Giai Thoại Xưa
Có những cuộc chia ly không chỉ là khoảng cách giữa hai con người, mà còn là khoảng cách của cả một thời cuộc. Câu chuyện của ông Trần Văn Dõi và người cha của mình, ông Trần Văn Hương, cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là một câu chuyện như thế.
Một người con đi theo Việt Minh, tham gia kháng chiến, từng có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Một người cha ở lại miền Nam, từng bước bước vào con đường chính trị, rồi trở thành một trong những nhân vật cao nhất của chính quyền Sài Gòn. Hai cha con, cùng chung một dòng máu, cùng sinh ra trên một đất nước, nhưng suốt gần 30 năm lại đi trên hai con đường hoàn toàn trái ngược.
Ông Trần Văn Dõi rời gia đình từ năm 1946 để ra Bắc học Trường Võ bị của Bộ Quốc phòng tại khu Việt Nam Học Xá. Khi ấy, ông còn là một thanh niên miền Nam trẻ tuổi, mang theo lý tưởng kháng chiến và niềm tin vào ngày đất nước được độc lập. Chỉ hai tháng sau, cuộc chiến bảo vệ Hà Nội mùa đông năm 1946 bùng nổ. Người thanh niên ấy đã đứng cùng đồng đội miền Bắc trên chiến lũy, làm xạ thủ đại liên bảo vệ khu Việt Nam Học Xá, chợ Hôm, phố Huế, phố Hàm Long.
Mùa xuân đầu tiên của ông ở Hà Nội không có sự sum họp gia đình, không có tiếng cười ngày tết, mà là khói lửa chiến trường. Sau khi rút ra chiến khu, ông tiếp tục được cử đi học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, rồi chuyển sang lớp công binh khóa đầu tiên. Cuối năm 1949, ông được kết nạp Đảng. Đến năm 1954, ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với nhiệm vụ Đại đội trưởng công binh C.57, Tiểu đoàn 206, thuộc Đại đoàn pháo binh 351.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, khi quân Pháp thất bại và rút khỏi Việt Nam, ông Trần Văn Dõi đã là đại úy, tiểu đoàn trưởng công binh. Sau đó, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, tổng cộng 21 năm mặc áo lính. Đến năm 1966, sau ba năm học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông chuyển về công tác tại Ban Công nghiệp Trung ương.
Trong khi người con ở miền Bắc đi qua chiến trường, học tập và công tác trong hàng ngũ cách mạng, thì người cha ở miền Nam cũng đi vào một con đường đầy biến động. Ông Trần Văn Hương vốn là một thầy giáo dạy văn chương và luận lý, quê ở Vĩnh Long. Sau này, ông rời quê lên Sài Gòn, từng mở tiệm thuốc tây, rồi tham gia hoạt động chính trị. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông làm Đô trưởng Sài Gòn nhưng từ chức vì bất đồng với ông Ngô Đình Diệm.
Năm 1960, khi đại tá Nguyễn Chánh Thi tiến hành đảo chính, ông Trần Văn Hương ủng hộ với lý do chống lại sự độc đoán của gia đình họ Ngô. Cuộc đảo chính thất bại, ông Hương cùng nhiều người bị bắt. Sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông Hương được tái nhiệm Đô trưởng Sài Gòn. Đến tháng 11 năm 1964, ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu chọn làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân lực. Về sau, ông tiếp tục giữ các chức vụ cao hơn, từ Phó Tổng thống rồi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong 7 ngày cuối tháng 4 năm 1975, trước khi trao lại quyền cho ông Dương Văn Minh.
Điều éo le là mãi đến năm 1968, qua tin tức trên đài phát thanh Hà Nội, ông Trần Văn Dõi mới biết cha mình đang giữ chức vụ quan trọng ở chính quyền bên kia vĩ tuyến. Tin ấy khiến ông trằn trọc nhiều đêm. Cuối cùng, ông quyết định báo cáo cấp trên. Trong hồi ký, ông ghi ngày 10 tháng 6 năm 1968, ông nhờ tìm cách gặp ông Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, để báo cáo sự việc. Ông Khiêm tiếp ông rất thân tình, dặn ông giữ bí mật và cho biết sẽ báo cáo trực tiếp với ông Phạm Văn Đồng và ông Lê Duẩn.
Từ đó, câu chuyện về người cha đặc biệt của ông Trần Văn Dõi được giữ kín trong phạm vi cần thiết. Thỉnh thoảng, ông Ung Văn Khiêm lại gọi ông lên hỏi thăm, dặn dò không được nói chuyện này với những người không có trách nhiệm. Đến tháng 10 năm 1972, Bộ Nội vụ yêu cầu ông viết thư cho cha, báo tin rằng ông vẫn còn sống, đã có vợ con, được học hành và công tác. Lá thư được gửi đi theo một con đường đặc biệt, nhưng ông không biết cha mình có nhận được hay không, và cũng không bao giờ nhận được hồi âm.
