Nguyễn Tuấn Khanh
Trên các diễn đàn mạng xã hội, câu chuyện kể rằng Giáo sư Trần Văn Khê đã phản biện một vị Thủy sư Đề đốc Pháp tại Hội Truyền bá Tanka (Paris) được chia sẻ khá rộng rãi và thường được xem như một biểu hiện của niềm tự hào dân tộc. Theo giai thoại này, vị Đề đốc Pháp chê văn học Việt Nam “không có áng văn nào đáng kể”, và Giáo sư Khê đã đáp lại bằng cách dẫn chứng bài văn bốn chữ “Nhất” của Mạc Đĩnh Chi để khẳng định giá trị văn hiến của dân tộc và tài năng của tiền nhân.
Dù câu chuyện đó thực sự do Giáo sư Trần Văn Khê kể lại hay được lưu truyền qua những cách thuật lại làm nổi bật tài năng và sự uyên bác của ông, thì dưới góc nhìn học thuật, câu chuyện này vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần được xem xét, từ cách ứng xử trong một diễn đàn văn hóa quốc tế đến tính xác thực của các chi tiết lịch sử.
Nếu nhân vật được nhắc đến trong giai thoại thực sự là một cựu Thủy sư Đề đốc Pháp từng giữ vai trò chỉ huy trong quân đội và tham dự một diễn đàn văn hóa quốc tế tại Paris, thì phát biểu được gán cho ông cũng cần được kiểm chứng bằng những nguồn tư liệu cụ thể. Xét về phương diện ứng xử ngoại giao, một nhân vật giữ vị trí như vậy thường được kỳ vọng là người có địa vị, có học thức và hiểu biết những nguyên tắc căn bản trong giao tiếp giữa các nền văn hóa.
Trong các diễn đàn văn hóa và học thuật quốc tế, khi giới thiệu một nền văn hóa (trong trường hợp này là thơ Tanka của Nhật Bản), người ta thường tập trung làm nổi bật những giá trị của đối tượng được giới thiệu. Việc một diễn giả đứng trước một cử tọa đa quốc gia để hạ thấp hoặc phủ nhận nền văn học của một quốc gia khác thường không phù hợp với tinh thần tôn trọng và trao đổi học thuật giữa các nền văn hóa. Những ý kiến phê bình trong các cuộc trao đổi chuyên môn thường được trình bày qua sự đối thoại có lý lẽ, dựa trên tinh thần tôn trọng đối với đối tượng được đề cập. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở câu chuyện đối đáp này, mà còn ở bài văn được dùng để chứng minh cho “áng văn nước Việt”. Bài văn được nhắc đến trong câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi là:
“Thanh thiên nhất đóa vân / Hồng lô nhất điểm tuyết / Thượng uyển nhất chi hoa / Dao trì nhất phiến nguyệt...”
Theo một số ghi chép trong thư tịch Hán học, có thuyết cho rằng bài văn bốn chữ “Nhất” này có liên hệ với thời Bắc Tống và gắn với tên tuổi Tiến sĩ Dương Ức qua câu mở đầu “Vu Sơn nhất đóa vân...”. Tuy nhiên, thuyết này được ghi lại trong các thư tịch đời sau và cần được xem xét thông qua việc đối chiếu nhiều nguồn tư liệu khác nhau, bởi các tài liệu hiện có chưa cho phép xác định một cách chắc chắn nguồn gốc ban đầu của bài văn.[1]. Đến năm 1755 (thế kỷ XVIII), khi soạn cuốn dã sử Công dư tiệp ký, tác giả Vũ Phương Đề đã ghi lại giai thoại cho rằng trong chuyến đi sứ nhà Nguyên, Mạc Đĩnh Chi đã ứng đối bằng bài văn bốn chữ “Nhất”, qua đó ca ngợi tài trí của vị Trạng nguyên nước ta[2]. Giai thoại này cũng cần được xem xét thận trọng dưới góc độ văn bản và sử liệu, bởi những câu chuyện truyền tụng luôn đòi hỏi sự đối chiếu với các nguồn tư liệu lịch sử khác.
Một điểm đáng lưu ý khác trong câu chuyện này là việc Giáo sư Trần Văn Khê được cho là đã sử dụng một bài văn chữ Hán theo thể ngũ ngôn, thuộc truyền thống văn chương Hán học, với những điển tích như “Dao trì” (nơi ở của Tây Vương Mẫu) để làm dẫn chứng cho giá trị của văn học nước ta. Tuy nhiên, cần nói rõ rằng vấn đề không nằm ở việc tác phẩm sử dụng Hán văn hay có điển tích Trung Hoa. Chữ Hán và các thể loại văn chương Hán học từng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam suốt nhiều thế kỷ. Điều cần xem xét là nguồn gốc của văn bản và cách nhìn nhận giá trị của một tác phẩm khi giới thiệu văn học Việt Nam trước công chúng quốc tế.
