/* @@@@@@@@png or jpeg @@@@@@@@@ */
  Nam Kỳ Lục Tỉnh
Nhà vuông - Nhà dài - Nhà việc
Loại hình đặc trưng của vùng đất Nam bộ xưa

Nguyễn Hồng Vĩnh

Trên hành trình mở cõi ở phương Nam, những lưu dân người Việt mang theo trong lòng bản sắc văn hóa nơi chôn nhau, cắt rốn của mình, nhưng đồng thời do hoàn cảnh và môi trường sống, họ cũng có những nét biến đổi cho thích nghi trên vùng đất mới. Trong những biến đổi đó, Nhà Vuông- Nhà Dài - Nhà Việc là ba loại hình lần lượt ra đời trên đất Nam Bộ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đời sống của cộng đồng dân cư. Ba loại hình này tồn tại một thời gian khá lâu, sau đó nó dần mai một, nhất là kể từ khi Pháp đặt nền cai trị trực tiếp trên mảnh đất này. Hiện nay, những loại hình này chỉ còn lưu lại trên một số thư tịch cổ và những địa danh trong dân gian như: ấp Nhà Việc, ấp Nhà Dài, ấp Nhà Vuông, còn những nơi xưa kia nó tọa lạc thì chỉ là cái nền cũ, hoặc đã mọc lên một vật thể kiến trúc khác. Một vài địa phương hiếm hoi còn giữ cái Nhà Vuông, nhưng cũng được cải tiến kết cấu kiên cố hơn và nghi thức tế lễ cũng giản lược cho phù hợp với đời sống mới.

Thiết nghĩ, chúng ta cần ngược dòng lịch sử tìm hiểu về lý do hình thành, dạng thức và công dụng của nó như thế nào. Trên cơ sở đó, càng hiểu thêm về sinh hoạt buổi đầu của những người tiên phong đi mở cõi.

Sau đây, chúng ta lần lượt nghiên cứu về những loại hình nói trên.

I. NHÀ VUÔNG:

Nhu cầu:

Trong ba loại hình như đã trình bày ở trên, Nhà Vuông ra đời sớm nhất, là một thiết chế văn hóa cộng đồng đầu tiên của người Việt ở Nam Bộ. Nó xuất phát từ nhu cầu là cần nơi bàn luận công việc trong cộng đồng để cùng nhau chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt ở vùng đất mới, đồng thời cũng là nơi sinh hoạt dân gian trong khi chưa tổ chức đơn vị hành chính và cũng chưa xây dựng được ngôi đình làng.

Theo “Đại Nam Nhất Thống Chí” sử liệu của triều Nguyễn; “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức; “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn và những tác phẩm văn học mang tính “sử liệu hóa” như: “Chân Lạp Phong Thổ Ký” của Châu Đạt Quan; “Hương Rừng Cà Mau” của Sơn Nam; “Đất Rừng Phương Nam” của Đoàn Giỏi, đều mô tả vùng đất Nam Bộ xưa có đặc trưng là:

Sông ngòi chằng chịt, rừng rậm bạt ngàn, nước mặn, đồng chua, muôn thú dữ tợn, “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh”.

Ca dao xưa có câu:

         “Đến đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”.

Nhưng bù đắp lại nguồn lợi ở đây cũng rất phong phú, nhất là thủy sản và ngũ cốc.

Dân cư vùng đất này thưa thớt, họ xuất thân thuộc nhiều thành phần trong xã hội, sống quây quần từng cụm, từng nhóm người ngay trên phần đất vừa khai phá.

Như trên đã nêu, trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, từng cá nhân, hộ gia đình không thể khắc phục được, cho nên họ có nhu cầu phải chung tay góp sức lại để chế ngự những trở ngại ấy. Đắp bờ hay đắp đập ngăn một ngọn sông, đào cái ao để trữ nước, tát nước lên cánh đồng lúa, ngăn chặn đạo tặc cướp phá ruộng vườn hay rào chắn ngăn thú dữ uy hiếp tính mạng, tài sản, …tất cả những công việc này đòi hỏi phải tập trung nhiều nhân lực và tài lực của cộng đồng. Đó là “lệ làng” của từng cụm dân cư mà mọi thành viên đều có nghĩa vụ thực hiện.

