QUA RỒI NHỮNG MÙA ĐUÔNG
Phùng Nhân
Trời
tháng ba bắt đầu nực dông dữ dội, từ
trên dăy đất Cả Muồng xă Lộc Thuận
chạy dài xuống tới miệt Rạch Gừa, dân chúng
bắt đầu đi kiếm miếng ăn. Có người
th́ lo đi vó cua, có người bơi xuồng tam bảng
đi qua miệt B́nh Khương, Châu B́nh lựa mấy cái
xẽo nào c̣n sầm uất rồi lủi xuồng vào ăn
cắp bắp dừa nước. Lén chặt xong rồi ôm
nhẹ xuống xuồng. Sau đó bơi êm đi lại
chỗ một khúc voi hơi khuất, rồi nhẹ nhàng
chẻ ra lấy lạt đem về bán lại cho mấy
vựa lá chầm. Bởi dân trồng lá dừa nước
th́ họ rất kỵ đốn cà bắp lá nhà, sợ
nhẹ cổ rồi teo đọt nên năm tới đám
lá phải chịu thất trắng mà thôi, cũng chính v́
vậy mà việc ăn cắp nó cứ xoay ṿng. Ông nầy
đi ăn cắp của ông kia, rốt cuộc lại là
đám lá ông nào cũng bị người ta ăn cắp
hết.
Năm nay hai cha con ông Bảy th́ cũng vậy, đă
sanh đẻ ở trong cái xă Lộc Thuận nầy mà
vẫn thiếu ăn. Hễ tới mùa nào th́ đi
kiếm ăn mùa nấy. Như tới mùa mưa dầm, cá
chốt, cá trê lên ruộng đẻ, th́ ông làm khóe chận
đăng đặt giẹp. C̣n tới mùa mưa nổi
nước ếch nhái mắc cặp, th́ ông làm đèn khí
đá đi soi. Nhờ trời thương cứ như
vậy mà đắp đổi sống qua ngày, nhưng
năm nay ông lại làm một cái nghề hơi lạ.
Đó là nghề đi xắn đuông chà là, mà hôm tháng
trước nhờ đi ăn giỗ đă
được ông Ba Nguy ở dưới xă Giồng
Kiến chỉ cho. Ngặt nỗi ba con đuông nầy khi
xắn về nhà rồi, phải biết t́m chỗ
để mà buôn bán.
Trời vừa múm qua khỏi tháng giêng, th́ ông
Bảy đă lo sửa soạn sẵn sàng. Một cái mác vót
cán dài mài bén như gươm, cùng với hai chai lít
để đựng nước mưa mang theo để
uống. Rồi nào là mấy giỏ cần xé dùng
để đựng cổ chà là, ông cũng bện
một sợi dây mang thật là chắc chắn, để
pḥng khi càn đường đất đi xa, mang nó trên vai
cho đỡ mỏi. Bởi ông Ba Nguy đă chỉ dẫn
rất rành rẽ tận tường, là cái giống
đuông nầy nó thường ở mấy cục g̣ cách
họng xẽo thật xa. Muốn xắn nó th́ phải
biết kiên tŕ, chớ không thể như cua cá hễ
lội xuống nước th́ chỗ nào cũng có.
Rồi tháng hai âm lịch lù lù đi tới,
khi ngọn gió nam khan lại tắt nghẽn giữa
chừng, để chuẩn bị cho trời đất
sắp nổi trận mửa dông, nên thời tiết có
nhiều hôm rất là nực nội. Lúc đó cũng là lúc
đuông chà là đang đúng vóc trở ḿnh, thế là
mấy tay thợ xắn đuông họ bắt đầu
vào mùa để kiếm miếng ăn. Có người
bơi xuồng qua tới miệt cù lao, hoặc xuống
tới xă Tân Xuân chạy dài ra gần cửa biển. V́
ở đó hơi xa, ít có dấu chưn người bu vào
giành giựt. Bởi hễ phàm ở đời, làm
việc ǵ có huê lợi bữa trước, th́ bữa sau
lại có cḥm xóm nh́n vào rồi bắt chước. Chắc
có lẽ cũng nhờ cái tánh siêng năng như vậy, mà
con người thoát qua được bao trận đói
khổ đó chăng. Chớ c̣n đời sống ở
những nơi hẻo lánh như vầy, chỉ có biết
nhờ trời thương nên c̣n sống. Trong lúc đó th́
ở xă Lộc Thuận nầy, ông Bảy cũng vậy
chớ có khác chi ai.
Sáng hôm nay là ngày con nước ṛng buổi
sáng, hai vợ chồng ông đă chửng (chuẩn) bị
từ trước đó rồi. Nhân ngày chủ nhựt ông
muốn dắt thằng con là thằng Trực đi nói
chuyện cho vui, lại nhân thể cũng muốn dạy
cho nó biết thêm những việc như vầy, pḥng khi sau
nầy gặp phải cảnh thắt ngặt mà dễ
bề sanh sống. Trong lúc ông đứng nh́n thằng
nhỏ thay quần, t́nh cờ nh́n thấy trái “dưa
chuột” của nó lớn gần bằng ngón chưn
cái của ông. Làm cho ông liên tưởng đến lúc đó
“nó” mở mắt nh́n đời, khiến cho ông
mỉm miệng cười sung sướng bâng quơ, v́
nh́n trái dưa chuột của thằng nhỏ sao giống
ông quá thể.
Khi ông nhớ tới câu “con nhà tông không
giống lông cũng giống cánh” chớ bộ.
