Nguyễn Tuấn Khanh
1. Năm Nghĩa và câu chuyện Vọng cổ nhịp 8
Trong một chương trình truyền hình về Đờn ca Tài tử năm 2003, ban tổ chức đặt một câu hỏi: “Bài vọng cổ nhịp 8 do Năm Nghĩa ca lần đầu tên gì, và tên thật của Năm Nghĩa là gì?” Thí sinh trả lời: Văng vẳng tiếng chuông chùa và Lư Hòa Nghĩa. Giáo sư, nhạc sĩ Tô Vũ, Trưởng ban cố vấn, xác nhận: “Chính xác”.[1]
Câu hỏi tưởng như quá dễ, vì câu chuyện này đã được phổ biến rộng rãi, nhắc lại trong nhiều tài liệu về sân khấu và cổ nhạc miền Nam, lâu dần hầu như trở thành một điều đương nhiên. Nhưng một câu chuyện được kể đi kể lại nhiều lần chưa chắc đã là một sự thật lịch sử.
Không rõ câu chuyện về Năm Nghĩa và bài Vọng cổ nhịp 8 có từ bao giờ, chỉ thấy được phổ biến khá rộng rãi sau khi Trần Thuận đăng trên Xưa & Nay, số 61B, năm 1999, bài “Bản Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên ở Nam bộ”. Theo bài viết, Năm Nghĩa mê bài Dạ cổ hoài lang từ nhỏ và nảy ra ý định kéo dài mỗi câu thành tám nhịp. Trong một đêm mưa năm 1934, tiếng chuông chùa Vĩnh Phước An đã gợi cảm hứng cho ông sáng tác bài Vọng cổ nhịp 8 gồm 20 câu, đặt tên là “Văng vẳng tiếng chuông chùa”. Trần Thuận kết luận:
“Kể như bài Văng văng tiếng chuông chùa đã mở đầu cho kỷ nguyên Vọng cổ Nam bộ, nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa là người tiên phong mở ra cho Vọng cổ một hướng đi đúng đắn.”[2]
Như vậy, qua bài viết của Trần Thuận, Năm Nghĩa là tác giả bài ca Văng vẳng tiếng chuông chùa và bản đờn Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên, mở đầu cho kỷ nguyên Vọng cổ. Bài viết kể khá chi tiết, nhưng không cho chúng ta biết rõ về xuất xứ.
Sau đó không lâu, một tác giả khác ở Bạc Liêu là Trần Phước Thuận tiếp tục xác nhận Năm Nghĩa là người sáng tác bài Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên có tên là Văng vẳng tiếng chuông chùa, được thu vào dĩa Béka khoảng năm 1935, mở đầu cho kỷ nguyên Vọng cổ; tên “Vọng cổ” là do Trịnh Thiên Tư đề nghị vào năm 1935.[3] Những chi tiết này được nhắc lại nhiều lần và ngày càng trở nên quen thuộc.
Câu chuyện bắt đầu chuyển hướng khi nhà báo Thiện Mộc Lan, bút hiệu của Đinh Công Thanh, đăng bài trên hai tạp chí Sân Khấu[4] và Xưa & Nay[5]. Ông cho biết đã sưu tầm được bộ dĩa ASIA có bài ca mở đầu bằng câu “Văng vẳng tiếng chuông chùa”, nhưng nhãn trên dĩa ghi tựa là “Vì tiền lỗi đạo”, trùng với tên bài ca trong mẫu quảng cáo của hãng ASIA trên báo Mai số 20, ngày 22-1-1938. Ông cũng thuật lại lời của nhà báo Tô Yến Châu kể rằng Năm Nghĩa cho biết ông đã thu bài vọng cổ này cho ASIA vào cuối năm 1937.[6]
Từ đó, khi đọc những bài của Trần Phước Thuận[7] viết về sau, chúng ta càng thấy câu chuyện được kể thêm nhiều chi tiết như Năm Nghĩa có người dạy, người cổ vũ, người xác nhận, có cảnh mưa, tiếng chuông chùa, buổi đờn ca... Một câu chuyện ban đầu khá đơn giản, qua nhiều lần kể lại, dần được bồi đắp, thêm nhiều tình tiết giống như một giai thoại. Tên bài ca cũng được xác định lại là Vì tiền lỗi đạo theo tài liệu của Thiện Mộc Lan, do hãng ASIA phát hành năm 1938, nhưng tác giả và người sáng tác đầu tiên vẫn là Năm Nghĩa.