Sau này, khi đất nước thống nhất, ông có hỏi cha về lá thư ấy. Ông Trần Văn Hương chỉ im lặng. Có lẽ đó là sự im lặng của một người cha mang quá nhiều điều khó nói với người con từng ở phía bên kia chiến tuyến.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin chính quyền Sài Gòn đầu hàng, ông Trần Văn Dõi ghi trong hồi ký rằng cả nước vui mừng vì chiến tranh đã kết thúc, hết cảnh mất mát, hết chia ly. Ông nghĩ rồi đây sẽ được gặp lại người thân, được gặp mẹ sau gần 30 năm xa cách. Nhưng ông không biết rằng mẹ ông đã qua đời từ ngày 30 tháng 12 năm 1974, chỉ vài tháng trước ngày thống nhất. Người mẹ ấy đã chờ con suốt gần 30 năm, nhưng cuối cùng không kịp nhìn thấy con trở về.
Sau ngày hòa bình, nhiều người miền Nam tập kết ra Bắc như ông đều mong ngóng ngày hồi hương. Nhưng vì công tác, ông chưa thể về ngay. Vợ ông, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung, cũng là người Bến Tre tập kết ra Bắc năm 1954, được về Nam trước cùng con trai. Khi lần đầu gặp con dâu và cháu nội, ông Trần Văn Hương đã rất xúc động. Lúc đó ông đã già yếu, bệnh tật nhiều.
Mãi đến tháng 12 năm 1975, ông Trần Văn Dõi mới được nghỉ phép vào Nam sau 29 năm xa cách. Trước khi về gặp cha, ông thực hiện chỉ đạo là đến báo cáo với Trung ương Cục. Trong hồi ký, ông ghi ngày 15 tháng 12 năm 1975, lúc 10 giờ, ông về gặp cha. Ông thấy cha mình đã già yếu hơn rất nhiều, bệnh tật, dáng vẻ không còn như trong ký ức. Hai cha con xúc động lắm, nhưng không ai khóc. Có lẽ nước mắt đã chảy hết vào trong suốt gần 30 năm chia cắt.
Sau đó, ông cùng vợ con đi thăm mộ mẹ. Bà con hai bên đến thăm chật nhà. Đặc biệt, ông già vợ của ông Dõi và ông Trần Văn Hương, hai người sui gia, đến lúc ấy mới được gặp mặt nhau. Gần 30 năm dâu bể, một gia đình mới thật sự có được bữa sum họp muộn màng.
Tết năm 1976 là cái tết đầu tiên sau gần ba thập kỷ, ông Trần Văn Dõi được ăn tết cùng cha. Dù cuộc sống khi ấy còn nhiều khó khăn, vợ chồng ông vẫn gói bánh tét, làm mâm cúng mẹ để làm vui lòng người cha già. Trong bữa cơm, ông Trần Văn Hương vui cười bên con cháu. Nhưng sau đó, ông lại lặng lẽ bắc ghế ngồi một mình, nhìn ra đường, như đang nghĩ về những năm tháng đã mất, những điều đã qua và những điều không bao giờ còn lấy lại được.
Đến tháng 2 năm 1976, ông Dõi phải chia tay cha để trở ra Hà Nội. Lần này, ông Trần Văn Hương không kìm được nước mắt. Ông sợ rằng tuổi già và bệnh tật sẽ không cho ông thêm cơ hội gặp lại con trai. Nhưng may mắn thay, từ đó về sau, năm nào ông Dõi cũng về Nam ăn tết với cha.
Năm 1978, ông Trần Văn Dõi được ông Lê Đức Thọ gọi lên hỏi thăm tình hình gia đình và tình trạng của ông Trần Văn Hương. Vài ngày sau, ông được tăng hai bậc lương và chuyển hẳn về Nam để có điều kiện chăm sóc cha trong những năm cuối đời. Trước khi ông Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ông Dõi cũng đã nghỉ hưu từ năm 1981 để được gần gũi cha nhiều hơn.
Câu chuyện của ông Trần Văn Dõi và ông Trần Văn Hương không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình. Đó còn là lát cắt rất đặc biệt của lịch sử Việt Nam, nơi chiến tranh đã chia đôi không chỉ đất nước, mà còn chia đôi cả những mái nhà, những tình thân, những phận người.
Một người con ra đi hai bàn tay trắng, trở về khi đất nước liền một dải. Một người cha từng đứng ở phía bên kia thời cuộc, cuối đời lại chỉ mong được gặp con, được sống những ngày còn lại trong tình thân gia đình.
Lịch sử có thể ghi tên họ ở hai phía khác nhau, nhưng sau tất cả, giữa họ vẫn là tình cha con. Và có lẽ chính điều đó mới khiến câu chuyện này trở nên xúc động nhất.