Bởi người ta giàu có ruộng sâu trâu nái th́ chẳng
nói làm chi, c̣n con nhà nghèo chỉ có trông cậy vào bao nhiêu
đó. Nó mà đèo đẹt nữa th́ có môn lo giặt
quần cho vợ, chớ có làm nên cơm cháo ǵ. Bởi trong
đạo vợ chồng muốn cho trên thuận
dưới ḥa th́ “cái đó” nó phải oai phong, xuất quân đánh
trăm trận, trận nào cũng thắng. Chớ c̣n
yếu như con búng, th́ làm sao trách con vợ nó lả
lơi cười cợt với mấy đứa xóm
giềng. V́ trên thực tế trong việc vợ chồng,
chỉ trông chờ có một chút xíu đó mà thôi. C̣n ruộng
sâu trâu nái là vật ngoại thân, đâu có tính vào việc ái
ân hay đêm khuya canh tàn bấc lụn để tỉ tê
cho vơi đi những điều cơ cực...
Ông Bảy c̣n đang phiêu phiêu với ư nghĩ
trào lộng trong đầu, th́ bà vợ đi lại
kế bên hỏi nhỏ:
- Bữa nay cha nó định đi xắn
đuông ở đâu. Nói cho tui biết đặng c̣n lo
đem thuốc giấy...
Ông ngó thằng Trực, rồi nói:
- Bữa nay có dẫn thằng nhỏ đi
theo tập sự. Chắc tui tắp vô xẽo Trùm Cu
xắn thử coi sao. Chớ bơi chiếc xuồng ḿnh
đi qua miệt B́nh Khương, sợ nửa chừng
bị sóng to gió lớn th́ không biết sao để mà xoay
trở.
Bà vợ vốn biết tánh chồng, nên bà ta
lo xách hai chai lít đi ra mái nước đầu hè mở
nắp cặc bần ra, rồi thụt vào nhận
nước sôi tim nghe ụt ụt. Chừng vài phút
đồng hồ sau th́ hai chai nước đă
đầy, tuy bà làm kỹ như vậy mà đă có mấy
con lăng quăng đang lọt vào bơi lội nhỡn
nhơ. Nhưng không sao, ở nhà quê đâu có mái nước
nào chẳng có lăng quăng, uống vô càng thêm mát gan mát
dạ...
Xong xuôi mấy cái chuyện lặt vặt
đó, rồi bà lẹ làng đi vô nhà lo lấy giấy
thuốc nhét vô b́. V́ sợ trễ nải một lát rồi
quên, bởi mấy ông ghiền thuốc nào th́ cũng
vậy. Nhịn đói ráng làm th́ họ chịu
được, chớ c̣n thiếu điếu thuốc th́
họ lại bủn rủn tay chưn. Tới chừng
đó công việc có gấp rút tới đâu, th́ họ
cũng bỏ về chớ đừng mong ǵ ráng nổi...
Đứng lóng ngóng kế một bên,
đợi hai cha con ăn cơm gần no, th́ bà nói nhỏ:
- Thôi để một lát nữa ở nhà, tui
sàn săi ba hột nếp để sẵn ở đây.
Chiều hai cha con ông d́a (về) th́ tui nấu cơm nếp
đuông chà là, cho mấy đứa nhỏ ăn no một
bữa.
Ông Bảy nh́n vợ một hồi, rồi
dặn tiếp:
- Bà nhớ kiếm thêm ít cọng hành lá
nữa nghen, cơm nếp đuông chà là mà thiếu hành lá,
th́ kể như chỉ ngon có chừng phân nửa mà thôi...
Hai vợ chồng nghèo nói chuyện láp giáp
một hồi rồi cũng làm thinh, bởi họ cũng
không biết chuyện ǵ để nói. Thường khi là
căn dặn chuyện đồng áng cực khổ quanh
năm, chớ chẳng biết nói với nhau những
lời yêu đương đường mật. Rồi
ông Bảy ngó mông lung sau hè một hồi, sau đó quay
lại thằng con hối:
- Xong chưa
Tụi. Xách phụ cho cha chai nước đem xuống
xuồng, đừng bỏ quên mà trưa nay tao với
mầy chết khát đó...
Nói với thằng con mấy lời như
vậy, rồi ông day qua bà vợ nói tiếp:
- Bữa nay bà ở nhà coi trời có nắng
tốt, bà ở nhà nhảy vô bồ xúc vài giạ lúa ra
phơi, để chiều tôi về đổ vô cối
xay bỏ đó, rồi tối tôi với bà giă bậy vài
cối để lấy cám cho heo ăn. Ráng nuôi thúc thêm
chừng vài tháng, coi heo có lên giá th́ ḿnh kêu ông Tám Hạo
đi xuống cân bán cho rồi. Chớ c̣n nuôi cho nó
đủ tạ, th́ tôi nhắm chắc là ḿnh nuôi không
nổi...
Hai vợ chồng nh́n nhau buồn tủi, khi
nhớ tới cảnh nhà nghèo khổ thiếu ăn.
Chỉ cắc ca cắc củm nuôi có một con heo bồ,
vậy mà hễ nh́n thấy nó lớn vừa đủ
chừng năm yến là muốn bán. Rồi ông Bảy xách
gào cơm, cùng với cây mác xuống xuồng, gặp
nước xuôi ông chỉ kềm mái dầm thả thôi
đi cũng lẹ.
Khi chiếc xuồng đi qua khỏi voi
đất ông Bộ Sửu, th́ ông lại buồn miệng
cất tiếng ca vọng
cổ. Làn hơi của ông ấm áp một cách lạ
kỳ, tuy bài ca Phạm Công Cúc Hoa ông không thuộc, nhưng
ông cũng ngậm ngùi khi ca tới chỗ mẹ ghẻ con
chồng. Bà mẹ ghẻ là Tào Thị bắt Nghi Xuân,
Tấn Lực đi chăn vịt chăn gà c̣n đánh
đập bỏ đói chẳng xót thương. Nhờ
Cúc Hoa hồn phách hiển linh hiện về, ắp ủ
hai đứa con khờ trong những đêm dài giá rét.