Đến nay đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ khi Trần Thuận kể lại câu chuyện vào năm 1999. Sau đó, Trần Phước Thuận tiếp tục bổ sung nhiều chi tiết và phổ biến rộng rãi nhưng không đưa ra chứng cứ cụ thể. Qua nhiều lần thuật lại và cung cấp thêm tư liệu, câu chuyện dần được xem như một sự kiện lịch sử đã được xác định. Tuy nhiên, trên phương diện nghiên cứu, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên trở về với những tư liệu đương thời của thập niên 1930, dò theo những dấu vết còn sót lại để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của bản Vọng cổ, ngõ hầu nhìn lại và đặt những đóng góp của tiền nhân vào đúng vị trí trong lịch sử.
Hình 1. Báo Mai số 20 ngày 22-1-1938 quảng cáo dĩa Asia “Vì tiền lỗi đạo”.
2. “Vọng cổ” có từ bao giờ?
Về hai chữ “Vọng cổ”, ông viết: “Trong lễ giỗ Tổ cổ nhạc Bạc Liêu năm 1935, soạn giả Trịnh Thiên Tư đề nghị gọi bản ‘Dạ cổ hoài lang nhịp 8’ là ‘Vọng cổ’ và dân mộ điệu khắp nơi nhận thấy bài ca đó có xuất xứ ở Bạc Liêu nên gọi là ‘Vọng cổ Bạc Liêu’.” Không rõ ông đã tham khảo từ đâu để đưa ra lời xác nhận này, nhưng hiện nay chúng ta có thể tìm thấy trên báo Phụ Nữ Tân Văn, số 125, ngày 31-3-1932, một bài viết liên quan đến hai chữ “Vọng cổ”.
Trong bài “Cái nạn Vọng cổ hoài lang”, tác giả Lê Xuân viết: “Tôi nghe nói sửa bản Vọng-cổ ra nhịp tám là cái công của mấy nhà tài-tử danh tiếng ở Bạc-liêu. Nhưng truyền ra cho tài-tử khắp miền Nam là nhờ ở cái cuống họng tài-tình xưa nay chưa hề thấy của cô Phùng-Há.” Ông viết tiếp: “Cái ảnh-hưởng của ‘Vọng-cổ Phùng-Há’, ‘Vọng-cổ Bạc-liêu’ giữa tài-tử lại không phải là ít. Có một hôm, gần bên nhà tôi có bày ra một cuộc đờn địch. Người quen ở gần mời tôi qua đờn tranh giúp vui. Đố các bạn độc-giả họ đờn những bản gì? – Tây-thi, Cổ-bản, rồi Vọng-cổ, Xuân-nữ, rồi Vọng-cổ, rồi Vọng-cổ, cứ Vọng-cổ, thế tôi phát chán.”
Riêng về năm ra đời và tác giả của Vọng cổ nhịp 8 và bài ca Văng vẳng tiếng chuông chùa (Vì tiền lỗi đạo) thì phức tạp hơn, vì tư liệu về hai vấn đề này hầu như không có, phần lớn câu chuyện chỉ được truyền lại qua lời kể, nên khó xác định.
Trên Nam Kỳ Tuần Báo số 45, ra ngày 29-7-1943, trong bài “Công kích bài Vọng cổ”, nhà báo Công Minh cho chúng ta thêm một chi tiết khá thú vị. Ông cho biết người mở nhịp bài Dạ cổ hoài lang là... Nhạc Khị, nhưng cũng nói rõ là “chưa chắc”. Còn người đem bản vọng cổ nhịp 16 lên Sàigòn lần thứ nhất cũng tên là Năm, nhưng là... Năm Đại – Triệu Trường Đại. Ông viết:
“Bản “Vọng cổ” hồi mới ra đời, là nhịp tám bắt đầu có bài ca “Từ phu tướng...” ấy.