Bởi lẽ, trong khi thơ Tanka được xem là một biểu tượng của truyền thống văn học Nhật Bản, thì câu chuyện này lại cho rằng Giáo sư Trần Văn Khê đã dùng một bài Hán văn được cho là có nguồn gốc từ Trung Hoa để làm dẫn chứng cho giá trị văn học Việt Nam. Nếu có những học giả am hiểu văn học cổ điển Trung Hoa hiện diện trong buổi hội thảo, họ có thể đặt vấn đề về nguồn gốc của văn bản này. Lúc đó, câu chuyện không những khó làm nổi bật những nét đặc sắc trong truyền thống văn hóa dân tộc mà còn dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa một tác phẩm từng được tiếp nhận trong đời sống văn học nước ta với một sáng tác thực sự do người Việt tạo ra. Ngoài vấn đề về xuất xứ của văn bản, câu chuyện Mạc Đĩnh Chi ứng tác bài văn này cũng cần được xem xét dưới góc độ sử liệu.
Việc Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang nhà Nguyên và ứng khẩu đọc bài văn bốn chữ “Nhất” hiện được xem là một giai thoại được lưu truyền trong dân gian và được ghi lại trong một số sách dã sử về sau. Sự kiện này không được ghi nhận trong những bộ chính sử quan trọng như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[3]. Do đó, việc sử dụng một câu chuyện chưa được xác nhận đầy đủ về mặt lịch sử, lại gắn với những điển tích thuộc truyền thống văn học Hán học, làm dẫn chứng cho một nhận định trong một diễn đàn mang tính học thuật quốc tế là điều cần được xem xét thận trọng, bởi tính xác thực của câu chuyện có thể bị đặt vấn đề.
Niềm tự hào dân tộc không nên được xây dựng trên những giai thoại được thêu dệt, cường điệu hoặc những sự nhầm lẫn về lịch sử và văn hóa. Dù câu chuyện được lưu truyền với mục đích nào, điều quan trọng vẫn là giữ thái độ tỉnh táo và tôn trọng sự thật, để có thể phân biệt giữa những câu chuyện mang tính truyền tụng và những sự kiện đã được kiểm chứng.
Một nền văn hóa chỉ thực sự vững mạnh khi được nhìn nhận bằng sự khách quan, hiểu biết và lòng tự trọng, chứ không cần dựa vào những câu chuyện được lý tưởng hóa hoặc những câu chuyện chưa có đầy đủ căn cứ lịch sử.
Nguyễn Tuấn Khanh
San Jose, ngày 15 tháng 7 năm 2026<
──────
Chú thích:
[1] Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục Hà Nội, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007, trang 525, (mục “Tùng đàm”), ghi lại thuyết cho rằng bài văn bốn chữ “Nhất” (“Vu Sơn nhất đóa vân...”) có liên hệ với Dương Ức đời Bắc Tống; thuyết này cũng được dẫn từ các thư tịch Trung Hoa như Thuyết phu tùng thuyết.
[2] Vũ Phương Đề (thế kỷ XVIII), Công dư tiệp ký 2, Saigon, Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản, 1962, trang 108: Tác phẩm dã sử ghi lại giai thoại kể rằng Mạc Đĩnh Chi đã ứng đối bằng bài văn bốn chữ “Nhất” trong chuyến đi sứ nhà Nguyên.
[3] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Kỷ nhà Trần): Không thấy ghi chép sự kiện Mạc Đĩnh Chi đọc điếu văn bốn chữ “Nhất” trong chuyến đi sứ năm 1308.
NGUỒN THAM KHẢO:
|
CÂU CHUYỆN VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ: Tha Thứ Không Có Nghĩa Sẽ Quên Năm 1964, Giáo sư Trần Văn Khê được mời dự buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản, tổ chức tại Paris (Pháp). Tham dự hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy chỉ mình ông là người Việt. Diễn giả hôm đó là một cựu Thủy sư Đề đốc người Pháp đã mở đầu bài thuyết trình bằng câu: “Thưa quý vị, tôi là Thủy sư Đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy một rừng văn học, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm với chỉ 31 âm tiết. Chỉ hai điều này thôi, các nước khác không dễ có được…” Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Khi đến phần giao lưu, ông xin phép được bày tỏ: “Thưa Ông Thủy sư Đề đốc, ông nói rằng ông đã ở Việt Nam cả 20 năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Chẳng biết khi ngài qua Việt Nam, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của nước Việt? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm 1300 sách báo về văn chương Việt Nam mà giáo sư đã in trên Tạp chí Viễn Đông Bác cổ của Pháp. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông ấy đã cất công sưu tập… Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một mà có đến hàng vạn áng văn kiệt tác… Giáo sư Trần Văn Khê tiếp tục chia sẻ với giọng nói nhã nhặn: “Ngài nói trong thơ Tanka, chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà ta được bao nhiêu tình cảm. Tôi chỉ là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với kiến thức văn chương học thời trung học cũng đủ để trả lời ngài: Việt Nam có câu: Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Trai gái thường mượn hoa lá để bày tỏ tình cảm. Còn về số âm tiết, tôi nhớ sử Việt Nam chép rằng ông Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc) gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền: “Thanh thiên nhất đóa vân Nghĩa là: Một đám mây giữa trời xanh Khi Giáo sư Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông Thủy sư Đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam”. Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”. Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phát dùng tiếng Anh, đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”. Câu chuyện nhiều cảm hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể giữ gìn tôn nghiêm của dân tộc. Khánh Thy (St) Nguồn: https://vietnameuropa.eu/cau-chuyen-ve-giao-su-tran-van-khe-tha-thu-khong-co-nghia-se-quen-1552/ |