Trong phút giây chạnh ḷng đó, rồi ông
lại nghĩ đến phận ḿnh. Nếu mai mốt
đây ông bơi chiếc xuồng vịt nầy qua sông Ba
Lai, xắn đuôn chà là hay quơ củi, xắn bắp
dừa nước đem về róc lạc để nuôi
con. Nửa chừng gặp sóng to gió lớn, rồi
chiếc xuồng của ông bị ch́m, ông bị chết
đi th́ sau đó vợ của ông sẽ lấy chồng
khác. Tới chừng đó th́ thằng Trực và mấy
đứa em của nó sẽ ra sao, chắc cũng phải
chịu cảnh như Nghi Xuân, Tấn Lực trong bài ca
vọng cổ nầy, khiến cho giọng ca của ông
nửa chừng tắt nghẹn...
Rồi chiếc xuồng trôi theo ḍng
nước, đi qua khỏi dây đất của ông
Biện Mẫn. Nước theo mấy đường hèm
rịn vô gần ngập dây cong. Ông nh́n thằng Trực
nói:
- Con lấy gào tát nước ra cho cạn giùm
cha. Cái xuồng nầy chắc đă tới tuổi
rồi, hai cha con ḿnh ráng xắn đuôn chà là bán kiếm
tiền mua chừng 12 lá be dầu, đem về kêu ông
thợ Phó lại đóng chiếc khác cho rồi. Chớ c̣n
dưỡng nó nữa, hao tốn dầu chai thêm th́ cũng
vậy.
Thằng Trực tuy mới có mười
mấy tuổi đầu, mà nó giỏi giắn hết
phương. Cánh tay nó cầm cái gào lá đưa lên
đưa xuống tát nước lẹ vo, chỉ cần
chừng nửa tiếng đồng hồ th́ chiếc xuồng
khô nước. Nhưng v́ mấy đường hèm cây
mục, chai trét đă tróc rớt ra mấy chỗ hết
rồi, nước theo mấy lỗ đó mà phúng vô. Ông
Bảy mới nhủi mũi xuồng vô voi đất,
đưa mắt nh́n để kiếm một cục
đất nào thật vẻo, rồi xắn một
cục gợt bỏ bớt bùn nhăo bên ngoài. Sau đó ông
đưa cho thằng con, rồi dặn nhỏ:
- Mầy vắt cục đất bóp nó
một hồi cho thật vẻo, rồi ve nó ra thành
một sợi dài. Ḷn tay ra mé ngoài be, coi chỗ nào có lỗ
mội mà nhém. Nên nhớ muốn trét xuồng rịn
nước, th́ phải nhém phía ngoài, v́ ở đó có hai mí
be giữ lại. Chớ mầy mà nhém bên trong, chỉ
cần một chút th́ đất nó sẽ ră ra nước
rịn vô như cũ.
Căn dặn thằng nhỏ xong, th́ ông
kẹp cây dầm nơi bắp vế. Sau đó móc b́
thuốc rê trong túi áo bà ba đen vải xiêm ra ngồi
vấn, trước làn khói mỏng mơ màng. Ông Bảy
nghe một nỗi buồn lăng đăng bâng khuâng, khi nh́n
thấy bàn tay thằng Trực đang ngắt cục bùn re
nhét xảm. Làm cho ông nghĩ tới một giấc mộng
của hai vợ chồng đă ắp ủ tự bấy
lâu nay, là ráng làm lụng để có tiền, có gạo nuôi
thằng nầy học thành ông thầy giáo. Nhưng với
cái sự nghèo khó như vầy, giấc mộng đó có
thành không. Bởi làm ruộng vất vả tối ngày,
tối c̣n phải đốt đèn lên xay gạo. Xay xong
rồi đậy bỏ đó, tắt đèn ngủ
một giấc để lấy sức sáng đi làm. Khi gà
gáy canh ba tư vợ chồng đều thức dậy,
vợ th́ lo nhúm lửa nấu cơm, c̣n ông phải giả
trắng hai cối gạo đổ trong khạp cho con
ăn không bị đói.
Cuộc đời như vậy cứ
tiếp diễn không ngừng, năm nào lúa trúng th́ chẳng
nói chi, năm nào lúa thất th́ phải đi vay nợ.
Nợ mẹ nó đẻ nợ con, cứ vậy mà
mấy người nghèo khổ ở đây mang nợ
suốt đời, có người trả không nổi
phải đem con lại đợ để trừ
mới khổ.
Càng nghĩ tới niềm kia nỗi nọ
chừng nào, ông Bảy nh́n thằng con thương
đứt ruột. Như vầy th́ chắc học
hết lớp trường làng nó phải nghỉ thôi,
chớ c̣n cho lên trên Mỹ Tho, th́ làm sao lo cho nổi. Trong
nỗi buồn gia cảnh bâng khuâng mơ hồ đó, ông
nghe có một cái ǵ châm chích trong ruột trong gan. Rồi ông nhứt
quyết phải ráng làm, có “tận nhơn lực mới tri thiên
mạng”. Thà là ông chịu dốt, chớ mấy
đứa con ông phải học để kiếm ít
chữ lận lưng, c̣n dốt nát quá th́ thế nào ra
đời cũng bị người ta ăn hiếp.
Khi chiếc xuồng vừa ra tới họng
xẽo Trùm Cu, th́ con nước lớn hừng đông
cũng vừa những tới. Ông bèn xốc dầm
cấm xuồng nh́n lên một lát, th́ thấy mé trên dây
đất ông Mười Hộ là một dăy chà là. Nhưng
bụi nào cây cũng quá cao, như vậy th́ cổ chà là
đâu có, nên đuông làm sao đóng ổ. Sau một hồi
suy nghĩ, ông bèn nhổ dầm lên theo con bước
bơi vô. Khi đi múm qua đầu đất ông Sáu
Vĩnh, th́ đă thấy chà là tơ bắt đầu
mọc cặp theo mé xẽo không nhiều. Nhưng toàn là chà
là tơ, nên cổ của nó bắn lên khỏi mặt
đất chừng nửa thước tây vậy thôi dày
mịt. Như vậy là đúng với sách vở mà ông
thầy Ba Nguy đă chỉ dẫn trước đó
rồi. Ông Bảy bèn cấm
xuồng rồi dẫn thằng nhỏ bước lên, sau
khi quan sát một ṿng th́ đă thấy cứt đuông trên
đọt chà là nhiều quá...