Nhưng sau đó không lâu thấy cái bản hay như thế mà ít chữ quá, một vị tài tử có tiếng ở Bạc-liêu – người ta nói ông tổ đó là ông Nhạc-Khị, nhưng tôi chưa chắc – sửa lại ra 16 nhịp. Nghĩa là cái bản ấy, người đã kéo dài nó ra xấp hai. Bản “Vọng cổ” 16 nhịp đem lên Saigon lần thứ nhứt vào năm 1930 thì phải, do một nhạc sĩ tài hoa, son trẻ là M. Triệu Trường Đại tục danh là thầy Năm Đại.
Bản “Vọng-cổ hoài lang” sửa đổi ra 16 nhịp theo ai biết đờn cũng đều nhìn nhận là vừa lắm. Nó chỉ dài như thế là hay lắm rồi.”
Như vậy, các mốc 1930 và 1932 đều đã được báo chí ghi nhận, tức là trước khi Trần Phước Thuận đưa ra việc Trịnh Thiên Tư đặt tên cho “Vọng cổ” vào năm 1935. Qua đó, lời lên tiếng của nhà báo Thiện Mộc Lan càng đáng lưu tâm: “Văng vẳng tiếng chuông chùa (tên thật Vì tiền lỗi đạo) là bản vọng cổ nhịp 8 đầu tiên ở Nam bộ, qua ông Trần Phước Thuận đã phủ định công lao của các soạn giả bậc thầy như Nguyễn Thành Châu, Trần Hữu Trang cùng nhiều vị tiền bối khác. Chữ ‘bậc thầy’ ở đây tôi muốn nhấn mạnh: Nguyễn Thành Châu, Trần Hữu Trang, Mộng Vân (Trần Tấn Trung) đều là thầy của danh ca Năm Nghĩa.”
Chúng ta cũng có thể tra cứu thêm trên Gallica, thư viện số của Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France – BnF), theo tên những nhân vật “tiền bối” mà nhà báo Thiện Mộc Lan đã nêu, qua đó có thể thấy khá nhiều tài liệu mang tên “Vọng cổ” hoặc “Vọng cổ Bạc Liêu” . Từ năm 1925, đã thấy xuất hiện những cách gọi này trong các bổn tuồng cải lương, trên sách báo, các cuốn bài ca, ở tựa đề hoặc ngoài bìa.
Hình 2. “Vọng cổ” và “Vọng cổ Bạc Liêu” in trên sách được nộp lưu chiểu ngày 6-6-1933 tại Sàigòn.
|
Theo Trần Phước Thuận, Trịnh Thiên Tư đặt tên “Vọng cổ” và “Vọng cổ Bạc Liêu” vào ngày giỗ Tổ 12 tháng 8 âm lịch năm 1935, tức thứ Hai, 9-9-1935. Như vậy, qua xác định của Trần Phước Thuận, việc đặt tên này xảy ra hai tháng sau khi cuốn truyện được in. Nói cách khác, Trần Phước Thuận cho là Trịnh Thiên Tư đã... “đạo văn”! |
3. Từ nhịp 4 đến nhịp 8
Cũng xin lưu ý là trong những tài liệu viết về vọng cổ trước đây, cách tính và ghi nhịp có khi không giống nhau. Theo nhạc sĩ Kiều Tấn, một bài vọng cổ nhịp 8 có thể được thực diễn theo nhịp 8 lơi hoặc 16 thúc, nên có khi được ghi tắt là nhịp 16.[8] Do đó, khi tra cứu sách báo cũ, nếu gặp một bài ghi là “nhịp 16”, chúng ta cần xét thêm niên đại, cấu trúc và cách diễn, không nên chỉ căn cứ vào con số đó mà kết luận. Sự không thống nhất trong cách ghi nhịp cũng đã có nhà báo Nam Tinh Tử than phiền: “Có một bài vọng-cổ mà kẻ nhịp tám, người nhịp tư, kẻ Saigon, người Bạc-liêu, không nhứt luật thì có nên đáng nên hình gì được.”[9]
