Thử tưởng tượng ta sống vào đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đặt vững nền đô hộ của họ lên đất nước Việt Nam rồi. Người sáng suốt thức thời nhìn ra bên ngoài thấy văn minh rực rỡ của các nước Âu Mỹ trong khi dân ta thì còn quá nhiều hủ tục cùng thói hư tật xấu trong cuộc sống khiến cho sự phát triển xã hội bị trì trệ. Chữ viết cho cả nước thì là thứ chữ Hán của nước lớn láng giềng dùng cả ngàn năm nay nhưng chỉ cho một thiểu số nhứt định có khả năng tài chánh và thời giờ học tập, hoặc thứ chữ Nôm biến thái từ chữ đó, học rất mất thời giờ, báo chí thì cao siêu quá hay tầm thường quá, không đến tay người dân hoặc là chẳng bổ ích gì cho họ...
Thấy như vậy rồi thì phải giải quyết và giải quyết cách sao cho được việc. Đó là trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh với những công trình trước tác của ông và những tờ báo do ông điều hành, nhứt là tờ Đông Dương Tạp Chí mà ông đã sáng lập và điều khiển suốt thời gian dài.
Tình trạng u tối của đất nước thời nào cũng có. Những yếu kém văn hóa của một dân tộc tùy theo thời mà hiện diện, người bình thường ở thời điểm nào đó chỉ thấy được những khuyết điểm của đất nước mình khi thời gian đã đi qua mà thôi. Nhận chân được nó ở ngay chính thời điểm mình đang sống cần phải có những nhạy cảm đặc biệt hay suy luận sắc bén hơn người. Nhảy vào hiện trướng, bắt tay thực hiện bằng phương tiện gì mình có - hoặc tạo ra phương tiện nếu chung quanh chẳng có gì mình có thể sử dụng được- để xây dựng lại, tu bổ lại những khuyết điểm thì sẽ trở thành người có công với văn hóa và dân tộc.
Nhưng thấy vấn đề đã khó vì chúng ta nằm bên trong nó, dễ dàng coi đó là chuyện bình thường, tạo dựng được cái mới, hay ít ra là cải tổ để đi đến tình trạng khá hơn càng khó thập bội. Xây đấp được cái xứng đáng, có giá trị lại càng khó gấp trăm ngàn lần. Bởi vậy trong lịch sử của một dân tộc, vĩ nhân có mặt không nhiều.
Hàn Thuyên thấy cần phải dùng chữ Nôm để viết văn cách đây 5, 6 thế kỷ. Hồ Quí Ly thấy cần phải dùng tiền giấy và dùng chữ Nôm trên giấy tờ cho triều đình. Trương Vĩnh Ký thấy cần cho phổ cập những tác phẩm Việt đến tận tay người Việt, Huình Tịnh Của thấy cần có một tự điển đồ sộ, đầy đủ cho người Việt được giải thích bằng tiếng Việt, Cao Văn Lầu thấy cần phải thay đổi bản đờn xưa thành bài ca vọng cổ, Hồ Biểu Chánh thấy cần phải cho số đông dân chúng thấy được thế thái nhân tình, Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm thấy cần phải đổi thơ cũ sang thơ mới, Thanh Tâm Tuyền thấy phải cổ động và viết thơ tự do, nhóm Sáng Tạo thấy phải viết văn sáng sủa trong khi bấu chặt lấy đời sống đương thời. Những vị tạo nên âm nhạc cải cách, những người tạo nên tuồng cải lương… cũng thế mà thôi. Những người nầy thấy điều cần phải làm, phải cải tổ, phải tạo cái mới. Họ đã làm gì đó để thực hiện được điều họ đã viễn kiến. Thời thế thuận lợi thúc đẩy cho công trình của họ được dùng lâu dài hay thời thế đi ngược lại khiến công lao của họ đổ sông đổ biển không thực hiện được, đó là chuyện khác...
Thấy vấn đề làm cho ngu dân và trì trệ đất nước, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện viết những biểu điều trần về cải cách, nhưng thời thế chẳng chìu lòng các ông. Những thí dụ về trường hợp nầy không thiếu, chẳng những ở văn hóa mà thôi, trong bất cứ lãnh vực nào cũng có: quân sự, chiến lược, chánh trị, âm nhạc, giáo dục... Sự thất bại tạo nên những anh hùng vô danh lót đường cho người đi sau, vô danh không để lại tên tuổi mình trong lịch sử, nhưng tạo một chút trơn tru cho con đường con đường vốn dĩ chông gai để những thế hệ sau tấn tới dễ dàng hơn
...
(đọc tiếp)