Vì là vùng đất mới khai phá, chưa hình thành một đơn vị hành chính, chưa xây cất được ngôi đình (thường được xây dựng gắn với một đơn vị hành chính) nên mọi việc trong cộng đồng người dân phải tự lo liệu lấy. Do đó, cần có nơi tụ tập, hội họp, bàn những chuyện chung. Mỗi cụm dân cư (sau này là xóm, ấp) họ chọn nơi cao ráo, thuận tiện đường tới lui, để xây một cái nhà tạm làm nơi hội họp. Về nguyên liệu, họ sử dụng vật dụng có sẵn tại chỗ như mây, tre, cây, lá.

Kiểu cách:

Kiểu cách cái nhà cũng đơn giản đúng như tên gọi, nó hình vuông, chỉ cần chôn 6 cây cột, gồm 2 cây cột cái, 4 cây cột hàng nhì, thả đòn dong, đòn tay, lợp lá, là xong. Nền nhà mỗi cạnh thường khoảng 4m. Sau này do nhu cầu có nơi nấu nướng, chất chứa một số vật dụng cần thiết, người ta làm thêm hai chái ở hai bên.

Ban đầu, nhà vuông không có vách vì không cất giữ thứ gì, nó chỉ là nơi hội họp bàn chuyện trong cộng đồng. Dần dần, do nhu cầu cất giữ một số vật dụng như: đồ phục vụ mai táng, dụng cụ cấp dưỡng và những vật dụng thờ cúng khác, người ta mới làm vách và hàng rào bao quanh khuôn viên. Sở dĩ gọi nó là “nhà vuông” là để phân biệt với nhà của từng hộ gia đình thường cất trên cái nền là hình chữ nhật. Theo thời gian, về mặt ngôn ngữ, cái nhà cất trên nền hình vuông ấy trở thành danh từ để chỉ cái nhà là tài sản chung của một cộng đồng. Vì vậy, trên đất Nam Bộ có rất nhiều nhà vuông như đã trình bày ở trên, như: Nhà Vuông Bình Nam, phường Tân An tỉnh Tây Ninh; Nhà Vuông ấp Tây xã Long Hựu tỉnh Tây Ninh; Nhà Vuông Tân Lạc Thành phố Hồ Chí Minh…


Nhà vuông buổi đầu chỉ đơn sơ được cất trên gò đất cao ráo. Tranh minh họa: Hữu Him.

Chức năng:

Mục đích ban đầu nhà vuông là nơi hội họp, bàn bạc chuyện làm ăn, mưu sinh trong cộng đồng. Việc hội họp này được tiến hành theo lệ kỳ, những khi cần thiết có thể họp đột xuất. Thông thường, những cuộc họp tiến hành sau mùa vụ hàng năm, người ta mang những sản vật mình làm ra đến nhà vuông cùng nấu nướng, ăn uống. Những dụng cụ bếp núc được mượn từ những hộ dân gần đó, xong rồi mang trả. Việc đóng góp này là tự nguyện, tùy lòng thành, có gì góp nấy, không quy định cụ thể mỗi hộ là bao nhiêu. Sau khi ăn uống xong, những vật phẩm còn lại họ phân chia nhau mang về nhà, không để lại thứ gì ở đó.

Khi cuộc sống dần khấm khá, người ta nghĩ đến việc mua sắm dụng cụ bếp núc và một số vật dụng phục vụ việc mai táng trong cộng đồng. Từ đó phát sinh việc cất giữ, và thế là phải làm vách ngăn thành những phòng kín có chốt khóa, song song đó làm hàng rào bảo vệ xung quanh khuôn viên.


Cổng của một nhà vuông còn tồn tại. Ảnh: Tư liệu năm 2025.