Nhạc sĩ Kiều Tấn giải thích, vọng cổ được mở nhịp dần qua sự thay đổi trong cách viết lời, cách ca và cách đờn, trong đó nhạc sĩ chêm thêm chữ đờn và cùng với nghệ sĩ, soạn giả từng bước kéo giãn nhịp. Ở Vọng cổ nhịp 8, câu chầu cũng phát triển từ câu nhồi của Vọng cổ nhịp 4.[10]
Theo bước chân của Triệu Trường Đại cùng bản Vọng cổ nhịp 16 (tức nhịp 8 theo cách tính hiện nay) lên Sàigòn khoảng năm 1930, qua các cuốn Bản đờn và Bản đờn & Bài ca của Huỳnh Hà in năm 1932-1935, chúng ta có thể hình dung được phần nào quá trình bản đờn này được truyền bá và hoàn chỉnh dần. Trong bản đờn Vọng cổ nhịp 4 năm 1932 đã có câu nhồi và cách xử lý chữ đờn rõ ràng. Qua năm 1933, cách phân lớp, cách ca và cách đờn tiếp tục có những dấu hiệu phát triển rõ rệt. Đáng chú ý là những chú thích của nhạc sĩ Huỳnh Hà hướng dẫn cách ca và đờn, cho thấy người học ca và đờn không chỉ đơn thuần thực hiện theo những chữ nhạc được chép sẵn, mà cách thực hành bản đờn lúc này đã bắt đầu biến đổi, dần thoát ra khỏi nhịp 4 truyền thống.
Đặc biệt trong những năm 1930–1935 có rất nhiều tuồng cải lương, bản đờn và bài ca vọng cổ của Huỳnh Thủ Trung, Nguyễn Thành Châu, Huỳnh Hà, Lê Văn Tiếng, Ngô Vĩnh Khang, Nguyễn Bá Thời, Nguyễn Thành Long... nhưng đáng chú ý nhất có lẽ là khoảng năm 1932, khi báo chí liên tục đem tài năng ca vọng cổ của cô Phùng Há và cô Năm Phỉ ra so sánh, tạo thành một cuộc “so tài bất đắc dĩ” giữa hai cô. Đồng thời, soạn giả kiêm nhạc sĩ Huỳnh Hà đã cho phát hành một loạt các cuốn bài ca với tựa đề “Vọng cổ Cô Phùng Há”. Có lẽ “phong trào” này cũng đã góp phần vào quá trình phát triển từ Vọng cổ nhịp 4 lên nhịp 8.
4. Vì tiền lỗi đạo hay “Văng vẳng tiếng chuông chùa”?
Nguyên bổn bài ca Văng vẳng tiếng chuông chùa, được Trần Thuận và Trần Phước Thuận khẳng định là do Năm Nghĩa sáng tác năm 1934, nay có thể tìm thấy trong cuốn Vọng cổ Ban Tài Tử 1, do Phạm Văn Thình ấn hành cho hãng dĩa Asia, ký nộp lưu chiểu ngày 11-4-1938, với dòng quảng cáo ngoài bìa: “Vị nào mua dĩa hát tại bổn hiệu sẽ tặng cho một cuốn bài ca”. Cuốn này gồm 5 bài vọng cổ: Vì tiền lỗi đạo (với câu đầu là “Văng vẳng tiếng chuông chùa”), Gió bấc lạnh lùng, Thân tôi có chồng, Điên đảo vì tình và Nặng gánh nợ đời.