Thiệt là tổ đăi cho những nhà nghèo.
Hai cha con ông Bảy sau nửa giờ đồng hồ
để dọn sạch gai, rồi bắt đầu
lựa cổ chà là nào đọt héo, có giấu cứt
đuông đùng ra th́ xắn. Từng cổ chà là củ
hủ trắng phao, được ông xắn ra rất là
cẩn thận. Vậy mà gai của nó đâm đổ máu
khắp bàn tay, bởi gai chà là chẳng những đă bén,
mà nó dài cả hơn một tấc tây tua tủa chỉa ra
như một bàn chông đang chờ ngày giết giặc.
Chắc có lẽ đây là một giống cây gai, chỉ có
mọc cặp theo miền nước mặn. Ngoài việc
áng đất vả phèn, giống chà là nầy nếu
biết xài th́ cũng làm cột chái nhà, hoặc cất
chuồng heo. Nhưng v́ gai gốc quá, khiến cho
người đốn nó cũng đâm ra hơi ớn...
Xắn tới trưa cũng hơn vài
chục cổ, ông Bảy sợ thằng con đói
bụng, nên biểu nó lấy gào cơm vở ra ăn.
Rồi ông dùng cây mác vót chẻ ra ba cổ chà là, th́ ba con
đuông rớt ra mập lút. Ông bắt hết bỏ vào
trong chén nước mắm để cho nó lội nhă
cứt một hồi, sau đó lấy đũa gắp
lên biểu thằng Trực ăn đi con cho mau bổ
dưỡng. Nhưng thằng Trực thấy sợ, nó
lại lắc đầu, rồi và cơm ăn với cá
kèo kho khô như mọi bữa.
Ông Bảy là một người từng
trải, ông đă hiểu câu “vật dưỡng
nhơn” nên bốc con đuông bỏ vào miệng nhai
sương sương rồi nuốt trộng. Một mùi
béo béo, ngây ngây lạt lạt bay ra. Bởi không quen ăn
sống như vậy, nên chẳng thấy ngon lành ǵ.
Nhưng đă lở chẻ ra rồi, th́ phải ráng ăn
cho hết. Đó là quan niệm của ông từ trước
tới nay, từ chén cơm cho tới khứa cá kho, hễ
thấy đứa con nào ăn bỏ mứa th́ ông rầy
dữ lắm.
Từng cổ đuông chà là được
thằng Trực sắp bỏ vô cái rộng đem theo, th́
trên hai cổ tay của ông Bảy cũng bị gai chà là
đâm không biết bao nhiêu là dấu tích. Từng giọt
máu tươi chảy ra, là mỗi hạt cơm để
nuôi mạng sống con người trong thời đói
khổ. Nhưng cũng phải ráng cắn răng lại
để làm, liệu sau nầy con cháu tụi nó có nhớ
đến mồ hôi nước mắt cha ông, đă khai
sơn phá thạch để h́nh thành một nước
Việt Nam gấm vóc...
Hết bụi chà là nầy th́ ông lại chóng
xuồng đi kiếm bụi chà là khác, lần lần nó
sẽ cho ông một kinh nghiệm quư báu sau nầy. Chỉ
cần đứng ở xa mà nh́n vào bụi chà là thôi, th́ ông
cũng biết là có đuôn nhiều hay ít. Bởi theo
lẽ thường, th́ khi con đuông nó lớn lên, rồi
nó sẽ thành ngài. Sau đó nó sẽ chun ra, rồi hóa thành
con kiến vương bay đi rồi chết. Trứng
của nó sẽ gởi lại trong đọt chà là, tới
tháng ba âm lịch th́ nó sẽ nở ra con, rồi ăn
củ hủ chà là lớn lên để trở thành đuông
như người ta đă biết.
Nhưng cái mùa ăn đuông chà là chỉ có
rộ vào khoảng tháng ba, khi mưa rớt hột
xuống th́ lớp đuông đó đă già, nên đă phá
đọt chà là ra rồi bay đi để chết.
Cũng chính v́ điều đó, mà khi qua mấy tháng mưa
già. Có khi xắn đuông đem về, rồi chẻ ra
ăn, th́ hỡi ơi chỉ có thấy cứt, chớ c̣n
con đuông đă bay đâu mất. Mấy khi đó có
lở đem bán cho ai, th́ thế nào cũng họ đi
lại nhà mắng vốn, hoặc đem mấy cái vỏ
chà là trả lại để lấy tiền. Ôi
đời sống của kiếp nông dân, cho dù có sống
với nghề ǵ th́ cũng thật là dầu dăi!
Hai cha con xắn hết bụi chà là nầy,
th́ đi kiếm bụi chà là khác. Chỉ cần già
cứng một buổi trưa th́ cũng được
mấy chục con rồi. Hai bàn tay và hai cổ tay của
ông đă bị mấy chục mũi gai chà là đâm
đổ máu, mặc dù ông đă cẩn thận hết ḿnh
nhưng cũng không sao tránh khỏi. Bởi v́ làm mệt
nhọc, con mắt đổ hào quang, nên không thể nào nh́n
cho rơ được. Nhưng không sao; với người
nông dân phá đất, phá rừng. Th́ mồ hôi và giọt máu
đổ xuống là lẽ thường, đâu có
điều chi phải sợ. Họ chỉ cần
đưa tay lên nặng máu một chút là xong ngay, nếu
gặp ca nào máu ra hơi nhiều, th́ đưa lên miệng
nút, rồi nuốt ngược vào trong bụng một chút
sẽ lành. Ôi da thịt của người nông dân sao
hiền quá đỗi, đến nổi gai rừng, gai chà
là cũng rất cảm thông. Chỉ đâm cho dỗ máu ra
chơi, chớ không có vết thương nào làm
độc.