Vùng đất mới theo thời gian được cải tạo ngày càng thêm màu mỡ, trù phú, người dân dần được an cư, lạc nghiệp, có cuộc sống no đủ. Bấy giờ người ta mới nghĩ tới công ơn của người đầu tiên đến khai khẩn vùng đất này. Từ đó, có nhu cầu lập bài vị để thờ cúng, tưởng nhớ công ơn của những tiền nhân. Nhưng cái khó là, không có sách vở nào ghi chép họ tên người đầu tiên ấy trên những vùng đất mới này. Cho nên người ta gọi một cách chung chung là tiên sư. Có nghĩa là người thầy đầu tiên đến khai mở vùng đất mới, hướng dẫn cách thức làm ăn, sinh sống cho hợp với thiên nhiên. Chúng tôi có dịp đến khảo sát trực tiếp một số nơi, tất cả Ban Quản trị, Ban Quý tế của những nhà vuông hiện còn trên đất Nam Bộ, họ đều lắc đầu không biết họ tên cụ thể của đấng tiên sư mà mình đang thờ tên là gì. Trên các bài vị cũng ghi chung chung là tiên sư gắn liền với tên của cộng đồng dân cư ấy như: Tiên Sư ấp Bình Nam, Tiên Sư ấp Tây, Cung thỉnh Tiên Sư tọa vị. Ngoài ra không có văn tự nào ghi, khắc tên họ của vị tiên sư như những vị thần hoàng ở các đình, miễu.

Trong tâm thức của người dân Nam Bộ, tiên sư có hai nghĩa chính:

Thứ nhất, là ông tổ nghề, nguời có công truyền dạy các nghề nghiệp cho dân làng như: Thợ mộc, thợ rèn, thợ may, bốc thuốc, làm ruộng…


Bài vị Tiên Sư ấp Bình Nam. Ảnh tư liệu năm 1988.

先師邑平南: Tiên sư ấp Bình Nam.
神光耀千古: Thần quang diệu thiên cổ (Ánh sáng thần linh soi rạng ngàn đời).
聖恩保萬民: Thánh ân bảo vạn dân (Ơn Thánh che chở muôn dân).

Thứ hai, là người có công dạy chữ, dạy đạo lý ăn ở hợp thời hoặc là người có công khai mở vùng đất hoang sơ, lập thôn xóm sớm nhất ở đó.Tiên sư được thờ trong các nhà vuông thuộc diện thứ hai này.

Bên trong nhà vuông, ngoài bài vị tiên sư còn có những hoành phi, câu đối, nội dung ca ngợi công đức của tiền nhân. Có nơi sơn son thếp vàng, có nơi chỉ viết trên một tấm ván gỗ, nét chữ thô, mà hàng lối cũng không chuẩn, có lẽ thời bấy giờ người đọc và viết được chữ nho cũng còn hạn chế.

Việc họp mặt cuối mùa vụ diễn ra đều đặn mỗi năm, lâu dần rồi thành lệ. Nhưng công việc của mỗi gia đình khác nhau, người này rảnh thì người kia bận, do đó người ta thống nhất chọn một ngày nhất định trong năm để cúng tiên sư và tiện đó liên hoan sau khi công việc đồng áng xong xuôi. Lệ kỳ này cũng giống như lệ cúng đình khi cộng đồng dân cư đã xây cất được ngôi đình làng.

Dù sống trên vùng đất mới, mọi sinh hoạt đều phải thay đổi cho phù hợp với thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, nhưng trong lòng những lưu dân ấy vẫn nhớ về quê cha đất tổ. Những ngày hội hè, hát xướng ở quê xưa vẫn còn trong tiềm thức nhiều thế hệ. Do đó, lệ cúng bái tiên sư dần nâng lên thành ngày hội của từng cụm dân cư, sau này là xóm ấp.

Ở Nam Bộ không có bốn mùa rõ rệt, mà chỉ có hai mùa mưa và nắng. Người nông dân thuận theo quy luật mưa nắng ấy mà cày cấy, gieo trồng, để tận dụng nước trời mưa, bởi hầu hết đất bị ngập mặn hoặc khô hạn ở mùa nắng, chưa có công trình điều tiết tưới tiêu cho cây lúa nước (cây nông nghiệp phổ biến ở vùng đất này). Cho nên thông thường người ta chọn ngày hội của cộng đồng là vào thời điểm cuối mùa mưa cũng là lúc thu hoạch xong cây trồng hàng năm. Trong khi cúng bái lệ kỳ, người ta còn đề ra những cuộc vui chơi bằng việc hát bóng rỗi, hát bội, tặng chữ, cầu phúc lành cho nhau. Những việc này diễn ra để thỏa mãn nhu cầu vơi đi phần nào nỗi nhớ quê xưa, lâu dần thành lệ. Nhà vuông là nơi đáp ứng những nhu cầu ấy.