Thiện Mộc Lan đã từng đặt câu hỏi: “Trong đợt phát hành đầu tiên gồm 7 dĩa, nếu theo Trần Phước Thuận, chỉ có bộ ‘Vì tiền lỗi đạo’ (tức Văng vẳng tiếng chuông chùa) là do Năm Nghĩa sáng tác, thì sáu bộ còn lại do ai sáng tác?”[11] Ông cũng đặt vấn đề về Ngô Văn Mạnh, một cây bút tiền bối của ca nhạc tài tử và sân khấu cải lương buổi khai nguyên, cùng thời với Trương Duy Toản, Mộc Quan Nguyễn Trọng Quyền, Đào Châu, Đặng Công Danh (Mười Giản), Lâm Hoài Nghĩa, Nguyễn Quốc Biểu... Là chủ nhân ASIA, ông chủ đạo về tuồng tích của hãng và có mời thêm một số người cộng tác, trong đó có Sáu Hải (Nguyễn Kim Hải). Vậy những bài, bản vọng cổ và những vở cải lương của hãng ASIA, nếu không phải do Ngô Văn Mạnh hoặc cộng sự của ông sáng tác, thì là của ai?
Nay chúng ta có thêm bốn văn bản bài ca được phát hành cùng một lượt với bài Vì tiền lỗi đạo. Vậy câu hỏi tiếp theo là: “Trong năm bài này, bài nào được sáng tác trước, và ai là tác giả của bốn bài còn lại?”
Hình 3. Bài vọng cổ nhịp 8 “Vì tiền lỗi đạo” trong cuốn Vọng cổ Ban Tài Tử 1 in năm 1938.[12] (Nguồn: Gallica)
5. “Bắt đầu” hay “bắt đà”?
Mặc dầu Thiện Mộc Lan đã chứng minh rằng tên của bài ca có lời mở đầu bằng câu “Văng vẳng tiếng chuông chùa” là Vì tiền lỗi đạo, đã được in trên dĩa hát và quảng cáo trên báo chí, nhưng Trần Phước Thuận vẫn khẳng định Năm Nghĩa đã đặt tên bài ca là Văng vẳng tiếng chuông chùa. Ông đem Cao Văn Lầu ra làm chứng: “Chính nhạc sĩ Cao Văn Lầu lúc sinh thời đã xác nhận: ‘Nhạc phẩm căn bản nhịp đôi của tôi đã được chư nhạc sĩ tứ phương lần lần mở lơi ra nhịp 8, bắt đầu bằng lời ca Văng vẳng tiếng chuông chùa của nghệ sĩ Năm Nghĩa’.” Ông cho biết đoạn này được trích trong cuốn Ca nhạc Cổ điển điệu Bạc Liêu của Trịnh Thiên Tư xuất bản năm 1962 và tạp chí Tin Văn số 13 đặc biệt, Kỷ niệm nửa thế kỷ Sân khấu Cải lương, ngày 15-12-1966.
Theo Trần Phước Thuận, Cao Văn Lầu cho rằng bản Vọng cổ nhịp 8 được chư nhạc sĩ tứ phương lần lần mở lơi ra, “bắt đầu” bằng lời ca “Văng vẳng tiếng chuông chùa”. Tuy nhiên, khi tra lại hai tài liệu kể trên, chúng ta thấy Cao Văn Lầu có nói, nhưng ông không nói “bắt đầu” theo nghĩa khởi sự, mà là “bắt đà”, nghĩa là lấy trớn. Chỉ sai một chữ, nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác biệt.
Trong cuốn Ca nhạc Cổ điển điệu Bạc Liêu, ở phần “Lời giới thiệu”, Cao Văn Lầu viết: “Nhạc-phẩm căn-bản nhịp tư, mà chư nhạc-sĩ tứ-phương dần-dần mở lơi ra nhịp 16 (bắt đà lời ca ‘văng vẳng tiếng chuông chùa’ của kịch-sĩ Năm Nghĩa) đến nhịp 32 và 64.” Như vậy, theo lời Cao Văn Lầu, chư nhạc sĩ tứ phương đã theo đà lời ca của Năm Nghĩa mà lần lần mở lơi bản nhạc từ nhịp 4 ra nhịp 16, rồi đến nhịp 32 và 64. Ở đây, Cao Văn Lầu chỉ nói bài Văng vẳng tiếng chuông chùa là cái “đà” để chư nhạc sĩ lần lần mở lơi bản nhạc, ông không nói Năm Nghĩa là tác giả bài ca hoặc là người sáng tác ra Vọng cổ nhịp 8.