Mặt trời đă ngả về tây, ánh
nắng gay gắt rọi xuống cánh rừng chà là như
hực lửa. Vậy mà ông Bảy chẳng muốn
về, bởi càn vô sâu chừng nào đuông chà là nó đóng
đầy nhóc thấy mê. Có bụi xắn một hơi
cho cả chục cổ. Nhưng đến khi nghe
tiếng chim b́m bịp kêu nước lớn, ông mới
biểu thắng Trực thôi sửa soạn đi về,
để trễ th́ gặp nước ngược bơi
mệt lắm mầy ơi. V́ làm từ sáng tới
chiều, hai cánh tay nó cũng muốn ră rời, sức
đâu c̣n mà cầm dầm bơi như hồi sáng...
Hai cha con về tới nơi th́ cũng
mệt đừ, sau khi tắm rửa xong, th́ ông nh́n
vợ hỏi:
- Được bao nhiêu vậy má nó?
Bà vợ nh́n ông vui mừng nói:
- Gần năm chục có đầu lận
ḿnh ơi. Thôi để tôi chẻ ra chừng một
chục, nấu một nồi cơm nếp mỡ hành cho
con nó ăn cho biết đuông đầu mùa. Tội
nghiệp hổm rày, mấy đứa con nhà ḿnh nhịn
thèm trơ mỏ...
Nói xong một câu của người vợ
hiền tần tảo, rồi bà lo đi xúc nếp ra vo.
Bởi cái thứ cơm nếp này coi vậy không phải
là dễ nấu. Người nào không có kinh nghiệm th́
nấu nó không chín được đâu, nếu có chín th́
cũng chắc là bị nhăo.
Bà đứng canh một hồi, cho hạt
nếp vừa mới nở ra. Rồi lẹ làng cầm
nùi giẻ lên nhắc xuống chắc nước ra, sau
đó bà bắt trở lên gắp lửa than bỏ lên
nắp ghế thật già. Xong xuôi đâu đó, th́ bà
mới bắt thêm nồi cơm tẻ. Bởi cơm
tẻ thấy củi lửa th́ chín chớ có sợ ǵ, con
nít nấu cũng được chớ đừng nói chi
ai. Chỉ có cơm nếp, người nào khéo tay hay dở
th́ khi nào giở nắp vun ra mới biết.
Sau vài giây suy nghĩ, bà đi vô nhà giở
khạp ra xúc non một quăo cá kèo, rồi bưng ra ngoài hè
với một vùa tro trên tay, ngồi chà một hồi th́
sạch vảy. Sau đó bà bưng lại sàn nước
rửa cho rạch rồi để lên đó cho khô,
đợi một lát nữa kho xả cho mấy
đứa nhỏ ăn cơm cho đỡ ngán.
Chừng nửa giờ đồng hồ sau,
th́ mẻ cá kèo kho thơm mùi sả ngào ngạt bốc ra.
Khi mấy trái ớt sừng trâu bắt đầu chín
rục. Bà sợ chồng con đói bụng, nên bà làm
việc coi rất lẹ làng, chỉ một lát sau th́ có
bữa cơm tươm tất. Rồi bà dọn lên trên
cái quả đường, kêu mấy đứa con xúm
lại ăn trong niềm vui hạnh phúc.
Hai vợ chồng bà ngồi ở đầu
bàn, để lo gắp đồ ăn bỏ vào chén cho
con. C̣n mấy đứa nhỏ như một ổ chim
con, đang hả miệng ra để chờ mẹ tha
mồi về đúc. Tiếng và cơm nuốt nghe ừng
ực, tiếng người má nói ân cần. Tiếng
người cha dẽ cá lừa xương cho con, ôi
một cuộc sống tuy nghèo nhưng rất là ư
nghĩa.
Ăn cơm xong th́ cũng chạng vạng
lên đèn, ông Bảy lo đi thắp nhang trên bàn thờ
như một thói quen, bữa nào lở đi đâu không làm
việc đó th́ ông nhớ lắm. Chắc có lẽ
nhờ vậy, mà c̣n giữ ǵn đạo lư thờ cúng
tổ tiên. V́ những năm loạn lạc vừa qua,
nhiều khi phải thắng dầu mù u, hay mỡ chuột
ra thay thế dầu lửa hiện giờ. V́ thế mà nhà
cửa ở dưới thôn quê, khi tối đến họ
lo tắt đèn ngủ sớm. Có lẽ nhờ vậy
mới mau con, chớ chun vô nóp vô mùng rồi. Nếu không làm
chuyện đó th́ biết làm chuyện ǵ, bởi vậy
cho nên ở miền quê nhà nghèo con đông là vậy.
Rồi cuộc sống của gai đ́nh ông
Bảy, cũng như bao nhiêu người khác đang
sống ở đây, họ cũng không có một sự
lựa chọn nào. Bởi từ lúc mới sanh ra, cho
tới khi khôn lớn. Họ chỉ biết có mảnh
ruộng với căn nhà lá nghèo nàn, từ đời cha
truyền sang đời con, đời cháu. Cuộc
đời cứ như vậy mà tiếp diễn.
Người nào giàu có đất điền nhiều, th́
họ cứ việc ăn trước người trên,
c̣n người nào nghèo khổ th́ cuộc đời cứ
quanh năm túng quẩn.
Đêm đêm chỉ biết làm bạn
với muỗi mồng, khi nào đi đăng hay
đặt nó trúng tép đất với cá kèo, th́ mới bán
đủ có tiền mua thuốc giấy dầu lửa mà
thôi. C̣n có thèm lắm, cũng chỉ ráng mua một gói trà hai
con cua xanh nấu một b́nh trà uống cho thơm râu
để gọi là đỡ giấc.