Bài vị thờ tiên sư ở Nhà Vuông Đức Hòa tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Tư liệu, chụp năm 2025.

恭請先師座位: Cung thỉnh tiên sư tọa vị (Kính thỉnh Tiên sư an tọa tại đây).

Sau khi thành lập đơn vị hành chính làng xã, người ta xây cất ngôi đình làng nhưng nhà vuông vẫn tồn tại song song với lễ hội cúng đình. Nó còn thêm chức năng nữa là, nơi truyền đạt thông báo của chính quyền, được xem như một thiết chế văn hóa cổ truyền của thôn, ấp trực thuộc làng, xã.

Có những nơi xây ngôi đình cạnh nhà vuông, người ta tạo khuôn viên của đình bao luôn cái nhà vuông ấy, lệ cúng đình có nơi trùng hoặc không trùng ngày với lệ cúng nhà vuông, nhưng việc cúng đình với cúng nhà vuông đều có những nghi thức riêng. Còn những nhà vuông khác trong làng thì vẫn giữ lệ cũ của từng xóm ấp.


Bên trong một nhà vuông. Ảnh: Tư liệu, chụp năm 2000.

Năm 1858, tiếng súng đầu tiên xâm lược của thực dân Pháp, triều đình Nhà Nguyễn lần lượt phải ký những hòa ước có lợi cho giặc. Đến ngày 06 tháng 6 năm 1884, khi hòa ước Patenôtre được ký kết xem như Nam Kỳ là thuộc địa chính thức của Pháp, từ đó những thiết chế văn hóa cũng bị thực dân gặm nhấm dần. Họ trưng dụng những nhà vuông làm điếm canh, có nơi phá bỏ kiến trúc cũ lấy nền xây đồn bót. Thậm chí là nơi triệu tập dân chúng đến, để ra một mệnh lệnh hành chính nào đó.

Có thể do quan sát nhà vuông ở thời điểm khi thực dân Pháp đã trưng dụng làm những việc có lợi cho họ, mà học giả Huỳnh Tịnh Của nhầm lẫn với mục đích ban đầu của nó khi cộng đồng dân cư xây dựng nên. Vì vậy mà trong cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị xuất bản năm 1896, quyển II, trang 566, cụ giải nghĩa: “Nhà vuông là: nhà làng, dỏ làng, xích hậu, nhà canh”.

Thực ra, theo các thư tịch cổ và khảo sát thực tế, loại hình nhà vuông đã có trước khi thực dân Pháp xâm lược một thời gian khá lâu, nó gắn liền với tiến trình mở cõi của những lưu dân người Việt.

Sau khi Nam Bộ thành thuộc địa của Pháp, tuy rằng chúng thay đổi chức năng của nhà vuông nhưng nhân dân vẫn gìn giữ những hoạt động ấy bằng cách này hay cách khác. Sau Hiệp định Genève, Pháp rút quân khỏi Việt Nam, nhà vuông được phục hồi trở lại chức năng ban đầu. Nhưng rồi kế tiếp chiến tranh Việt - Mỹ kéo dài hơn 20 năm, bom đạn cày đi, xới lại, tàn phá nặng nề, theo thời gian loại hình nhà vuông mai một dần.


Nhà Vuông Bình Nam, nơi duy nhất còn giữ những thiết chế cơ bản của buổi đầu. Ảnh: Tôn Thất Hùng (2024).