Qua đến bài “Vọng cổ: Bản nhạc vua trên sân-khấu ca-kịch” của Trần Tử Văn trên Tin Văn số 13, ngày 15-12-1966, chúng ta thấy vấn đề này được giải thích rõ hơn:
“Nói đến Vọng cổ, người ta không thể quên nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu, cũng như uống nước phải nhớ nguồn. Đành rằng, ngày nay Vọng cổ đã trưởng thành, tiến xa vạn dặm, không còn vướng chất mộc mạc chân tình như thuở mới chào đời, song không ai phủ nhận công đầu của người khai sanh ra nó.
Từ nhịp tư với câu thứ nhứt chỉ có vỏn vẹn 4 chữ đờn “Hò (là) xang xê cống” theo căn bản của nhạc sĩ Sáu Lầu, Vọng cổ phát triển lần lần, nhịp 16, 32, 64... và cho đến nay, Vọng cổ được xem là “Bản Nhạc Vua” trên sân khấu. Thật là khó trả lời, ai là người có công chuyển hóa Vọng cổ trên đường phát triển để bản nhạc nầy chiếm địa vị Vua trên sân khấu và Vua trong cảm quan của đại chúng? Chính nhạc sĩ Sáu Lầu nhận xét rất đúng như vầy:
“Nhạc phẩm căn bản nhịp tư của tôi đã được Chư Nhạc Sĩ Tứ Phương lần lần mở lơi ra nhịp 16 – bắt đà lời ca “Văng vẳng tiếng chuông chùa” của kịch sĩ Năm Nghĩa – đến nhịp 32, 64.”
Thật vậy, việc phát triển Vọng cổ từ mộc mạc đến bản nhạc Vua như ngày nay, là công trình liên tục và tập thể của giới cổ nhạc miền Nam, chớ không phải của một cá nhân nào.” (trang 128).
Trần Tử Văn cũng cho rằng khó xác định ai là người có công chuyển hóa bài Vọng cổ từ nhịp tư của Cao Văn Lầu dần lên tới nhịp 16, 32, 64, và ông kết luận đó là công trình liên tục và tập thể của giới cổ nhạc miền Nam, chớ không phải của một cá nhân nào.[13]
Hình 4. Ca nhạc cổ điển điệu Bạc Liêu (1962) và Tin Văn số 13, ngày 15-12-1966 trích lời Cao Văn Lầu.
Kết luận: Từ giai thoại đến nhận định lịch sử
Qua diễn tiến các bài viết của Trần Phước Thuận, chúng ta có thể thấy những tư liệu được bổ sung về sau chủ yếu làm phong phú thêm câu chuyện đã có. Trong khi đó, hai vấn đề căn bản vẫn chưa được giải đáp bằng những chứng cứ thuyết phục: Tác giả bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa” có phải là Năm Nghĩa không, và nếu phải, chứng cứ nào để xác định bài ca này là bài “Vọng cổ nhịp 8” đầu tiên?
Nhưng đề tài về sự phát triển của bài Vọng cổ không dừng ở đây. Hơn 100 năm từ khi bài Dạ cổ hoài lang nhịp đôi ra đời, qua các lần tăng lên nhịp 4, 8, 16, 32 và 64, nhạc giới vẫn chưa xác định được tác giả và chỉ biết chấp nhận “là công trình liên tục và tập thể của giới cổ nhạc miền Nam, chớ không phải của một cá nhân nào” như Trần Tử Văn tường thuật năm 1966. Tuy nhiên, qua những bài viết của Trần Phước Thuận, ông xác định các tác giả của những lần tăng nhịp đó đều từ... Bạc Liêu!