Hễ tới mùa
nào th́ sống bằng mùa ấy. Như năm nay tới mùa
xắn đuôn chà là, th́ ông Bảy “ăn đuông”.
C̣n tới mùa cua th́ lo đi bắt cua về đổi
gạo. Nhưng có lẽ chỉ có mùa ăn đuôn nầy
là khổ cực hơn hết. Cũng có nhiều bữa
gặp đuôn nhiều, ham xắn cho cố mà bán cũng
chẳng có bao nhiêu. Bởi người dân ở đây
vốn dĩ đă nghèo, mấy món ăn chơi đó th́
họ cũng không mặn mà ǵ cho lắm. Chỉ có mấy
người Tàu đang buôn bán ở chợ ngoài, gặp
rẻ th́ họ ăn chơi. C̣n bán mắc, th́ họ
ăn qua thứ khác.
Lâu lâu chợ hút cũng trúng mối một
bữa, khi có một người nào đó có dịp đi
đâu lên Sàig̣n, rồi mua đem biếu cho bà con. Mấy
buổi chợ đó bà Bảy chỉ bán có một chút th́
đă hết liền. Rồi bà lật đật cầm
tiền đi mua thuốc giấy, dầu lửa, đá
hột quẹt đem về để dành xài. Nhưng bà
cũng không quên mua thêm bánh trái cho con, đời làm mẹ
của bà có khác ǵ loài chim Dương Nga trên vùng trời
băng tuyết. Gặp lúc giá băng chim mẹ phải
tự rỉa thịt ḿnh để nuôi sống đàn con,
c̣n bà Bảy tuy chưa làm
điều đó. Nhưng bà đă từng nhịn đói
để nuôi con, điều đó đă xảy ra rất
thường trong cảnh sống của hai vợ
chồng nghèo khổ...
Cuộc sống như vậy cũng tạm
yên thân. Nào ngờ đến cuối năm 1959, th́ mấy
người cán bộ Việt Minh nằm vùng họ lại
đứng lên, đêm đêm đánh thùng thiếc, đánh
mơ mù u để kêu gọi dân chúng vùng lên bố bót, bố
đồn. Cũng từ đó chết chóc đă bao trùm
mọi nẻo. Mấy dăy đất ngoài miệt rẫy
Cả Muồng, B́nh Khương, Rạch Gừa, Ao Vuông
đều bị cấm. Không ai được bén mảng
bước vào, để cho họ xây dựng mật khu.
Ông Bảy phải đành cắn răng lo dắt mấy
con đi lên Mỹ Tho đạp xích lô sanh sống, c̣n bà
vợ th́ nấu xôi gánh đi bán khắp xóm chợ Hàng C̣ng,
Ṿng Nhỏ để kiếm miếng cơm, nên bàn chưn
đă chai sần v́ mua gánh bán bưng làm sao mang guốc giép.
Rồi mấy đứa con của ông đă
lớn, thằng th́ đi lính, thằng đi làm hồ,
đứa th́ may mắn
được vào đại học cho tới khi miền
Nam sụp đổ ngày 30 - 4 - 1975. Ông Bảy cũng
như bao nhiêu người khác, hớn hở dắt vợ
con đùm túm trở về quê. Th́ hỡi ơi quê xưa bây
giờ là một dăy rừng chồi, đầy những
đạn bom, một cuộc sống gian nan chết chóc
đang chờ phía trước. Ông và bầy con phải ra
sức phá rừng làm ruộng. Nhưng đâu có
được yên thân, bởi chánh quyền mới bây
giờ họ c̣n nhiều nghi kỵ. Họ bắt mọi người
dân phải đi nhóm họp hằng đêm. Người nào
đi lính trơn, th́ họ gom lại cho học tập
ngoài đ́nh Lộc Thuận một tháng. C̣n người nào
cấp bực quan quyền, hay công chức chánh ngạch tùy
theo ngành để cho họ “cấp giấy”
đi học rất ra. Có người th́ được
đi ra tới ngoài miền Bắc lận, nên cuộc
sống của người đói khổ từng ngày, nó
khổ c̣n hơn thời kỳ Pháp thuộc đô hộ
ở đây. Nên người ta mới t́m đường
trốn thoát. Có người th́ trốn bằng
đường bộ, đi qua ngă Cao Miên, Thái Lan. Có
người th́ đi bằng đường biển trên
những chiếc ghe nhỏ xíu, bị sóng to gió lớn
nhận ch́m không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng họ
cũng quyết chí ra đi, bởi ở lại rồi
sợ có ngày chết đói...
Trong số những người trốn thoát
nầy, lại có thằng con của ông Bảy đang
định cư bên nước Úc hiện giờ. Sau
nhiều năm làm mướn ở xứ người, bây
giờ thằng nầy đă lớn đầu bạc hoa
râm. Nó đợi khi chánh quyền mới nầy mở
cửa, hô hào chánh sách đưa đón Việt kiều. Nó
mới dám bạo dạn về thăm, trước là
để trùng tu mồ mả cha má ông bà. Sau nữa là
để thăm quê hương xứ sở...
Sau khi làm hai ngôi mộ cho ông bà Bảy xong, th́
thằng con đầu bạc nầy cũng đi lên Sàig̣n
chơi vài ngày cho khuây khỏa. Sau nữa là mua sắm
một ít đồ. Bởi ở Sàig̣n bây giờ thứ ǵ
cũng có, nếu so ra th́ rẻ hơn ở bên Úc rất
nhiều.