Sau ngày thống nhất đất nước, do yêu cầu sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính, cộng với việc lo toan khắc phục hậu quả chiến tranh, tất bật với cơm áo gạo tiền, nên nhà vuông dần xuống cấp, có nơi người ta trưng dụng làm trụ sở của tập đoàn sản xuất nông nghiệp hoặc kho chứa vật tư. Rất may, sau khi đổi mới, đời sống nhân dân dần cải thiện, việc khôi phục loại hình nhà vuông xưa được một số cộng đồng dân cư thực hiện. Nhưng qua khảo sát của chúng tôi, việc duy trì lễ hội, cúng bái theo nghi thức xưa cũng không nhiều. Điều phát sinh mới là, có nơi người ta đưa danh sách những mẹ Việt Nam anh hùng của xóm ấp và danh sách những liệt sĩ quê ở quanh vùng vào nhà vuông thờ bên hong bài vị của tiên sư. Bởi họ quan niệm rằng, tiên sư là người có công mở đất, còn những người kia có công giữ nước, trong đó có mảnh đất mà họ đang sống. Vì vậy, các vị này cũng đáng được tri ân, thờ cúng như nhau.


Nhà vuông tọa lạc cạnh đường cái quan. Ảnh: Tư liệu chụp năm 2000.

Trên đất Nam Bộ, những địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, An Giang là những nơi có người Việt định cư sớm, các nhà vuông ra đời nhiều hơn những nơi khác, nhưng chưa có con số thống kê cụ thể là hiện nay (năm 2026) nó được bảo tồn và đang hoạt động là bao nhiêu. Trong số những nhà vuông ấy, chỉ duy nhất nhà vuông Bình Nam tọa lạc ở khu phố Bình Nam, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh là còn giữ hầu như nguyên vẹn các nghi thức cúng bái, lễ hội hàng năm và đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Có thể đánh giá rằng, nhà vuông thờ Tiên Sư là một loại hình kiến trúc đặc thù, mang đậm tính cộng đồng. Nó còn là một biểu tượng văn hóa tâm linh quan trọng, khẳng định rằng người Nam Bộ dù đi khai phá vùng đất mới vẫn luôn mang theo bản sắc, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây” quý trọng tri thức và công ơn của người đi trước, cũng như những người có công với nước. Đây không chỉ là nơi thờ tự mà còn là một di tích sống động về quá trình khẩn hoang, quá trình mở đất và giữ đất. Một trang sử về hành trình đi mở cõi đáng được trân trọng giữ gìn đến ngày sau.

II. NHÀ DÀI

Nhu cầu

Chủ trương dinh điền dưới thời các chúa Nguyễn sau này là triều Nguyễn, là chính sách di dân lập ấp, khai thác đất hoang, mở rộng lãnh thổ, phát triển nông nghiệp. Loại hình Nhà Dài ra đời gắn liền với tiến trình mở cõi ở phương Nam, mà cụ thể là thực hiện chính sách dinh điền. Nó là một thực thể quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, với ý nghĩa bảo vệ và ổn định dân cư miền biên viễn. Loại hình nhà này có ưu điểm là, cư trú tập trung, dễ kiểm soát về nhân khẩu, dễ thu thuế và nhanh chóng huy động nhân lực.

Không như nhà vuông chủ yếu làm nơi hội họp và thờ cúng, nhà dài là để ở, nên có phên vách hẳn hoi dù rằng buổi đầu cũng đơn sơ. Và cũng vì buổi đầu, người ta không làm nhà riêng từng hộ gia đình mà cất chung nhiều căn hộ thành một dãy. Việc này vừa tiết kiệm đất nền, vừa tiết kiệm vật liệu. Nếu cất hai mươi căn hộ liền một dãy thì chỉ cần làm hai mươi mốt tấm vách ngăn. Mỗi khi giông bão cũng dễ chằng chống do có nhiều nhân lực cùng hợp sức. Mặt khác, nó còn tạo nên sức mạnh tập thể chống chọi với thú hoang và sự xâm hại của những cộng đồng khác.

Kiểu cách:


Nhà dài buổi đầu khi mới xuất hiện. Minh họa: Hữu Him.

Thông thường khái niệm nhà dài người ta nghĩ đến loại hình nơi sinh hoạt văn hóa của của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Nhà dài của người kinh ở Nam Bộ hoàn toàn khác về kiểu cách và công năng.