Trong cuốn Bước đầu tìm hiểu tác giả và tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu (2012), Trần Phước Thuận đã liệt kê Nhạc Khị (Lê Tài Khí) là người đầu tiên ở Bạc Liêu hệ thống hóa và hiệu đính 20 bài bản Tổ. Về tác giả của các lần tăng nhịp của bài Vọng cổ, ông ghi: Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) sáng tác Dạ cổ hoài lang, nhịp đôi; Trịnh Thiên Tư nhịp 4; Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa) nhịp 8; Mộng Vân (Trần Tấn Trung) nhịp 16; Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng) nhịp 32; và Ba Khi (Lý Khi) nhịp 64. Ngoại trừ Cao Văn Lầu, tác giả bài Dạ cổ hoài lang đã được mọi người ghi nhận từ trước, việc Trần Phước Thuận giới thiệu các vị còn lại là tác giả của những lần tăng nhịp đó nghe khá lạ lẫm.
Giai thoại có thể là điểm khởi đầu cho việc tìm hiểu một câu chuyện lịch sử, nhưng để trở thành một nhận định lịch sử, cần có nguồn tư liệu để đối chiếu và kiểm chứng. Nếu ban đầu các ông Trần Thuận và Trần Phước Thuận chỉ ghi chép những giai thoại được lưu truyền, thì việc những lời kể đó ngày nay được tiếp nhận như những sự kiện lịch sử xác thực là điều chúng ta cần xem xét lại. Có lẽ chúng ta cũng nên nhìn lại sự dễ dãi của chính mình khi chấp nhận một điều chưa có đủ chứng cứ rồi truyền đi như một sự thật. Và như vậy, chẳng phải chúng ta đã vô tình có lỗi với tiền nhân, những người đã cùng nhau bồi đắp nên nền cổ nhạc miền Nam này hay sao?
─────────────
Chú thích:
[1] Thiện Mộc Lan, “Đôi điều về bản vọng cổ ‘Văng vẳng tiếng chuông chùa’”, Sân Khấu, số 649, 20-6-2003, tr 30.
[2] Trần Thuận, “Bản Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên ở Nam bộ”, Xưa & Nay, số 61B, tháng 3/1999, Hà Nội, tr 26.
[3] Thiện Mộc Lan, bài đã dẫn.
[4] Thiện Mộc Lan, bài đã dẫn.
[5] Đinh Công Thanh, “Xung quanh về bản Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên ở Nam bộ”, Xưa & Nay, số 154, tháng 12/2003, Hà Nội.
[6] Thiện Mộc Lan, bài đã dẫn.
[7] Trần Phước Thuận:
- “Bài vọng cổ nhịp 8 đầu tiên vừa tìm lại được sau hơn 60 năm vắng bóng”, Hồn Việt số 5, tháng 11/2007.
- “Lư Hòa Nghĩa, người khai sinh ra bản Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên”, Tác giả cổ nhạc Bạc Liêu – cuộc đời và sự nghiệp, Hà Nội, NXB Văn Hóa-Thông Tin, 2007.
- “Lư Hòa Nghĩa”, Bước đầu tìm hiểu tác giả và tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu, Hà Nội, NXB Thanh Niên, 2012.
- “Nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa - người mở đầu kỷ nguyên Vọng cổ”, 2014.
[8] Kiều Tấn, “Tìm hiểu âm nhạc tài tử và cải lương vọng cổ - ghi ta phím lõm”, HCM, NXB Tổng Hợp, 2023, tr 73.
[9] Nam Tinh Tử, “Chúng ta nên nhìn nhận bài ca là một nghệ thuật”, Công Luận Báo số 6858 ngày 15-6-1935, tr 5.
[10] Kiều Tấn, “Bước phát triển và chuyển hóa của bản Vọng Cổ”, namkyluctinh.org. (Nguồn: Tạp chí Nghiên Cứu Âm Nhạc số 58, 2020.)
[11] Đinh Công Thanh, bài đã dẫn.
[12] Asia, “Vọng cổ Ban Tài Tử 1”, Saigon, Phạm Văn Thình, 1938, tr 1. Nguồn: Gallica.
[13] Trần Tử Văn, “Vọng cổ: Bản nhạc vua trên sân-khấu ca-kịch”, Tin Văn số 13, ngày 15-12-1966.