Rồi thằng Việt kiều nầy
cũng xuôi theo đoàn người đi tham quan khu du
lịch ăn uống B́nh Quới một đêm, một
cảnh sống náo nhiệt tưng bừng chưa bao giờ
có. Từng nhà hàng được trang trí mộc mạc
hương quê, tất cả thức ăn đều
bỏ vào trong đọt lá chuối, rồi để trên
cái sàn hoặc cái nia. Ngó coi thật là dân giă; như cái
thuở ông bà của ḿnh đi khai sơn phá thạch,
kỹ nghệ đồ gốm nun chưa có
được thịnh hành, nên tất cả đều
gói bằng lá cây, nhờ vậy mà đă làm nên giang san
gấm vóc.
C̣n bây giờ đất nước văn
minh, nhưng họ muốn trở về nguồn. Nên
mới bày đặt ra một bữa ăn, phải
ngồi bên cạnh cầu ao hay cối xay cối giă. Tuy
vậy mà họ buôn bán rất đông, đồ
đặc sản c̣n tươi đúc vô ḷ nướng
lửa than bay mùi thơm phức. Cái đó mới làm cho con
trái con gái tiếp tục sa đọa mỗi ngày, bởi
sống ở môi trường chỉ biết có ăn, nên
cái nạn cướp giựt ngày nào cũng có xảy ra
không biết bao nhiêu mà kể xiết.
Mấy cô tiếp viên phục vụ, phải
mặc toàn là quần áo bà ba. Nhưng ngược lại da
vẻ của họ trắng trẻo hồng hào, c̣n đeo
ṿng đeo bông đỏ cổ. Quả thực là mấy cô
thôn nữ trá h́nh, vậy mà thực khách chỗ nào cũng
chật nức hết trơn, th́ ra ở thành phố bây
giờ nhà đông nực nội quá, họ rút về
mấy vùng quê để mở nhà hàng ăn uống cho mát
mẻ.
Cũng trong cảnh tưng bừng náo
nhiệt đó, ông già Trực nghe nặng nỗi u buồn.
Khi nh́n thấy mấy người thực khách đang
nhậu nhẹt lăng xăng, c̣n mấy cô bồi bàn th́
bưng nguyên lại một tô nước mắm. Rồi
con dao thật bén, chẻ một chục cổ chà là ra
để bắt đuông. Sau khi tŕnh diễn cho thực
khách coi đâu đó đàng hoàng, rồi họ bắt
hết mấy con đuông bỏ vào tô nước mắm
cho nó lội.
Thực khách gắp lên nhai rồi nuốt
giữa tiếng reo ḥ, để cho mấy cái máy quay phim nó
quay, dường như đây là một hăng phim đang
thực hiện một màn phóng sự. Bất giác làm cho ông
già Trực nghe đau quặng trong ḷng, khi ông nhớ
tới giờ nầy những kẻ nghèo khó như cha ông
hồi xưa, đă lặn lội trong rừng sâu
để xắn từng cổ đuôn chà là với
biết bao nhiêu là máu chảy!
Hồi đó c̣n rừng bụi chà là nhiều
th́ chẳng nói làm chi, c̣n bây giờ muốn xắn
được một con đuôn chắc là gian nan dữ
lắm. Ôi những bàn tay nông dân hiền hậu, phải
đi càn trong rừng trong bụi vào những ngày nắng
gắt trở mùa. Rồi gai chà là nó đâm đổ máu mà
chẳng biết đau, bởi trong ḷng đă nghĩ
tới một con đuôn nếu xắn được, th́
đem bán mua cũng được mười lít gạo
hiện giờ chớ đâu có ít. C̣n những người
giàu có ở đây, họ cứ ăn uống nói
cười, vô t́nh như một người vong ơn
bạc nghĩa. Dường như họ đang phá
sản một nền văn hóa ruộng nước lâu
đời, nhờ đó mới có miếng ăn. Vậy
mà bây giờ bất cứ ở đâu, họ cũng
muốn san bằng, để trồng vào đó cao su, hay là
những thứ cây café, hoặc trồng cây điều
lấy hột...
Có khi nào họ nghĩ tới mấy con
đuôn chà là nầy nó đang sống ở đâu, và
người nông dân làm cách nào để mà xắn nó. Rồi
cây chà là nó mọc ở đâu, h́nh thể của nó như
thế nào, mà có một cái củ hủ thật non,
để cho đuôn ở trong ăn sống lâu ngày mà không
sợ óm...
Đó là những niềm ray rứt trong
đầu, làm cho ông già Trực cảm thấy xốn xang.
Khi ông đang nhớ tới những bụi chà là mọc
gai tua tủa. Từ trên đọt cho tới gốc
đều gai, muốn xắn nó th́ phải dọn dẹp
đàng hoàng, những cũng phải bị gai đâm
chớ không thể nào tránh khỏi. Bởi đó là một
luật rất tự nhiên, như muốn ngắt một
bông hồng, th́ trước sau ǵ cũng phải hít hà khi
bàn tay vớ phải...
Ngoài đường phố thiên hạ cứ
tiếp tục nói cười, chỉ có ông già Trực là
buồn thôi. Bởi v́ ông ta đang sống về kỷ
niệm, rồi ông ta tính sẵn trong đầu. Vài ngày
nữa ông trở lại làng Lộc Thuận nhờ
mấy đứa cháu cho mượn chiếc xuồng,
để bơi ra ngoài chỗ khúc sông Ba Lai. Chỗ mà ngày
xưa hai cha con ông đă từng xắn đuôn chà là, khi nước
ṛng ḷi băi th́ bắt cá bóng sao, tḥi ḷi sinh sống.
Ông định bụng sẽ tự tay
kiếm xắn vài cổ đuông chà là, để đem
về làm mâm cơm cúng cha cúng má. Nhưng có lẽ nó không
thành, bởi bây giờ rừng bụi ngoài đó trống
trơn. Chánh phủ người ta đă đắp đập
con sông Ba Lai ngăn nước mặn, c̣n con rạch
Cả Muồng th́ đă đắp trước đó lâu
rồi. Mấy con đuôn nầy chắc họ xắn
ở đâu bên miệt cù lao, hay bên Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà
Mau mới có.