Những binh lính được phái tới vùng đất mới phải chia ra từng đơn vị nhỏ lẻ, trấn giữ, vì vậy cần có nơi ăn ở, khi có điều kiện thì đưa vợ con đến định cư lâu dài tính kế mưu sinh. Những lưu dân (chủ yếu từ miền Bắc và miền Trung) đến vùng đất mới chưa có điều kiện xây cất nhà cửa riêng, nhà nước có chính sách hỗ trợ nhà ở tập thể cho nhiều hộ gia đình. Những nhà ở tập trung như vậy ra đời đáp ứng nhu cầu nói trên. Vật liệu xây cất chủ yếu như gỗ, mây, tre, lá có sẵn tại địa phương. Mỗi nhà lợp hai mái trước, sau, chiều rộng khoảng tám đến mười mét, dài khoảng sáu mươi đến bảy mươi mét tùy theo diện tích đất nền cho phép xây cất. Dãy nhà được ngăn ra nhiều căn, mỗi căn rộng khoảng ba đến bốn mét có cửa sổ và cửa đi riêng. Địa điểm xây dựng thường là nơi ngã ba đường cái, ven sông rạch, thuận tiện việc đi lại và đặc biệt là gần nơi tọa lạc của “nhà việc”, sẽ đề cập ở phần sau. Mỗi nhà dài có khoảng năm đến bảy cái lu chứa nước mưa hoặc nước sông được lắng lọc để uống chung các hộ gia đình.

Cũng như nhà vuông, nhà dài được nhân dân đặt tên gọi theo hình dáng bên ngoài, vì nó “dài”, không giống những nhà của dân cư bản địa.

Chức năng:

Những căn nhà của cái nhà dài ấy được phân cho những hộ gia đình binh lính hoặc những dân phu mới đến có nơi ăn nghỉ như một dãy nhà tập thể. Quá trình sinh sống, những hộ gia đình cùng chung tay làm các công trình công cộng như, đắp bờ ruộng lúa, đào ao trữ nước… hay trùng tu, sửa chữa khi nhà bị hư, hại do thời tiết, thiên tai bão lũ. Việc cư ngụ tập trung còn thể hiện tinh thần cố kết cộng đồng, bởi buổi đầu nhân lực ít, ngoài việc chống chọi với thiên nhiên còn để đối phó với những lực lượng khác từ bên ngoài xâm nhập, cướp phá. Lực lượng quân lính thì nhanh chóng tập hợp khi có yêu cầu.

Khi đã mở rộng diện tích canh tác, có điều kiện về vật chất, những hộ gia đình ấy lần lượt tách ra, không còn ở trong các nhà dài nữa, họ xây cất nhà riêng, lập nên xóm ấp và trở thành người dân bản địa.

Khi xâm chiếm Nam Bộ, ngoài việc khai thác ruộng lúa ở miền Tây, Pháp còn khai thác những đồn điền cao su, cà phê… ở miền Đông. Lúc bấy giờ nhà dài được cải tiến như những cư xá làm nơi ở cho công nhân.

Khác với nhà dài truyền thống của dân tộc thiểu số là không gian văn hóa cộng đồng, những nhà dài trong đồn điền là biểu tượng cho cuộc sống cơ cực của người lao động. Hình ảnh những căn nhà thô sơ với bữa ăn đạm bạc được thể hiện trong những phim ảnh, trang tiểu thuyết, sự thiếu thốn đó đã phản ảnh khá đầy đủ hoàn cảnh của người dân Việt Nam thời Pháp thuộc. Những khu nhà này chỉ đơn thuần phục vụ mục đích khai thác sức lao động, hoàn toàn không có chức năng văn hóa hay tín ngưỡng như nhà dài truyền thống của người bản địa.


Phế tích nhà dài thời điểm 1970 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Tư liệu.

