĩ nên ghi rằng:
Có
một thời dân cư xứ Huế, thân hào nhân sĩ, học giả,
công nhân viên chức, ở mọi giai từng xă hội, cùng
với một bọn trẻ, động cơ khác nhau,
từ những nguồn gốc khác nhau, có người
ngoại quốc, cùng nhau sát cánh với Linh Mục Cao
Văn Luận xây dựng một Viện Đại
Học cho con em hiếu học. Viện Đại Học
này, trong phạm vi khả thể, đă làm tṛn trách vụ của ḿnh. Bao
nhiêu người trẻ hiếu học đă có
được cơ hội học hỏi thăng
tiến. Luật khoa, văn khoa, khoa học, y khoa đă
đào tạo được bao nhiêu con người
hữu dụng cho đất nước. Sư Phạm là
một thành công lớn trong việc đào tạo
được một đội ngũ giáo chức hùng
hậu và nghiêm túc nhất, đủ để đáp
ứng cho nhu cầu giáo dục của cả miền Trung.
Cuối
cùng Đại Học Huế là niềm hănh diện,
hứng khởi, ḷ sinh khí cho miền Trung. Đă có một
lúc nào đó, Huế, Viện Đại Học, Cha
Luận, và chúng tôi (chữ chúng tôi xin được
viết thật nhỏ) và những người sinh viên
trẻ... đă là một khối, một khối tinh
chất dưới ánh mặt trời.
C̣n
riêng tôi, tôi đă viết nên được một phần
nào tâm trạng của tôi, một tâm trạng biến
đỗi từ cực âm sang cực dương, qua 6
năm ở Huế.
Có
điều là dầu đă cố gắng đến
mức độ tối đa tôi cũng đă không tŕnh bày
được những ư t́nh của tôi, không ghi chép lại
được những sự kiện, một cách mạch
lạc và rơ ràng. Nhưng thử hỏi, có ai mà kể
chuyện về Huế được rơ ràng, mạch
lạc, nhất là khi không nói được tiếng
Huế, giọng Huế, cử chỉ, thái độ
Huế? Đó cũng v́ cái t́nh, cái ư không bao giờ rơ ràng,
mạch lạc đă trở thành bản chất của
xứ Huế? Riêng tôi, tui có tội t́nh chi mô nà.
Tri
Ơn: Tôi chân thành cám ơn giáo sư Lê Thanh Minh Châu,
Nguyễn Văn Hai, Lê Văn, và Từ Nguyên đă góp
một phần vào dữ kiện và h́nh thức, lời
văn của bài này.
Houston,
ngày 23 tháng 9 1997