Rồi ông già Trực nghĩ tiếp. Như
vầy th́ mỗi con đuôn bây giờ nó sẽ đổi
bao nhiêu giọt máu, mồ hôi. Bởi sống vào thời
buổi người đông, của khó nầy. Mọi
phương tiện mưu sinh đều vất vả,
chớ không phải như hồi đó cách nay mấy
chục năm, hễ chịu đựng được
cực khổ th́ ở đâu sống cũng
được. C̣n bây giờ nhà cửa đông đúc
cất san sát sầm uất như vầy, nội chỉ
có ỉa đái thôi th́ cũng đủ trần thân, th́ làm
sao con cá, con cua, con tép, con đuôn nó sanh sản ra nhiều
cho được.
Bao nhiêu ư nghĩ hỗn mang c̣n đang lăng
đăng trong đầu, th́ bàn kế bên họ kêu tôm càng xanh
luộc nước dừa nạo. Những con tôm càng c̣n
sống, bị bỏ vào trong trái dừa tươi,
rồi chụm lửa bên dưới, cho tới chừng
nào sôi chín th́ thôi. Dường như ngày nay có tiền
họ ăn uống cầu kỳ quá, để rồi sau
đó phải sanh ra nhiều thứ bịnh rất là khó
trị. Chớ đâu phải c̣n như cái thời ông bà cha
má của ḿnh, ăn uống b́nh dân nhưng nhiều bổ
dưỡng, để giúp cho thân thể cường tráng
vẻo dai. Ngày đêm lo chóng chọi
với thiên nhiên, nhờ vậy mà tới đới con cháu
sau nầy, mới có những vườn cây trái ngọt...
Những cái hóa đơn tính tiền, thấy
mà chóng mặt. Vậy mà thiên hạ nườm nượp
thật đông, mấy người bồi bàn họ
lăng xăng như là ngày hội. Sống trong xă hội
nầy, người nào nghèo khổ th́ đi bán từng
tấm vé số để kiếm miếng ăn. C̣n
người nào giàu có, th́ họ xài tiền như
nước...
Ông già Trực kêu bồi đi lại tính
tiền, rồi ông cũng lịch sự như ai. Ông
cũng biết poa tiền cho mấy người bồi
như thiên hạ. Ngoài đường; từng tốp
ăn xin theo lề lộ cất tiếng cầu xin
rất thảm thương, nhưng người ta không ai
chú ư. Bởi thời buổi chụp giựt kinh tế
thị trường nầy, họ đâu c̣n thời
giờ để nghĩ đến vấn đề
tư cách, đạo đức con người. Mà họ
đang nghĩ tới nhà cửa xe cộ cao sang, cho nên
họ đă quên đi những điều nhân nghĩa.
Giờ nầy ở đây, mấy nhà hàng
nầy đang mở cửa đón mời thực khách, vào
đây ăn nhậu bằng những thức ăn
đặc sản tươi ngon. C̣n ở thôn quê, nơi
rừng sâu nước đọng, đă có biết bao nhiêu
người nghèo khổ. Họ đang lặn hụp
dưới đóng chà, hoặc thức ngồi trên một
chiếc xuồng nhỏ ở một khúc vịnh nào đó
vắng lặng câu tôm. Những con tôm câu được
vớt lên, không bao giờ họ dám ăn, hay làm găy một
cái càng. Bởi đó là nồi gạo, là sự sống c̣n
để nuôi sống đàn con, và hạnh phúc của gia
đ́nh mong manh bé nhỏ.
C̣n những con đuông chà là, đang lội
trong chén nước mắm nhà hàng kia để nhả
cứt, th́ đă có biết bao nhiêu người nghèo khổ
ở dưới tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau. Họ
đang thao thức trong những cái cḥi, v́ bị mũi gai
chà là đâm vào cườm tay nhức nhối, mà họ
chưa có rảnh để lể nó ra. Hoặc khựi
miệng nặn chút máu, rồi quệt vôi ăn trầu lên
cho phá miệng, để qua ngày sau ráng trân ḿnh chịu đau
nặn mạnh một phát là xong. Những ngón nghề
lưu truyền trong dân gian đó, mà ngày xưa ông già
Trực đă nh́n thấy nhiều lần, khi
được ông già dẫn đi theo xắn đuông chà là
ở miệt rừng Cả Muồng tới chết
cũng không quên!
C̣n bà già tới mùa cấy, th́ có đêm
phải ngồi thức v́ mấy ngón gị bị thúi khóe hành
đau, nên phải thức dậy lấy miếng vỏ
cao vuốt mỏng, rồi chế một chút dầu
dừa vào. Sau đó đưa lên ngọn đèn dầu,
đốt cho đến khi nào dầu sôi nổi bọt,
liền nín thở chịu đau chế vào mấy chỗ
móng đă được khựi ra. Để sáng hôm sau
bắt đầu đi cấy tiếp. Hạt gạo,
hạt cơm ngày đó cũng đâu khác bây giờ. Nó
phải dính mồ hôi, nước mắt dầu dăi của
những người nông dân chưn đất đầu
trần. Vậy mà ở nơi đây, họ vui đùa trên
những điều quái gở. Như cơm th́ họ
nấu cho thành chái, rồi họ bỏ vào chảo dầu
đầy nhóc để chiên gịn. Ăn như vậy th́
c̣n chi bổ dưỡng. Hoặc có chỗ họ bày
đặc nấu cơm niêu, hột gạo mà họ
bỏ vào trong nồi đất chất củi đốt
cho tới khét. Sau đó mấy người bồi biểu
diễn, bằng cách người nầy thảy,
người kia bắt như một trái banh. Chớ họ
không hề quư trọng, rằng hột cơm là hột
ngọc của trời. Khi ăn phải biết ơn
trên, chớ c̣n bôi bác th́ có ngày đói khổ./-
Phùng Nhân