Trải qua nhiều thế hệ và biến thiên của thời cuộc, đời sống dần cải thiện, không còn ai sống trong những nhà dài ấy nữa. Nó trở thành nhà lồng chợ, nhà kho hoặc cải tạo thành nhà nguyện của tôn giáo. Cái tên nhà dài tồn tại chỉ là những địa danh của thôn, ấp, chợ, nơi nó tọa lạc mà thôi. Chúng tôi được biết, đầu thế kỷ XXI, trên đất Nam Bộ không còn cái nhà dài nào, chỉ còn lại những tên thôn ấp gắn với danh từ nhà dài như: xóm Nhà Dài, chợ Nhà Dài, ấp Nhà Dài…

Nhà dài là một loại hình kiến trúc mới, mang dấu ấn sâu sắc thời kỳ đầu của hành trình đi mở cõi. Nó được xây dựng lên với mục đích làm tiền đề cho sự khởi đầu an cư lạc nghiệp của người dân. Trong đó hàm ý cố kết cộng đồng rất cao để chống chọi với thiên nhiên, giữ vững miền biên viễn ở vùng đất mới. Trong thời Pháp thuộc, họ có những tác động đáng kể lên đời sống và văn hóa của người dân bản địa, nhưng các chức năng truyền thống của nhà dài vẫn được duy trì, mặc dù có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách khai thác và quản lý của chính quyền thực dân. Ngày nay dù chỉ còn trong ký ức, nhưng thiết nghĩ, cũng cần phải lưu giữ để các thế hệ mai sau hiểu được giá trị của nó mà ra sức giữ gìn thành quả của các thế hệ tiền bối đã dày công tạo dựng nên.

III. NHÀ VIỆC

Nhu cầu

Trước khi nhà việc ra đời, những công việc hành chính của thôn, ấp được diễn ra ở nhà vỏ (vỏ ca) của đình làng.

Xin lướt qua đôi điều về vỏ ca của đình làng. Có người nhầm vỏ ca là cái sân khấu để hát bội mỗi khi cúng đình. Thực ra, vỏ ca là cái nhà phía trước chánh điện của đình, trong không gian của cái nhà ấy có bàn ghế ngồi làm việc. Khi chuẩn bị lễ hội, người ta dọn dẹp bàn ghế sang hai bên, giành không gian chính giữa thành cái sân khấu để múa hát. Vì vậy, mục đích ban đầu người ta xây cất vỏ ca làm nơi để xử lý công việc hành chính, khi cần trở thành cái sàn diễn múa hát.

Khi thực dân Pháp đặt nền thống trị trên đất Nam Bộ, họ tách rời công việc hành chính ra khỏi đình làng, cất một cái nhà riêng với chức năng là nơi làm những công việc hành chính.

Khi nhà việc ra đời, người ta không còn xử lý công việc hành chính của làng, xã ở các vỏ ca của đình nữa, mà tiến hành những nội dung ấy ở nhà việc. Có lẽ sau khi có nhà việc người ta quan sát thấy vỏ ca chỉ để diễn ra xướng hát nên họ nghĩ vỏ ca là cái sân khấu!?. Đã có những cuộc tranh luận về từ “vỏ ca”, “võ ca”, “dỏ ca”, tên nào đúng?!. Theo tôi, “vỏ ca”, “võ ca” hay “dỏ ca” đều không đồng nghĩa với cái sân khấu và dĩ nhiên, không ai đúng cả.

Về tên gọi, nhà vuông và nhà dài người ta quan sát hình dáng bên ngoài mà đặt tên cho nó, còn nhà việc là đặt tên theo chức năng: “nhà làm việc”, gọi tắt là “nhà việc”. Như vậy, so với nhà vuông, nhà dài thì nhà việc ra đời sau cùng .

Kiểu cách

Nhà việc phát triển trên kiểu cách của nhà vuông có pha trộn kiến trúc của Tây phương. Tức là một cái nhà diện tích nền hình vuông, mái nhọn, xung quanh có nhiều chái theo kiểu: trùng thiềm, điệp ốc. Đây là lối kiến trúc đặc trưng của Việt Nam nói chung, nhưng có cải tiến theo cung cách xây cất nhà của phương Tây. Trùng thiềm có nghĩa là mái chồng lên mái, điệp ốc có nghĩa là nhà này nối liền nhà kia. Xét về kiến trúc, nhà việc được xây dựng kiên cố hơn nhà vuông và nhà dài, vật liệu bằng gỗ tốt, vách bổ kho, có nơi xây gạch, lợp ngói, phòng ốc ngăn nắp phù hợp với tiêu chí là nơi làm việc của cơ quan hành chính. Nơi xây cất nhà việc thông thường là gần ngôi đình (vì vốn trước kia đã chọn địa điểm thuận tiện) hoặc là chọn nơi đường cái quan, xe cộ dễ dàng lui tới.

Chức năng

Nhà việc ngoài là nơi xử lý công việc hành chính, nơi hội họp của các hương chức hội tề, còn là nơi cất giữ vật dụng quý giá của làng xã như Sắc phong thần và những vật có giá trị khác biểu tượng của cộng đồng thôn ấp. Những vật dụng này sau khi cúng bái tại đình xong được mang đến cất giữ tại nhà việc.

Nhà việc còn là địa điểm chính để họp bàn, chuẩn bị và điều hành các lễ hội truyền thống, các nghi lễ tín ngưỡng của làng. Khi có khách quý từ nơi khác đến, hay có quan trên về làng, nhà việc là nơi tiếp đón trang trọng. Ngoài ra còn là nơi tập hợp dân binh trước khi xuất hành làm một công việc gì đó hay là nơi xử phạt những người vi phạm lệ làng.

Khi thực dân Pháp rút khỏi nước ta (sau năm 1954), chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục sử dụng những nhà việc ấy làm trụ sở hành chính của cấp xã cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong chiến tranh lực lượng nào chiếm được trụ sở làng (xã) xem như đã làm chủ làng (xã) đó.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hầu hết Ủy ban Nhân dân Cách mạng của chính quyền mới đều chọn nhà việc làm nơi trụ sở của xã. Rất tiếc, sau đó hầu hết được đập phá kiến trúc cũ để xây mới hoặc di dời đi, có nơi bán nền cho tư nhân lập nên những phố bán buôn. Điển hình như nhà việc Bình Lập (xưa), tọa lạc ở phường Long An, tỉnh Tây Ninh, từ năm 1975 và nhiều năm tiếp theo được Ủy ban Nhân dân thị xã Tân An, tỉnh Long An (cũ), đặt trụ sở làm việc, nhưng sau đó đã hóa giá cho tư nhân xây nên phố chợ, hiện không còn dấu tích.

Cũng như nhà dài, hiện nhà việc cũng không còn tồn tại trên địa bàn của Nam Bộ, nó chỉ mang tên những địa danh như ấp Nhà Việc, chợ Nhà Việc, xóm Nhà Việc trong ký ức “những người muôn năm cũ”.

Các từ nhà vuông - nhà dài - nhà việc là những tên gọi dân dã, xuất hiện sớm trong quá trình người Việt khai hoang, lập ấp ở Nam Bộ. Những từ này được ghi chép đầu tiên trong trong cuốn sách “Văn minh vật chất của Người Việt” của học giả Phan Văn Hùm xuất bản năm 1940. Nó có điểm chung là, lần lượt ra đời gắn với tiến trình đi mở cõi. Điểm khác biệt cơ bản của ba loại hình nhà nêu trên là:

  • Nhà vuông: chủ yếu là để hội họp sau đó thành nơi thờ cúng, sinh hoạt cộng đồng.
  • Nhà dài: chủ yếu là nơi để ở.
  • Nhà việc: chủ yếu là nơi làm việc.

Chúng ra đời trong một giai đoạn và dần biến đổi thành một thực thể khác nối tiếp theo quá trình phát triển xã hội. Ngày nay, hầu hết chỉ là một dấu tích “vang bóng một thời” đi mở cõi. Nhưng phải khẳng định một điều rằng, những thiết chế văn hóa đó là đặc trưng của vùng đất đầy kỳ thú ở phương Nam này.

Chúng tôi trình bày ra đây nhằm thỏa mãn một phần thắc mắc của những bạn trẻ về ba loại hình nhà hiện chỉ còn tồn tại trong văn học, trong sách vở. Nó ra đời trong bối cảnh nhất định, rồi lần lượt mất đi, nhưng đó là dấu ấn của một thời kỳ, một khoảng không gian và thời gian trong dòng chảy lịch sử dân tộc trong tiến trình đi mở cõi./.

Nguyễn Hồng Vĩnh
2 tháng 10, 2026

Nguồn: Tác giả gởi.



free hit counter